Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão,
đưa tới một sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia và đưa
xã hội loài người bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nền văn
minh trí tuệ. Trong bối cảnh ấy xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá là
đòi hỏi tất yếu đối với tất cả mọi quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng
không thể là một ngoại lệ. Hoà vào xu hướng hội nhập ấy, để có thể tiến
nhanh, tiến kịp thời đại thì Việt Nam cần phải phát huy những lợi thế vốn
có của mình. Là một quốc gia có dân số khoảng trên 80 triệu, thu nhập
bình quân đầu người thấp thì lợi thế lớn nhất đối với Việt Nam là có một
lực lượng lao động dồi dào với giá nhân công rẻ. Bởi vậy, phát triển công
nghiệp dệt may trong giai đoạn đầu của qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Ngoài việc
sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân, tạo công ăn việc làm cho
hàng triệu người lao động trong xã hội, xuất khẩu hàng dệt may còn góp
phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia. Hàng dệt may hiện đang
đứng thứ hai trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, sau dầu thô.
Trong năm 2003, hàng dệt may xuất khẩu tăng 30,8%, kim ngạch tăng
khoảng 850 triệu USD đưa hàng dệt may trở thành một trong số những mặt
hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất của Việt Nam. Trước mắt việc xuất khẩu
hàng dệt may vào thị trường Mỹ còn gặp nhiều khó khăn như chất lượng
hàng hoá chưa ổn định cộng với việc chưa am hiểu luật pháp kinh doanh
cũng như phong tục, tập quán của thị trường Mỹ của các doanh nghiệp
Việt Nam nhưng trở ngại lớn nhất vẫn là việc hàng dệt may của Việt Nam
chưa được hưởng quy chế tối huệ quốc của Mỹ. Nhưng dù sao hiệp định
thương mại Việt-Mỹ được ký kết vào tháng 7/2000 là một cơ hội mới, to
lớn cho ngành dệt may nước ta vì đây là một thị trường nhập khẩu hàng dệt
may lớn nhất thế giới. Do vậy, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt
Mục lục
Lời nói đầu
Chương I: Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam .
Chương II: Tổng quan về thị trường dệt may Mỹ.
Chương III: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường Mỹ.
Chương IV: Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
vào thị trường Mỹ.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Đề tài NCKH 2 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
Do còn có những hạn chế trong việc cập nhật thông tin cùng với
những hạn chế kiến thức của bản thân, nên trong đề tài không thể tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện.
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Th.S Nguyễn Anh
Tuấn cùng các thầy cô ở khoa Thương Mại Trường Đại Học Kinh Tế
Quốc Dân đã giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài đúng thời hạn.
Nhóm thực hiện
Đề tài NCKH 3 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA
VIỆT NAM
I. Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng hoá .
I.Khái niệm chung về xuất khẩu hàng hoá
Thông qua hoạt động xuất khẩu, cácb quốc gia tham gia vào phân công
lao động quốc tế.Các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất và sản xuất những
hàng hoá và dịch vụ mà mình không có lợi thế. Xét trên tổng thể nền kinh
tế thế giới thì chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sẽ làm cho việc sử
dụng các nguôn lực có hiệu quả hơn và tổng sản phẩm xã hội toàn thế giới
tăng lên. Bên cạnh đó xuất khẩu góp phần thắt chặt thêm quan hệ quốc tế
giữa các quốc gia.
2.2. Đối với nền kinh tế quốc dân
•Xuất khẩu tạo nguồn vốn quan trọng, chủ yếu để quốc gia thoả mãn nhu
cầu nhập khẩu và tĩch luỹ để phát triển sản xuất
Mỗi quốc gia muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế lại rất cần những
tư liệu sản xuất để phục vụ cho công cuộc CNH- HĐH. Để có những tư
liệu sản xuất đó, họ phải nhập khẩu từ nước ngoài và để bù đắp nguồn vốn
bị thiếu hụt họ sẽ lấy từ xuất khẩu.
Ở các nước kém phát triển vật ngăn cản chính đối với nền kinh tế là
thiếu tiềm lực về vốn trong quá trình phát triển. Nguồn vốn huy động từ
nước ngoài được coi là cở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ
nước ngoài thấy được khả năng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây là nguồn
chính để đảm bảo nước này có thể trả nợ.
• Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như một yếu tố quan trọng kích thích
sự tăng trưởng kinh tế
Việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất,
nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu, gây phản ứng dây
chuyền giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển theo, dẫn đến kết quả
tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh.
•Xuất khẩu có ích lợi kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp
sản xuất
Để có thể đáp ứng được nhu cầu cao của thế giới về qui cách phẩm
chất sản phẩm thì một sản phẩm sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công
nghệ, mặt khác người lao động phải năng cao tay nghề, học hỏi những kinh
hình thức ban đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối
quan hệ khác như du lịch quốc tế, bảo hiểm, vận tải quốc tế, tín dụng quốc
tế…phát triển theo. Ngược lại sự phát triển của các ngành này lại là những
điều kiện tiền đề cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
2.3. Đối với doanh nghiệp
Ngày nay xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng
chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Việc xuất khẩu hàng
hoá dịch vụ đem lại lợi ích sau:
Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia
vào cuốc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Những
yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ câu sản xuất phù
hợp với thị trường.
Đề tài NCKH 6 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ
giá thành.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở
rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ
sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và
chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt trong hoạt động kinh doanh, tăng cường
uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của
doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đâu tư, nghiên cứu và phát triển
các hoạt động sản xuất, marketing…,cũng như sự phân phối và mở rộng
trong việc cấp giấy phép.
3.Nhiệm vụ của xuất khẩu
Xuất phát từ mục tiêu chung của xuất khẩu là xuất khẩu để nhập khẩu
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Nhu cầu của nền kinh tế đa dạng:phục vụ
cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cho tiêu dùng, cho xuất khẩu và tạo
Đây là một quá trình đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí.
4.1.3.Lựa chọn bạn hàng
Lựa chọn bạn hàng căn cứ khả năng tài chính, khả năng thanh toán của
bạn hàng và căn cứ vào phương thức và phương tiện thanh toán. Việc lựa
chọn bạn hàng luôn theo nguyên tăc đôi bên cùng có lợi. Thông thường khi
lựa chọn bạn hàng, các doanh nghiệp thường trước hết lưu tâm đến những
mối quan hệ cũ của mình. Sau đó những bạn hàng của các doanh nghiệp
khác trong nước đã quan hệ cũng là một căn cứ để xem xét lựa chọn ở các
nước đang phát triển. Các bạn hàng thường phân theo khu vực thị trường
mà tuỳ thuộc vào sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn để buôn bán quốc tế
mà các quốc gia ưu tiên.
4.1.4.Lựa chọn phương thức giao dịch
Phương thức là những cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để thực
hiện các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường thế
giới. Hiện nay có rất nhiều phương thức giao dịch khác nhau như: giao
dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch thông qua hội chợ
hay triển lãm. Tuỳ vào khả năng của mỗi doanh nghiệp mà lựa chọn
phương thức giao dịch sao cho đảm bảo các mục tiêu của sản xuất kinh
doanh.
4.2.Đàm phán và ký kết hợp đồng
Đây là một khâu quan trọng trong kinh doanh xuất khẩu, vì nó quyết
định đến tính khả thi hay không khả thi của kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp. Kết quả của đàm phán sẽ là hợp đồng được ký kết. Đàm
phán có thể thông qua thư tín, điện tín và trực tiếp. Tiếp theo công việc
đàm phán, các bên tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, trong đó qui định
ngươi bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua, con
người mua có nghĩa vụ trả cho người bán một khoản tiền ngang giá trị theo
các phương tiện thanh toán quốc tế.
Đề tài NCKH 8 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
kiện cơ sở giao hàng trong hợp đồng.
Cơ sở pháp lý điếu tiết mối quan hệ giữa các bên uỷ thác thuê tàu với
bên nhận uỷ thác là hợp đồng uỷ thác thuê tàu. Có hai loại hợp đồng uỷ
thác thuê tàu: Hợp đồng uỷ thác thuê tàu cả năm và hợp đồng thuê tàu
chuyến. Nhà xuất khẩu căn cứ vào đặc điểm của hàng hoá để lựa chọn hợp
đồng thuê tàu cho thích hợp.
Đề tài NCKH 9 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
*Mua bảo hiểm hàng hoá
Hàng hoá trong buôn bán quốc tế thường xuyên được chuyên chở bằng
đường biển, điều này thường gặp rất nhiều rủi ro, do đó cần phải mua bảo
hiểm cho hàng hoá. Công việc cần phải thực hiện thông qua hợp đồng bảo
hiểm. Có hai loại hợp đồng bảo hiểm :Hợp đồng bảo hiểm bao và hợp
đồng bảo hiểm chuyến.khi mua bảo hiểm cần lưu ý những điều kiện bảo
hiểm và lựa chọn công ty bảo hiểm.
*Làm thủ tục hải quan
Hàng hoá khi vườt qua biên giới quốc gia để xuất khẩu đều phải làm
thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm ba bước chủ yếu sau:
-Khai báo hải quan: Doanh nghiệp khai báo tất cả các đặc điểm hàng hoá
về số lượng, chất lượng, giá trị, tên phương tiện vận chuyển, nước nhập
khẩu. Các chứng từ cần thiết, phải xuất trình kèm theo là: Giây phép xuất
khẩu, phiếu đóng gói, bảng kê chi tiết….
- Xuất trình hàng hoá
- Thực hiện các quyết định của hải quan
*Giao hàng lên tàu
Trong bước này doanh nghiệp cần tiến hành các công việc sau:
- Lập bản đăng ký hàng chuyên chở.
- Xuất trình bản đăng ký cho người vận tải để lấy hồ sơ xếp hàng.
- Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng
- Bố trí phương tiện vận tải đưa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu
5.1.Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất
khẩu, hơn nữa các yếu tố này rất rộng nên các doanh nghiệp có thể lựa
chọn và phân tích các yếu tố thiết thực nhất để đưa ra các biện pháp tác
động cụ thể
5.1.1.Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một
số đơn vị tiền tệ của nước kia. Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái
là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp đưa ra quyết định liên quan đến
hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói
riêng.
Để nhận biết được sự tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt
động của nền kinh tế nói chung, hoạt động xuất khẩu nói riêng các nhà
kinh tế thường phân biệt tỷ giá hối đoái danh nghĩa (TGDN) và tỷ giá hối
đoái thực tế (TGTT)
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (tỷ giá chính thức) là tỷ giá được nêu trên
các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, đài phát thanh, tivi…Do
ngân hang Nhà nước công bố hàng ngày.
Tuy nhiên tỷ hối đoái chính thức không phải là một yếu tố duy nhất
ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nước về
các mặt hàng. Vấn đề đối với các nhà xuất khẩu và những doanh nghiệp có
Đề tài NCKH 11 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
hàng hoá cạnh tranh với các nhà nhập khẩu là có được hay không một tỷ
giá chính thức, được điều chỉnh theo lạm phát trong nước và lạm phát xảy
ra tại các nền kinh tế của các bạn hàng của họ.Một tý giá hối đoái chính
thức được điều chỉnh theo các quá trình lạm phát có liên quan gọi là tỷ giá
hối đoái thực tế.
Nếu tỷ giá hối đoái thực tế thấp hơn so với nước xuất khẩu và cao hơn
so với nước nhập khẩu thì lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giá
Được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó được
hiểu như qui định của Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay
của một nhóm hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định
thông qua việc cấp giấy phép. Sở dĩ có công cụ này vì không phải lúc nào
Nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi khi về quyền lợi quốc gia
phải kiểm soát một vài mặt hàng hay nhóm hàng như sản phẩm đặc biệt,
nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu…
*Trợ cấp xuất khẩu
Trong một số trường hợp chính phủ phải thực hiện chính sách trợ cấp
xuất khẩu để tăng mức độ xuất khẩu hàng hoá của nước mình, tạo điều
kiện cho sản phẩm có sức cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới. Trợ
cấp xuất khẩu sẽ làm tăng giá nội địa của hàng xuất khẩu, giảm tiêu dùng
trong nước nhưng tăng sản lượng và mức xuất khẩu.
5.2.Các yếu tố xã hội
Hoạt động của con người luôn luôn tồn tại trong một điều kiện xã hội
nhất định. Chính vì vậy, các yếu tố xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
của con người. Các yếu tố xã hội là tương đối rộng, do vậy để làm sáng tỏ
ảnh hưởng của yếu tố này có thể nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố văn
hoá, đặc biệt là trong ký kết hợp đồng.
Nên văn hoá tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định các
thức tiêu dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thoả mãn và
cách thoả mãn của con người sống trong đó. Chính vì vậy văn hoá là yếu tố
chi phối lối sống nên các nhà xuất khẩu luôn luôn phải qua tâm tìm hiểu
yếu tố văn hoá ở các thị trường mà mình tiên hành hoạt động xuất khẩu.
5.3.Các yếu tố chính trị pháp luật
yếu tố chính trị là nhân tố khuyến khích hoạc hạn chế quá trình quốc
tế hoá hoạt động kinh doanh. Chính sách của chính phủ có thể làm tăng sự
liên kết các thị trường và thúc đây tốc độ tăng trưởng hoạt động xuất khẩu
bằng việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, thiết lập các mối
quan hệ trong cơ sở hạ tầng của thị trường. Khi không ổn định về chính trị
thiệp của Nhà nước.
5.4. Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ
- Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải,
tới thới gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh
hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng xuất
khẩu…
- Vị trí của các nước cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, thị
trường tiêu thụ ví dụ: Việc mua bán hàng hoá với các nước có cảng biển có
chi phí thấp hơn so với các nước không có cảng biển.
- Thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể bị kéo dài do bị thiên
tai như bão, động đất…
- Sự phát triển của khoa hóc công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
cho phép các nhà kinh doanh nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng
thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hoá
Đề tài NCKH 14 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
xuất khẩu, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Đồng
thời yếu tố công nghệ còn tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế
biến hàng xuất khẩu, các lĩnh vực khác có liên quan như vận tải, ngân
hàng…
5.5.Yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu
Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp
đến xuất khẩu, chẳng hạn như:
- Hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển: Mức độ trang bị,
hệ thống xếp dỡ, kho tàng…hệ thống cảng biển nếu hiện đại sẽ giảm bớt
thời gian bốc dỡ, thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng
hoá xuất khẩu.
- Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép
các nhà kinh doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán, huy động
vốn. Ngoài ra ngân hàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh
khả năng đáp ứng được nhu cầu trong nước và cả nhu cầu của nước ngoài.
5.8. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp .
5.8.1.Ti ềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông
qua khối lượng ( nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh
doanh, khả năng phân phối ( đầu tư ) có hiệu quả các nguồn vốn. Khả năng
quản lý có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh cuả doanh nghiệp thể
hiện qua các chỉ tiêu:
- Vốn chủ sở hữu
- Vốn huy động
- Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
- Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn
- Các tỷ lệ về khả năng sinh lợi
5.8.2. Tiềm năng con người
. Trong kinh doanh đặc biệt trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu
để đảm bảo thành công. Chính con người với năng lực thật của họ mới lựa
chọn đúng được cơ hội và sử dụng sức mạnh khác mà họ đã và sẽ có:vốn ,
tài sản, kỹ thuật, công nghệ …Một cách có hiệu quả để khai thác và vượt
qua cơ hội.
5.8.3. Tiềm lực vô hình ( Tài sản vô hình ):
Tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động
thương mại. Tiềm lực vô hình không phải tự nhiên mà có, tuy có thể hình
thành mỗt cách tự nhiên nhưng nhìn chung tiềm lực vô hình cần được tạo
dựng một cách có ý thức thông qua các mục tiêu và chiến lược xây dựng
tiềm lực vô hình cho doanh nghiệp và cần chú ý đến khía cạnh này trong
tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Tiềm lực của doanh nghiệp có thể
là:
- Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
- Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá
bị, nâng cấp chất lượng và hạ giá thành sản phẩm…Nhưng một mặt nó dễ
dàng đẩy lùi các doanh nghiệp không có khả năng phản ứng hoặc chậm
phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Các yếu tố cạnh
tranh được thể hiện qua mô hình sau:
Mô hình: Sức mạnh của Michael Porter
Đề tài NCKH 17 Trường Đại Học KTQD
Đối thủ mới
tiềm năng
Nhà cung
cấp
Các mặt hàng và
các dịch vụ thay thế
Người
mua
Cạnh tranh giữa các
công ty hiện tại
Sự đe doạ của các
đối thủ cạnh tranh
Khả năng
mặc cả của
người mua
Khả năng
mặc cả
của nhà
cung cấp
Sự đe doạ của
các hàng hoá
thay thế
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
vị trí độc tôn trên thị trường mà thường bị chính các doanh nghiệp sản
xuất và cung cấp các loại sản phẩm tương tự cạnh tranh gay gắt. Các
doanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp của quốc gia nước sở tại,
quốc gia chủ nhà hoặc một nước thứ ba cùng tham gia xuất khẩu mặt
hàng đó. Trong một số trường hợp các doanh nghiệp sở tại này lại được
chính phủ bảo hộ do đó doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh được với
họ.
Đề tài NCKH 19 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
II. Khái quát chung về xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.
1.Vị trí của ngành Dệt-May Việt Nam trong chiến lược tăng trưởng
hướng về xuất khẩu
Nghị quyết của Đảng đã chỉ ra hướng phát triển của Việt Nam đó là
tăng trưởng hướng về xuất khẩu. Thực tế cho thấy con đường phát triển
nhanh, bền vững không phải qua việc chuyên môn hoá ngày càng sâu để
sản xuất những sản phẩm sơ chế, mà là thông qua việc mở rộng các ngành
sản xuất, chế tạo hướng về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu bằng những sản
phẩm trong nước sản xuất hiệu quả hơn để khai thác tốt lợi thế so sánh về
nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn kỹ thuật, công nghệ, thị
trường cho sự phát triển.
Cơ sở lý luận của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu bắt nguồn từ
nguyên lý tổng cầu là yếu tố quyết định mức sản xuất. Tư tưởng cơ bản của
chiến lược tăng trưởng hướng về xuất khẩu là nhằm phát huy lợi thế so
sánh và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế , mở rộng phân công lao động
quốc tế. Lý luận về tổng cầu hiệu quả đã mở ra cách lập luận mới về nền
kinh tế mở, lấy nhu cầu của thị trường thế giới làm mục tiêu cho nền sản
xuất trong nước. Tình hình đó đòi hỏi mỗi quốc gia phải có phương thức
phù hợp, có cách đi hợp lý, cải tạo và thay đổi chính nền kinh tế nước mình
sao cho thích ứng với đòi hỏi của thị trường thế giới.Thực chất của chiến
lược kinh tế hướng về xuất khẩu là đặt nền kinh tế quốc gia và mỗi ngành
châu á , suy thoái kinh tế kéo dài ở Nhật và sự kiện ngày 11/9 đã làm cho
tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chậm lại song tốc độ tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vẫn không ngừng tăng lên. Từ
một ngành không có tên tuổi trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam trong những năm đầu thập niên 90, thậm chí có dấu hiệu
suy sụp vào những năm 1992, đến năm 1995 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may mà chủ yếu là may sẵn đã đứng thứ hai trong danh sách 10 mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và dự kiến năm 2004 sẽ tăng 4250 triệu
USD tức là so với năm 2003 tăng 18,1% . Điều đó chứng tỏ sự lớn mạnh
vượt bậc của ngành công nghiệp Dệt-May Việt Nam, đồng thời khẳng định
tính đúng đắn trong việc mạnh dạn xây dựng ngành dệt may thành một
ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
2. Cơ cấu các mặt hàng trong xuất khẩu.
Tuy hiện nay sản phẩm dệt , may đã đa dạng và phong phú song hầu
hết các sản phẩm hướng vào các thị trường mới chỉ là những sản phẩm đơn
giản như khăn bông, găng tay...Sợi bông cao cấp, có chải kỹ cho mặt hàng
sơ mi và cho sản phẩm dệt kim mặt ngoài có xử lý hoàn tất cao cấp chưa
nhiều sợi OE nhằm giảm giá nguyên liệu đầu vào phục vụ hàng dệt kim.
Hàng khăn bông xuất khẩu có thị trường rất lớn thì tỷ trọng còn quá bé.
Các mặt hàng quần áo dệt kim thể thao hoặc vải Jean thun từ nguyên liệu
đàn tính cao (sợi lycra, spandex) còn rất ít.Các mặt hàng Jacket mật độ
cao, sử dụng sợi kéo từ microfiber chưa có. Các nguyên liệu tổng hợp biến
tính Acrylic pha len để sản xuất các mặt hàng Complet chưa có.
Đề tài NCKH 21 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
Đặc biệt về khâu thiết kế mẫu sản phẩm của ta còn rất yếu do chưa
được coi trọng về đầu tư cơ sở mode, thông tin và tiếp cận thị trường. Hầu
hết việc thiết kế đều do Viện mẫu thời trang Việt Nam đảm nhận song việc
nghiên cứu lại thực sự bị hạn chế do chưa xây dựng được đội ngũ nghiên
cứu thiết kế, sản xuất thử mặt hàng từ các cơ sở sản xuất kinh doanh đến
hàng dệt may sang EU. Năm 2000 Việt Nam đã xuất khẩu sang EU 18
Đề tài NCKH 22 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
triệu chiếc, đạt trị giá khoảng 360 triệu USD, tăng gấp 3 lần mức xuất khẩu
năm 1993.
Biểu đồ 1 - Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào EU
giai đoạn 1994-2002
(đơn vị: triệu USD)
298
350
420
450
602
620
700
745
720
0
100
200
300
400
500
600
700
800
1994 1996 1998 2000 2002
Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt may sang EU vẫn còn rất nhiều khó khăn
như:
Đài Loan, Hàn Quốc...do nguyên liệu, phụ liệu sản xuất trong nước còn
yếu kém, chưa có mẫu mã phù hợp thị hiếu và do chưa có bạn hàng trên thị
trường mua bán trực tiếp ở các nước EU, vì thế đã dẫn đến tình trạng phụ
thuộc vào các bạn hàng trung gian đồng thời lại không tận dụng được
những ưu đãi quota mà các nước EU dành cho ta. Do vậy, vấn đề đặt ra là
làm sao chúng ta có thể tiếp cận và bán trực tiếp các sản phẩm của mình
trực tiếp cho các khách hàng EU.
3.2 .Thị trường phi hạn ngạch
Thị trường Nhật Bản
Thị trường xuất khẩu hàng dệt may không hạn ngạch của Việt Nam lớn
nhất là Nhật Bản. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này tăng nhanh qua
các năm. Năm 1995 lần đầu tiên Việt Nam lọt vào danh sách 10 nước xuất
khẩu hàng dệt may lớn nhất vào Nhật Bản, đến năm 1997 đã vượt lên vị trí
thứ 7. Trong khi xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật của hầu hết các nước
năm 1997 giảm mạnh thì xuất khẩu của Việt Nam tăng cả về kim ngạch lẫn
thị phần.
Hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản không
chỉ tăng nhanh về kim ngạch mà còn đa dạng về chủng loại và tăng mạnh
về khối lượng. Các loại áo khoác gió nam, quần áo cho người lái xe tải, áo
sơ mi, quần âu... là những mặt hàng chủ yếu của Việt Nam xuất sang thị
trường Nhật Bản.
Hàng dệt may Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản được hưởng
thuế ưu đãi theo hệ thống GSP của Nhật Bản. Đây là thuận lợi lớn cho
ngành may xuất khẩu của Việt Nam.
Đề tài NCKH 24 Trường Đại Học KTQD
Thực trạng và giải pháp thúc đẩu XK hàng dệt may VN sang thị trường Mỹ
Tuy nhiên, hàng dệt may xuất khẩu sang Nhật Bản phải cạnh tranh
quyết liệt với hàng dệt của nhiều nước, đặc biệt là Trung Quốc và các nước
ASEAN khác. Năm 1998 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính-tiền tệ
khu vực, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật bị giảm mạnh, trên