Năng lượng tái tạo thay vì
Điện hạt nhân
GS TS Nguyễn Khắc Nhẫn , Kiều bào Pháp
“Điện hạt nhân không kinh tế mà còn nguy hiểm cho đất nước”, như tôi đã
có dịp giải thích trên Thời báo kinh tế Saigon số ra ngày 27-5-2004. Nay tôi
xin trình bày tiếp những lý do tại sao nước ta nên phát triển mạnh Năng
lượng tái tạo .
Vài khái niệm cần biết
Năng lượng có 4 nguồn gốc chính : mặt trời ( quan trọng nhất ), hạt nhân,
địa nhiệt và thuỷ triều. Sau hàng trăm triệu năm, nhờ mặt trời, năng lượng
đã tập trung ở nhiều mỏ : than, dầu và khí. Các nguồn năng lượng hoá thạch
này được tích trữ (stock), sẽ dần dần khô cạn, với tốc độ ngày càng nhanh,
vì nhiều nước giàu mạnh đã sử dụng một cách phung phí và vô trách
nhiệm. Dầu thương mãi còn khoảng 40-50 năm, khí 60-70 năm, than trên
một hai thế kỉ. Thời gian ấy có thể dài hơn, nếu có tiền khai thác các loại
nhiên liệu hiện nay chưa kinh tế, như cát chứa asphan hay đá dầu, với tiềm
năng rất lớn.
Nếu ta vẽ những đường biểu diễn các dạng năng lượng, kế tiếp nhau từ thế
kỉ 16 đến nay, mỗi thứ nhiên liệu có một “ thời kì oanh liẹt “, kéo dài hàng
chục năm : củi , than, thủy điện, dầu, khí rồi hạt nhân. Nhà nghiên cứu
C.Marchetti của Viện IIASA ( International Institute for Applied System
Analysis, Vienne (Áo), hình như đã có ý muốn tìm xem Điện hạt nhân có
biến chuyển như chu trình kinh tế dài hạn Kondratiev, lên xuống theo từng
đợt 40-50 năm không? Theo tôi ,“thời kì oai hùng “ của Điện hạt nhân, từ
1954 (Nautilus) đến 1986 (Tchernobyl), đã qua rồi và khó trở lại được nữa
!
Năng lượng tái tạo ( mặt trời, thuỷ điện, gió, sinh khối ) cũng do mặt trời,
là nguồn thông lượng (flow) Từ thời thượng cổ, tổ tiên chúng ta đã khai
thác các dạng năng lượng này một cách thông minh với nhiều sáng kiến
đáng kính phục. Dùng danh từ “năng lượng mới” là không đúng, có mới
chăng là các phương pháp mà thôi. Năng lượng tái tạo hiện nay chưa kinh
mỗi năm, từ 80 triệu thùng dầu / 1 ngày hiện nay đến 120 triệu thùng / 1
ngày năm 2020 ! Trong tương lai, trong tầm địa lý chính trị thế giới có thể
là vùng biển Caspian, giàu dầu và khí, và tên những nước Azerbaidjan,
Kazakhstan ( thứ ba về trữ lượng dầu mỏ ) và Turkmenistan ( thứ năm về
trữ lượng khí ) khó đọc, dần dần sẽ quen thuộc như I ran, I rac.
Vai trò của Năng lượng tái tạo và chiến lược dài hạn
Tất cả những ngồn năng lượng đều cần thiết, nhưng phải nhìn nhận rằng chỉ
có Năng lượng tái tạo mới đủ điều kiện giúp nhân loại giải quyết lâu bền
những vấn đề trọng yếu sau đây :
- Chống hiệu ứng nhà kính ( thay đổi khí hậu ).
- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội ( đem lại nhiều công ăn việc làm ).
- Dành dụm các nguồn hóa thạch.
- Tránh những tai biến quan trong, những cơn khủng hoảng địa lí về dầu,
khí, hạt nhân có thể gây ra chiến tranh.
- Hạ mức sản xuất chất thải phóng xạ và sự lan rộng vũ khí nguyên tử.
- Làm giảm sự mất thăng bằng Nam Bắc.
Vì năng lượng cũng như môi trường, đòi hỏi rất nhiều tiền và thời gian, là
một vấn đề mênh mông, ảnh hưởng cả vũ trụ, chứ không riêng gì cho một
vài vùng hay khu vực; chiến lược dài hạn của mỗi nước cần có hướng nhìn
sâu rộng, sao cho phù hợp với quyền lợi chung và di sản của nhân loại. Có
3 nguyên tắc chính phải được phổ biến rộng rãi và áp dụng chặt chẽ :
- Tiêu thụ chừng mực : ưu tiên dành cho nhu cầu thiết thực. Đặc biệt quan
tâm đến những mô hình cầu thay vì cung.
- Gia tăng hiệu suất và tiết kiệm năng lượng : chọn lọc máy móc và phương
pháp có hiệu suất cao ( dùng đèn huỳnh quang tiêu thụ 5 lần ít hơn đèn
thường ) .
- Bảo vệ môi trường và các thế hệ sau.
Nên tránh sự tập trung các nguồn Năng lượng tái tạo
Các nguồn Năng lượng tái tạo tràn ngập trên vũ trụ và được rải khắp nơi
cho mọi người. Đó là một đặc tính thiên nhiên hết sức quan trọng mà ta
dụng cụ, tránh nhập cảng và lệ thuộc các nước giàu mạnh. Đó là điều mà
các cường quốc không vỗ tay ủng hộ!
Tại sao Năng lượng tái tạo chậm cất cánh
Bây giờ chúng ta thử xét một cách khách quan vài con số, để hiểu biết hiện
trạng và để có một ý niệm rõ ràng hơn về tương lai của ngành Năng lượng
tái tạo.
Hiện nay Năng lượng tái tạo chiếm khoảng 13,6% của tổng nhu cầu năng
lương sơ cấp toàn cầu ( trong đó 6,6% là do thuỷ điện – bằng điện hạt nhân
– 6,4% là nhiên liệu cổ truyền ( tương đương với 25% năng lượng của các
nước đang phát triển, gồm có : củi, than củi, rác ). Các dạng năng lượng
khác như mặt trời, gió, địa nhiệt, sinh khối, chiếm một tỉ lệ không đáng kể
0,6% ( đến 1% là tối đa !) Trên thực tế, những con số này không đúng lắm
vì một phần Năng lượng tái tạo và nhất là nhiên liệu cổ truyền thường
không nằm trong thống kê thương mại của thị trường.
Vì nghành công nghiệp than, dầu, khí, Điện hạt nhân, quá giàu mà lại còn
được sự giúp đỡ về tài chánh của ngân quỹ các quốc gia để nghiên cứu và
phát triển, nên Năng lượng tái tạo chưa có phương tiện cất cánh mạnh, trừ
những năm gần đây. Từ ngày Hội nghị Năng lượng thế giới New-Delhi
(1983), lần đầu tiên đề cao vai trò của Năng lượng tái tạo, đến nay đã trên
20 năm trời, mà tỉ lệ nhỏ bé trên vẫn còn bị các cường quốc tiếp tục đè bẹp!
Với Năng lượng tái tạo, các nước nghèo không tốn nhiên liệu, không lệ
thuộc khoa học kĩ thuật tối tân, không gặp các cơn khủng hoảng, thì làm
sao các công ty quốc tế lớn có cơ hội thu lợi nhuận ? Một trong những
nguyên nhân chính của sự chậm trễ ngành Năng lượng tái tạo là vì các công
ty này không muốn có sự cạnh tranh!
Ta nên đặt câu hỏi tại sao ở Wall Street, giá cổ phần dầu mỏ, từ một năm
nay đã tăng nhanh hơn 4 lần chỉ số Dow Jones ( 32% thay vì 8% ). Thị
trường chứng khoán Paris cũng thấy giá cổ phần dầu mỏ tăng gấp đôi chỉ số
CAC 40. Từ cuối 1973 đến nay, giá thùng dầu xem như làm chủ thị trường
quốc tế, lên xuống tùy tình hình địa chính trị và mức tiêu thụ của các cường
trời ( dùng bơm quang điện ). Israel, tiểu bang California và một số nước
miền nam Châu Âu cũng đã có kinh nghiệm về phương pháp này.
Từ lâu, Trung Quốc là nước đã phát triển mạnh nhất chương trình thuỷ điện
nhỏ. Cách dây 10 năm đã thiết lập gần 50.000 nhà máy này mà 85% là do
các làng trực tiếp quản ly. Trên 90 triệu dân có điện cũng nhờ năng lượng
này. Năm 1993, Trung Quốc đã chiếm 50% tỉ lệ thuỷ điện nhỏ thế giới ( 80
tỉ kWh/năm ).
Về năng lương địa nhiệt, cần phân biệt hai loại :
- Với nhiệt độ thấp, ( 50 – 100°C ) đặc biệt để sưởi nhà. Năm 1995 công
suất toàn cầu là 4000 MW, trong đó phần Pháp là 270 MW, dùng để sưởi
200.000 căn nhà .
- Với nhiệt độ cao, ( 170 - 200°C ) có thể làm nhà máy sản suất điện như ở
Larderello (Ý) hay ở California.
Những nước và vùng sau đây cũng đã có nhiều kinh nghiệm về năng lượng
địa nhiệt : Ireland, tiểu bang California, New Zealand (30%) đồng phát hơi
và điện, Ý, Philippines, Indonesia. Ở các nước Pháp, Thuỵ sĩ, Đúc, chương
trình sử dụng địa nhiệt dưới vườn nhà tư nhân để làm nước nóng sạch và
sưởi ấm đang được khuyến khích. Có nhiều dự án làm giảm được 75% chi
phí năng lượng.
Hiện nay, nhiều nươc khác cũng đang phát triển Năng lượng tái tạo, nhưng
với một tốc độ còn yếu, không phù hợp với mục tiêu. Những cường quốc
đều có chương trình Năng lượng tái tạo. Vì có điều kiện khoa hoc, kĩ thuật
và tài chính, họ cũng đã đầu tư vào các công trình nghiên cứu về nhiên liêu
sinh khối, pin hydro, cô lập carbon ( chưa kể năng lượng nhiệt hạch hạt
nhân còn xa vời !). Tuy nhiên, tỉ lệ Năng lượng tái tạo toàn cầu đến 2050 sẽ
rất quan trọng.
Một nguồn năng lượng mới : Tiết kiệm năng lượng
Tiết kiệm năng lượng cần được xem như là một nguồn năng lượng vô cùng
quan trọng và quí báu. Một bài tính đơn giản đã cho biết rằng nguồn năng
lượng này, nếu có sự quyết tâm chống lãng phí của tất cả các nước, có khả
Đào tạo, như nhà văn Nguyên Ngọc và giáo sư Bùi Trọng Liễu, Đại học
Paris, đã có dịp trình bày nhiêu lần trên báo chí: ở nhiều nước, ngay ở
truờng tiểu học, học sinh cũng đã có những khái niệm về năng lượng và
môi trường. Thay đổi thái độ phải bắt đầu từ lúc tuổi thơ.
Tiềm năng tiết kiệm của ta cũng rất lớn, so với nhu cầu thiết thực. Đến
2020, nó có thể đạt con số 2000 MW, có nghĩa là ta khỏi cần xây cất hai lò
Điện hạt nhân như đã dự trù. Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa là Việt Nam
sẽ cần 200 tỉ kWh sau 2030 chứ không thể nào sớm hơn ( xem bài của giáo
sư Phạm Duy Hiển, đăng trên Thời báo KTSG ra ngày 8-7-2004 : Năm
2020 Việt Nam chỉ cần 100 tỉ kWh !)
Chúng ta đừng coi thường hiện tượng lũy thừa, kinh tế Trung Quốc mất cân
bằng ( quá nóng ) cũng vì thế. Với nghị lực, trí thông minh và sáng kiến của
dân tộc, ta sẽ đi nhanh. Nước nhà có thể độc lập trong ngành năng lượng,
không lệ thuộc cường quốc nào cả ( công nghệ lò hay Uranium giàu ).
Trong lĩnh vực Năng lượng tái tạo, chúng ta sẽ có đủ khả năng sản xuất và
xuất khẩu sớm máy móc, dụng cụ cho thị trường, trước khi có sự canh tranh
mạnh. Chính trong lĩnh vực còn chỗ đứng này của ngành Năng lượng tái
tạo, những công trình nghiên cứu của ta sẽ có tiếng vang mà không làm khô
cạn ngân sách quốc gia, trái với Câu lạc bộ Điện hạt nhân eo hẹp của 33
nước, không còn chỗ ngồi tương ứng với khả năng khoa học và kĩ thuật
nước ta hiện nay.
Theo tôi, nếu có một nước trên thế giới cần tránh làm Điện hạt nhân, nước
ấy là Việt Nam. Vì hậu quả chiến tranh liên tiếp còn để lại biết bao đau
thương, bao chất độc, như dioxine, còn rải rác trên lãnh thổ, tai hại cho
đồng bào trong 50-60 năm nữa là ít ! Nga va Ucraina có 3 triệu nạn nhân vì
Tchernobyl, chúng ta cũng có khoảng 3 triệu nạn nhân vì chất độc da cam !
Tại sao phải đón nhận thêm món quà chất thải phóng xạ cho ruộng đất mà
chúng ta “mượn tạm của con cháu, chứ không phải thừa hưởng của tổ
tiên”?
Thay đổi khí hậu
duy nhất là phải xây dựng một nền kinh tế dựa trên mặt trời và hydrogène.
Năng lượng tái tạo là lời giải thích đáng nhất
Tuy không đồng ý với những lập luận nêu trong cuốn sách nối tiếng
“L’écologiste sceptique”, của Bjorn Lomborg, GS Đại học Aarhus và Giám
đốc Viện đo lường môi trường Đan Mạch, tôi lại hoan nghênh một số để
nghị thiết thực của tác giả . Nhiều chuyên gia, như Stephen Schneider (khí
hậu), John P.Holgren (năng lượng), John Bongaarts ( dân số ), Thomas
Lovejoy ( sinh vật lý ), đã lên tiếng phản đối mạnh Lomborg, cho ràng tác
giả không đặt đúng các câu hỏi, không đếm xỉa đến sự bùng nổ dân số thế
giới ( 9 tỉ người năm 2050 !), không phân tích một cách khoa học. Như tôi
hy vong, tác giả cũng nhìn nhận rằng ỉ và đăc biệt năng lượng mặt trời, sẽ
kinh tế và rẻ hơn năng lương hoá thạch giữa thế kỉ tới. Bjorn Lombord đã
chỉ trích một số công trình của Club de Rome ( Halte à la Croissance – hiện
tượng lũy thừa! ), Greenpeace, Worldwatch, Fonds mondial pour la Nature
(WWF) và đặc biệt là Cơ quan cố vấn Liên Hiệp Quốc về khí hậu IPCC (
The Intergovernmental Panel on Climat ).
Theo tác giả, áp dụng nghị định thư Kyoto 1977 ( Kyoto Protocol to the
United Nations Framework Convention on Climate Change ), sẽ tốn mỗi
năm, ít nhất 150 tỉ USD ( mà ảnh hưởng về khí hậu chỉ có 0,15°C năm
2100 ) và tổng kinh phí cần thiết để giải quyết sự thay đổi khí hậu là 5000 tỉ
USD. Bjorn Lomborg, dựa vào một bài toán phân tích kinh tế về những phí
tổn và lợi hại của việc làm giảm ngay số lượng CO2, đã can đảm đề nghị
nên chú trong đến việc giúp đỡ các nước nghèo và nghiên cứu năng lượng
tái tạo còn hơn là mất thì giờ và tiền bạc lo cho việc thay đổi khí hậu. Lẽ cố
nhiên, tôi ủng hộ lập trường này. Điều đáng lo ngại là có nước giàu mạnh,
thiếu tinh thần trách nhiệm, không chịu kí nghị định thư Kyoto, lợi dụng
cuốn sách của Lomborg để tự bào chữa, nhưng lại dành tiền đầu tư vào
năng lượng phá hoại của bom đạn thay vì ỉ cho hòa binh.
Grenoble, 26-9-2004
TS Nguyễn Khắc Nhẫn