Rau lủi trị viêm họng, viêm
khí quản mạn
(SKDS) - Rau lủi còn có tên gọi khác là kim thất thuộc loại bò trườn có chiều dài
trên 1m, thân nhẵn với nhiều cành. Lá mọc so le, cuống ngắn, đầu lá nhọn, mép
khía răng cưa không đều, lá dày, nhẵn mọng nước và có mùi thơm đặc trưng như
mùi thuốc Bắc. Rau lủi thường mọc hoang hoặc được trồng làm rau ăn và làm
thuốc. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây còn tươi hay phơi, sấy khô.
Theo Đông y, rau lủi có vị cay ngọt thơm, tính bình, tác dụng thanh nhi
ệt giải độc,
lợi tiểu, tiêu viêm, tán ứ tiêu thũng, chỉ khái. Được sử dụng trị viêm họng, viêm khí
quản mạn, phong tê thấp khớp, xương đau nhức, chấn thương sưng đau, ho gió, ho
gà, ho lao, ngã thương, sưng vú, nhọt độc, ngứa loét, bong gân, loét dạ dày, táo
bón, viêm đại tràng, điều hoà máu huyết, an thần, giảm đau, trị nhức đầu, chóng
mặt, nhức đầu, cầm máu tốt, điều hoà huyết áp,
điều hoà kinh nguyệt, giải độc…
Một số bài thuốc có rau lủi
- Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Nhai nuốt mỗi lần 7 - 9 lá rau lủi, ngày 2 lần
sáng, chiều có tác dụng điều hoà lượng đường trong máu rất rõ rệt. Không gây
phản ứng phụ. Có thể kết hợp với các vị thuốc trị đái tháo đường khác.
- Trị viêm họng, ho gió, ho khan hoặc có đờm: Nhai vài lá rau lủi, ngậm nước nuốt
dần.
- Trị viêm phế quản mạn: Nấu canh rau l
ủi với thịt lợn nạc hoặc tôm tươi ăn với
cơm trong nhiều ngày.
- Chữa vết thương chảy máu: Dùng rau lủi rửa sạch đắp, buộc rịt vào vết thương
giúp cầm máu và bớt viêm sưng, đau nhức.
- Chữa va đập bầm tím: Giã nát một nắm rau lủi và vài hạt hồ tiêu rồi đắp vào vết
thương, sau 3 giờ lại đắp tiếp miếng khác. Dùng trong 3 ngày.
- Trị đ
ái dắt, đái buốt: Sắc rau lủi chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10 - 15 ngày.