Nghiên cứu kỹ thuật giâm hom cây ưu tú loài Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) ở rừng trồng vùng cát ven biển miền Trung - Pdf 12

Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Diện tích đất cát ven biển Việt Nam là 562.936 ha (Nguyễn Khang, Viện QH và
TKNN-2000) [14], chiếm tỷ lệ 1,8 % tổng diện tích đất tự nhiên toàn quốc. Nhóm đất
cát và cồn cát ven biển nước ta có xu hướng ngày càng mở rộng thêm về diện tích và
phân bố ở hầu hết các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long, bề rộng của dải đất cát rộng, hẹp khác nhau từ 50m đến trên 20.000m từ bờ biển
vào đất liền, trong đó tập trung nhiều nhất là các tỉnh duyên hải miền Trung với
415.560ha (Nguồn số liệu của Viện QH và TKNN-2000)[14].
Vùng đất này có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt
là phòng hộ môi trường ven biển. Tuy nhiên đây cũng là vùng sinh thái chịu các điều
kiện khắc nghiệt như nắng nóng, khô hạn, nghèo kiệt, cát bay nên điều kiện sinh hoạt
và sản xuất của người dân trong vùng gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng lớn đến sức
khỏe, đe doạ hủy diệt những tiềm năng sản xuất lương thực, thực phẩm của khu vực, h.
Một trong những giải pháp chính để ngăn chặn, chống sa mạc hóa, tiến đến cải
tạo và sử dụng có hiệu quả dãi đất cát ven biển duyên hải miền Trung là trồng rừng,
đây được xem là một trong những giải pháp tốt nhất. Rừng trồng có tác dụng hạn chế
và ngăn chặn sự di động của cát, dần dần tạo ra quá trình chuyển hoá sinh học, cải
thiện điều kiện vi khí hậu, tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của
người dân thuận lợi hơn, là chìa khoá cơ bản quyết định sự thành công một cách bền
vững của tất cả các biện pháp cải tạo tiếp theo.
Trong những năm qua, có rất nhiều loài cây đã được đưa vào gây trồng, song
theo một số nghiên cứu của Viện KHLN Việt Nam cho thấy trong số các loài cây gỗ
mọc nhanh có thể gây trồng trên vùng đất cát nước ta gồm Keo lá liềm, Keo lá tràm,
Keo tai tượng, Phi lao, các loài Keo chịu hạn Bước đầu qua đánh giá thì cây Keo lá
liềm là loài có khả năng sinh trưởng tốt trên vùng đất cát ven biển miền Trung. Theo
tác giả Nguyễn Thị Liệu -Trung tâm Khoa học SX Bắc Trung Bộ : “Qua điều tra tập
đoàn cây trồng cây trồng rừng chủ yếu trên đất cát nội đồng vùng duyên hải Bắc Trung
Bộ đã xác định Keo lá liềm là loài cây trồng có triển vọng nhất. Đây là loài cây có khả
năng thích nghi trong điều kiện khắc nghiệt của đất cát ven biển, có khả năng sinh

tạo cơ sở cho việc khảo nghiệm, xây dựng các rừng giống, vườn giống phục vụ công
tác trồng rừng, đặc biệt là phủ xanh vùng cát ven biển miền Trung. Vì vậy, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu kỹ thuật giâm hom cây ưu tú loài Keo lá
liềm (Acacia crassicarpa) ở rừng trồng vùng cát ven biển miền Trung"
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiển
1.2.1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định được biện pháp kỹ thuật thích hợp nhất để giâm hom cây ưu tú Keo
lá liềm được chọn từ rừng trồng trên vùng cát ven biển miền Trung, làm cơ sở cho việc
khảo nghiệm, nhân giống trong các nghiên cứu cải thiện giống chuyên sâu tiếp theo.
1.2.2 .Ý nghĩa thực tiễn
- Lập được bản đồ phân bố rừng trồng Keo lá liềm trên vùng cát ven biển tỉnh
Quảng Nam và tỉnh Thừa Thừa Thiên Huế.
2
- Chọn được một số cây ưu tú làm cơ sở chọn giống.
- Tìm được biện pháp kỹ thuật thích hợp giâm hom cây ưu tú Keo lá liềm, làm
cơ sở để khảo nghiệm, xây dựng các rừng giống, vườn giống phục vụ công tác trồng
rừng, phủ xanh vùng cát ven biển miền Trung.
Chương 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Nghiên cứu trên thế giới
Chọn, tạo giống cây trồng lâm nghiệp là biện pháp nâng cao năng suất, chất
lượng gỗ và các sản phẩm, giá trị khác từ rừng. Đây là một khâu rất quan trọng cần
được tiến hành thường xuyên, liên tục và là một yêu cầu cấp bách, nhất là trong điều
kiện năng suất và chất lượng rừng trồng ở nước ta hiện nay còn thấp.
3
Chọn giống cây rừng là lĩnh vực nghiên cứu và áp dụng các phương pháp tạo
giống cây rừng có định hướng như tăng năng suất (gỗ, hoa, quả ), tăng khả năng
phòng hộ, cải tạo đất, khả năng thích nghi, chống chịu sâu bệnh, thời tiết, ngoại
cảnh đồng thời nhân các giống này đưa vào sản xuất [2].
Sơ đồ chung của một quá trình sản xuất lâm nghiệp trên cơ sở cải thiện giống ở

chất lượng gỗ có thể lấy ra được. Vì vậy, tiêu chuẩn chính để chọn cây ưu tú là đường
kính, chiều cao, và chiều dài đoạn thân dưới cành cũng như độ hẹp của tán lá.
Tuỳ theo độ biến động ở các lâm phần mà người ta xác định cây ưu tú có độ
vượt về chiều cao, đường kính, thể tích khác so với những cây còn lại, độ vượt của
cây ưu tú cũng thay đổi theo các điều kiện lập địa.
Ngoài những chỉ tiêu quan trọng nhất nói trên, cây ưu tú còn cần có những chỉ
tiêu chất lượng khác như có thân thẳng, tán lá hẹp, cành nhánh nhỏ, góc phân cành
lớn, không bị sâu bệnh. Những chỉ tiêu này có thể đánh giá bằng phương pháp cho
đếm.
Cải thiện giống bắt đầu xuất hiện từ lúc con người chuyển từ giai đoạn ”hái
lượm” sang “tự túc, tự cấp”. Nhờ chọn lọc liên tục trong nhiều thế hệ mà cây trồng, vật
nuôi hiện tại đã cho năng suất, chất lượng vượt rất xa so với giống hoang dại ban
đầu.
Trong tác phẩm “Sự biến đổi của vật nuôi và cây trồng” của nhà di truyền học
lỗi lạc Dacuyn viết năm 1786, ông đã chỉ dẫn ra rằng trọng lượng trung bình của quả
phúc bồn tử tăng gấp gần mười lần sau 66 năm thông qua chọn giống.
Từ thế kỷ 18-19 trên thế giới đã xuất hiện những ý tưởng về nghiên cứu lai
giống, sản xuất hạt giống và nhân giống sinh dưỡng cây rừng. Đến đầu thế kỷ 20 nhiều
nhà khoa học ở các nước Châu Âu như Đức, Thụy Điển đã cho ra đời nhiều công trình
nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống cho
một số loài cây như Thông, Sồi, Dẻ [3]
Di truyền và biến dị là hai đặc tính quan trọng nhất cho sự tiến hóa, Cây rừng
cũng như mọi sinh vật khác đều có 2 đặc tính cơ bản trên, những đặc tính này có vai
trò chi phối các quy luật chung về di truyền và biến dị. Công tác chọn tạo, cải thiện
giống là một trong những phần ứng dụng quan trọng của di truyền học vào việc sử
dụng tài nguyên sinh vật nhằm tạo ra những dạng sống đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu
cầu của con người. Quá trình chọn giống đã diễn ra với tốc độ nhanh cùng nhiều thành
tự vĩ đại trên nền tảng các công trình nghiên cứu về di truyền của G.Mendel, học
thuyết tiến hóa của Dacuyn, học thuyết tế bào của Sleiden và Svan
Bước đầu tiên trong bất kỳ một chương trình cải thiện giống cây rừng là chọn

các loài khác sinh trưởng chậm hơn cả chiều cao và đường kinh.[22]
Tại Idonesia, trên quần đảo Sumata đã trồng rộng rãi cây Keo lá liềm để làm
nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy tại địa phương, ước tính có khoảng hơn
40.000 ha đất chua và một phần ngập ứng được trồng Keo lá liềm, người dân ở đây
xem cây Keo lá liềm là loài cây trồng lâm nghiệp chính của vùng, gắn với sinh kế của
người dân, vì vậy ngành công nghiệp giấy ở đây phát triển tốt nhờ trồng loài cây này [24]
2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.1. Các khảo nghiệm và những định hướng liên quan
Ở nước ta, trong nội dung chiến lược giống lâm nghiệp giai đoạn 2006 -2020 đã
được Bộ Nông nghiệp & PTNT phê duyệt tại Quyết định số 62/2006/QĐ-BNN ngày
16 tháng 8 năm 2006 đã xác định mục tiêu :
Xây dựng ngành giống lâm nghiệp hiện đại, đảm bảo cung cấp đủ giống có
chất lượng cao phục vụ nhu cầu trồng rừng; Áp dụng khoa học công nghệ mới theo
6
hướng sử dụng ưu thế lai, từng bước áp dụng công nghệ sinh học trong lai tạo giống;
hình thành hệ thống sản xuất và dịch vụ giống cây lâm nghiệp được quản lý chặt chẽ.
Với các mục tiêu cụ thể:
- Đến năm 2010 đảm bảo cung cấp 60% giống từ nguồn giống được công nhận,
trong đó 40% giống từ nhân giống sinh dưỡng. Đến năm 2015 đảm bảo cung cấp 80%
giống từ nguồn giống được công nhận, trong đó 50% giống từ nhân giống sinh dưỡng
cho trồng rừng.
- Chọn được nhiều giống mới có năng suất cao, có khả năng chống chịu sâu
bệnh hại và các điều kiện bất lợi. Đảm bảo từ năm 2020, đối với cây mọc nhanh năng
suất bình quân 30m3/ha/năm và đối với cây gỗ lớn là 15m3/ha/năm
Xác định giống là một trong những khâu then chốt để tăng năng suất và chất
lượng rừng trồng. nhiều năm qua các nhà khoa học nước ta đã tiến hành khảo nghiệm
chọn lọc được nhiều loài cây trồng mới năng suất cao như các loài Keo, bạch đàn,
thông Kết quả Bộ Nông nghiệp & PTNT đã xác định được cơ cấu loài cây trồng lâm
nghiệp chính cho 9 vùng sinh thái của cả nước với một số xuất xứ phù hợp (Quyết
định số 13,14,15/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT).

Keo lá liềm có khả năng sinh trưởng phát triển tốt nhất với lượng tăng trưởng trung
bình khoảng 13m
3
/ha/năm, kế đến là Acacia torulosa với tăng trưởng bình quân
khoảng 8m
3
/ha/năm [10]
Quá trình chọn lọc các dòng Keo lai (Acacia mangium x Acacia
auriculiformis), Công trình nghiên cứu của GS Lê Đình Khả và các cộng sự là một
thành công lớn của ngành giống lâm nghiệp nước ta. Bằng phương pháp chọn lọc cây
ưu tú trực tiếp ngoài rừng trồng, tiến hành khảo nghiệm hậu thế, ông đã chọn được
một số dòng vô tính cây Keo lai có nhiều ưu điểm vượt trội so với cây bố, mẹ để lập
vườn giống vô tính. Các dòng Keo lai BV10, BV16, BV32 đã được công nhận là
giống quốc gia và 8 dòng khác được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật để khảo
nghiệm trên diện rộng hiện đang được nhân giống để trồng rừng ngày càng nhiều và
đã mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế, môi trường [19]
Thông ba lá (P. kesiya) là loài cây cho vùng núi cao, có nguyên sản ở nước ta,
song có phân bố ở cả Thái Lan, Trung Quốc, Philippin v.v Khảo nghiệm ở các tỉnh
miền Bắc cho thấy xuất xứ Hoàng Su Phì (Hà Giang) là có sinh trưởng nhanh nhất,
còn khảo nghiệm cho 16 xuất xứ tại Lang Hanh (vùng Đà Lạt) đã thấy rằng xuất xứ có
sinh trưởng tốt nhất là Doi Inthanon (Thái Lan), tiếp đó là xuất xứ Lang Hanh (ở độ
cao 900m).
Các khảo nghiệm cho Thông nhựa (Pinus merkusii) đã thấy rằng các xuất xứ
nước ta thuộc hai nhóm khác nhau: nhóm có sinh trưởng nhanh ở giai đoạn vườn ươm
(mà một số người cho rằng không có giai đoạn cỏ) là nhóm các xuất xứ miền Trung từ
Rịa (Ninh Bình), đến các tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh và Bình-Trị-Thiên. Nhóm có sinh
trưởng chậm trong giai đoạn vườn ươm (mà một số người cho rằng có giai đoạn cỏ) là
Yên Lập (Quảng Ninh) và Di Linh (Lâm Đồng). Trong đó xuất xứ Di Linh quả chín
vào tháng 4 hàng năm, các xuất xứ còn lại quả chín vào tháng 9 hàng năm. ở các tỉnh
miền Trung và miền Bắc trong 2-3 năm đầu nhóm xuất xứ miền Trung thường có sinh

nghiệm về nhân giống hom cho một số loài cây rừng. Mỗi loài cây lại thích hợp với
một số chất kích thích sinh trưởng và những nồng độ thích hợp nhất định [1].
Các báo cáo kết quả nghiên cứu về giâm hom Keo lá tràm, Keo lai của GS. TS
Lê Đình Khả cho thấy IBA và NAA là hai loại chất kích thích sinh trưởng cho tỷ lệ ra
rễ cao nhất. Tuy nhiên ở mỗi dòng thích hợp với mỗi nồng độ chất khác nhau và tỷ lệ
ra rễ cũng khác nhau [24]. Vì vậy, để xác định nồng độ chất kích thích ra rễ thích hợp
cho giâm hom Keo lá liềm, đề tài sử dụng loại chất IBA, NAA với 5 nồng độ khác
nhau: 0ppm; 200ppm; 400ppm; 600ppm và 800ppm
Keo lá liềm (còn gọi là Keo lưỡi liềm) là cây thân gỗ có thể biến dạng từ thân
bụi đến thân gỗ lớn tùy môi trường sống. Nơi nguyên sản tại các đụn cát ven biển ở
châu Úc (Australia) là cây thân bụi cao 2-3m, nhưng bình thường cao 5-20m, nơi thích
hợp có thể cao tới 30m, đường kính thân có thể lên đến 50-70cm, thân cây thẳng,
nhiều cành nhánh, vỏ màu sẫm hay nâu xám, nhiều vết nứt sâu. Rễ phát triển mạnh, có
nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất rất tốt,
đặc biệt là các vùng cát trắng ven biển. Lá dày và cứng có thể chịu được gió, va đập
của cát bay
9
Độ cao thích hợp dưới 200m, cũng có thể trồng tới độ cao 700m so với mặt
biển. Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.000-2.500mm, mưa theo mùa hoặc mưa tập
trung vào mùa hè, chịu được khô hạn, gió Lào… Chịu nhiệt độ bình quân các tháng
nóng nhất là 31-34
0
C, nhiệt độ bình quân các tháng lạnh nhất 15-22
0
C, không có
sương giá. Có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau kể cả đất cát sâu và đất sét
khó thoát nước. Có thể chịu được độ mặn, đất cằn cỗi và khả năng chịu lửa tốt.
Gỗ Keo lá liềm tương đối nặng, gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm
ván ghép thanh; gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván ép, cọc trụ mỏ… Do tán
lá rộng thường xanh, mọc chồi khỏe, có khả năng cạnh tranh với cỏ dại nên dùng để

- Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ : 150.582 ha
Quá trình di động cát trong năm và di động cát theo mùa là hiện tượng đặc biệt,
nó làm thay đổi bề mặt địa hình và là hiện tượng khá phổ biến ở vùng duyên hải miền
Trung nước ta. Tuy nhiên, quá trình di động cát cùng với những tác nhân huỷ diệt của
nó là sản phẩm được hình thành do sự phân hoá sâu sắc của điều kiện khí hậu gió mùa
thông qua chế độ nhiệt ẩm và hương gió là rất khác biệt nhau trong hai mùa và trên hai
vùng lãnh thổ (Duyên hải Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ ).
Vùng duyên hải miền Trung với hai mùa khí hậu trái ngược nhau : Mùa đông
chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc rét lạnh làm nhiệt độ xuống rất thấp. Tại Đồng
Hới và Huế nhiệt độ tối thấp còn 8
0
C. Đối nghịch với tình hình trên là tính chất khắc
nghiệt khô nóng của gió mùa Tây Nam (gió Lào) xảy ra theo từng đợt liên tiếp nhau
trong thời kì gió mùa, mùa hè hoạt động từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ có thể lên
đến 40,41
0
c, thậm chí lên đến 42
0
c, độ ẩm tương đối xuống dưới 70% gây nên tình
trạng nắng nóng khô hạn gay gắt.
Ngoài ra, vùng còn chịu ảnh hưởng của sự thất thường do gió bão, dông nhiệt
Tất cả những tác nhân trên đã tạo điều kiện hình thành những địa bàn cát di động
khổng lồ kéo dài từ cửa sông Gianh (Quảng Bình ) đến cửa Tùng (Quảng Trị ) để tiếp
nối với những cồn cát của Thuận An-Lăng Cô (Thừa Thiên Huế). Trong đó, tập trung
nhất và rộng lớn nhất là dải cồn cát dạng đồi phía Nam Quảng Bình dài đến hơn 60 km
từ cửa sông Nhật Lệ đến hết địa giới của tỉnh, tiếp giáp với tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm
trên địa bàn của hai huyện Quảng Ninh, Lệ Thuỷ và thị xã Đồng Hới với diện tích lên
đến khoảng 23.500ha, chiếm gần 70% diện tích đất cát của toàn tỉnh. Dải cồn cát này
có địa hình cao hơn so với dải đồng bằng ven biển trung bình từ 10 -15m, có nơi cao
đến 40 - 45m. Xen kẽ vào các dãy cồn cát là các trảng cát có mặt bằng lượn sóng hoặc

biển là các trảng cát bằng phẳng nằm sâu phía trong tiếp giáp với các khu dân cư,
thường được bao bọc bởi những cánh đồng, khu dân cư, các sông, suối. Cát ở đây
không hình thành những đụn cao mà trải rộng tương đối bằng phẳng với các trảng cỏ
thứ sinh phân bố gần các ao, hồ (trằm, bàu). Ngoài các trảng cỏ, vùng cát nội đồng còn
có các trảng cây bụi thứ sinh Đất cát nội đồng nghèo chất dinh dưỡng, kết cấu rời rạc
và thường có tầng Glây cứng phía dưới có nơi chỉ cách bề mặt đất chừa đầy 1 mét, vì
vậy mực nước ngầm thường nông vào mùa mưa, dễ gây ngập úng, song vào mùa nắng
nóng lại bị khô hạn nặng nên không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Vùng cát nội
đồng là "một vùng sinh thái đặc biệt, phần lớn có điều kiện khắc nghiệt, nhiệt độ bình
quân trong năm cao, úng lúc mưa và hạn lúc nắng, độ phì đất hết sức thấp, thậm chí
có nơi chỉ là một vùng đất cát trắng phau không màu mỡ, không có thực bì, nhìn qua
như một tiểu sa mạc" [8].
Cồn cát trắng vàng và cồn cát đỏ được hình thành từ nhiều nguồn gốc khác
nhau. Cát màu vàng có nguồn gốc biển - gió, phân bố thành dãy cồn - đụn cát ven biển
và các bãi biển. Cát xám trắng chủ yếu có nguồn gốc biển và phân bố trên các dải gò
cao và rải rác ở ven rìa đồng bằng. Cát vàng nghệ nguồn gốc biển phần lớn bị cát vàng
12
nhạt và cát xám trắng trẻ hơn che phủ. Loại đất này có hình thái phẫu diện ít phân hóa,
đồng nhất cả về màu sắc và thành phần cơ giới, từ trên xuống dưới đều là cát tơi hoặc
cát dính. Thành phần cơ giới rất nhẹ, rời rạc. Tỷ lệ sét rất thấp hoặc không đáng kể,
chủ yếu là cấp hạt cát, tỷ lệ cát khô khá cao.
Các đồn cát, đụn cát phần lớn chưa ổn định, hiện tượng di dộng của cát đang
thường xuyên xảy ra. Những nơi có địa hình thấp thì đã có sự phân hóa về màu sắc;
nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơi đen, tầng dưới có màu xám vàng xen
vệt trắng. Đây là loại đất rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng; cation trao đổi rất
thấp; dung tích hấp thu rất thấp, nên khả năng giữ nước, giữ phân kém. Phần lớn diện
tích loại đất này đang bị bỏ hoang.
Đây là loại đất có diện tích rất lớn, vì vậy cần có biện pháp tổ chức sản xuất
trên loại đất này, tùy theo từng nơi để bổ trí các loại cây nông, lâm nghiệp thích hợp.
Trên cồn đụn cát cần trồng rừng để chống cát bay lấn chiếm ruộng đồng, làng mạc.

Quảng Nam, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận như Bạch đàn, Xoan chịu hạn, Trai
lá cong, các loài Keo chịu hạn, Phi lao Ngoài những cây trồng nêu trên, vùng đất cát
ven biển duyên hải miền Trung còn trồng một số loài cây bản địa, cây ăn quả lâu năm
như: Xoài, Đào lộn hột, ổi bước đầu đã mang lại những thành công nhất định.
Trong kế hoạch trồng rừng hiện nay của tỉnh Quảng Nam, BQL dự án trồng
rừng tỉnh đang phấn đấu mỗi năm trồng từ 100-200 ha cây Keo lá liềm trên vùng cát,
trong đó có trồng trên đất trống và trồng xen vào diện tích những loài cây khác có sinh
trưởng kém (Xem bảng 4.15 Thống kê diện tích trồng rừng Keo lá liềm trên vùng đất
cát Quảng Nam) [10]
Trong kế hoạch phát triển lâm nghiệp của tỉnh Thừa Thiên - Huế xác định : Từ
2011-2015 tiếp tục quản lý, bảo vệ 12.000 ha rừng vùng cát ven biển hiện có; trồng
mới 1.150 ha rừng vùng cát ven biển và đầm phá, với các loại cây trồng như phi lao,
Keo chịu hạn, Keo lá liềm và cây ngập nước. Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển rừng
vùng cát ven biển và đầm phá chống biển xâm thực cho giai đoạn này ở Thừa Thiên -
Huế gần 20 tỷ đồng, từ nguồn vốn Nhà nước; vốn chương trình dự án JIPPRO do
Trung tâm xúc tiến và hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ; vốn trồng cây phân tán hàng
năm của tỉnh; vốn bảo vệ nâng cấp đê điều, phòng chống thiên tai để đầu tư, xây dựng
hệ thống rừng phòng hộ thuộc hành lang bảo vệ đê và khu vực bị sạt lở. [11].
Cho đến nay, đã có một số đề tài, dự án được tiến hành nhằm cải tạo điều kiện
sinh thái, nâng cao chất lượng sống cho người dân vùng đất cát ven biển miền Trung.
Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của các đề tài này rất rộng nên các giải pháp đưa ra
chưa có điều kiện cụ thể hoá và triển khai, việc đưa vào thử nghiệm thực tiễn đang là
bài toán cần giải quyết để tiếp tục cải tạo diện tích đất cát bị hoang hóa.
Hiện nay, các địa phương ven biển miền Trung đã quyết tâm trồng các đai rừng
phòng hộ trên vùng cát, ví dụ tỉnh Thừa Thiên - Huế đã hình thành tuyến rừng phòng
hộ ven biển chạy dài từ Phú Lộc đến Quảng Điền, chủ yếu là rừng cây phi lao, Keo lá
liềm và nhóm các loại thực vật hoang dại như: xương rồng, tràm, chổi, mua, sim, chạc
chìu, dứa dại góp phần đa dạng hóa thành phần loài cho thảm thực vật vùng cát
phòng hộ ven biển, tuy nhiên trong số đó cây Keo lá liềm vẫn có nhiều ưu điểm vượt
trội hơn.

Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
VÀ PHẠM VI - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu chung
Chọn được cây ưu tú và tìm hiểu kỹ thuật giâm hom loài Keo lá liềm từ hom
cây ưu tú được trồng trên vùng cát ven biển miền Trung.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Chọn lọc cây ưu tú về sinh trưởng và sinh khối để tiến hành lấy hom giâm.
- Xác định được biện pháp kỹ thuật (Tuổi cây lấy hom, loại chất kích thích ra
rễ, nồng độ, vị trí lấy hom, giá thể giâm hom và chế độ che bóng) giâm hom loài Keo
lá liềm từ hom cây ưu tú ở rừng trồng vùng cát ven biển miền Trung
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
3.2.2. Chọn lọc cây ưu tú dựa vào khả năng sinh trưởng, sinh khối và khả năng
chịu nóng, chịu hạn
* Điều tra diện tích, phân bố của rừng trồng loài Keo lá liềm trên vùng cát ven
biển miền Trung
* Chọn cây dự tuyển Keo lá liềm ở rừng trồng trên vùng cát ven biển
* Chọn cây ưu tú dựa vào chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính, chiều cao, thể
tích thân cây
* Xác định tương quan giữa thể tích thân cây đứng với sinh khối tươi của cây
* Chọn cây ưu tú dựa vào sinh khối của cây
* Xác định khả năng chịu nóng, chịu hạn của cây ưu tú dựa vào nhiệt độ không
khí tối cao, ẩm độ không khí tối thấp, nhiệt độ đất tối cao và ẩm độ đất tối thấp
3.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố đến khả năng ra rễ của hom giâm:
* Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng IBA và NAA.
* Ảnh hưởng của độ tuổi cây ưu tú lấy hom đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm.
* Ảnh hưởng của vị trí lấy hom trên cây ưu tú.
* Ảnh hưởng của giá thể (bầu đất và nền cát).

khí hậu đặc trưng cho vùng để khảo sát thực địa chọn cây dự tuyển. Việc chọn cây dự
tuyển căn cứ vào độ thẳng thân, tán tròn đều, không sâu bệnh, có đường kính thân và
chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành vượt hơn các cây khác trong lô rừng để chọn
và đánh dấu các cây dự tuyển làm cơ sở để xác định cây ưu tú
- Chọn cây ưu tú dựa vào chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính, chiều cao, thể
tích thân cây
17
Tại vị trí có cây dự tuyển, tiến hành lập ô đo đếm để đo đếm, thu thập số liệu
của ít nhất 50 cây trong ô về các chỉ tiêu D
1,3
, Hvn, Dt, H
dc
, tính trung bình các chỉ tiêu
trên ô đo đếm, cây ưu tú được phải đạt các chỉ tiêu sau:
+ D
1.3

D
1.3
+ 2S
+ H
vn

H
vn
+ 2S
+ V ≥
V

+ 20%

Phương trình 2 . P= a + blogV
Phương trình 3 . LogP= a + blogV
Trong đó : + V là thể tích thân cây
+ P là sinh khối tươi thân cây
+ a,b là 2 tham số được tính thông qua việc tính các các chỉ số
Qx, Qy theo phương thống kê.
Phương trình được chọn là phương trình có các hệ số liên quan tối ưu nhất dựa
vào căn cứ sau:
+ Hệ số xác định cao
18
π * D
2
* H
vn
* f
V =
4
+ Hệ số xác định tồn tại
+ Tham số của phương trình tồn tại
+ Dạng phương trình nên đơn giản
- Chọn cây ưu tú dựa vào sinh khối của cây
Dùng hàm tương quan được chọn, dựa vào số liệu điều tra trên ô đo đếm có cây
ưu tú, tiến hành tính sinh khối tươi thông qua thể tích thân cây ưu tú và thể tích trung
bình các cây trong ô đo đếm. Từ số liệu về sinh khối tươi của các cây trong ô đã tính
được, những cây ưu tú được chọn là những cây có độ vượt về sinh khối so với sinh
khối trung bình của các cây trong ô từ 15% trở lên.
P
cây trội

P

Sau đó cho vào cốc khoảng 10g-20g mẫu đất cát sạch được lấy ngoài đất trống
gần nơi có cây trội, đất được lấy từ trên xuống độ sâu khoảng 50cm. Cân tất cả ở cân
phân tích với độ chính xác 0,0001g.
Dùng que thủy tinh trộn đều cát, dàn đều thành lớp mỏng.
Cho tất cả vào tủ sấy ở 100 – 103
0
C, sấy cho đến khi trọng lượng không đổi,
thường tối thiểu là 6 giờ. Trong thời gian sấy, cứ sau 1 giờ lại dùng đũa thuỷ tinh đầu
bẹt nghiền nhỏ các phần vón cục, sau đó dàn đều và tiếp tục sấy.
Sấy xong, làm nguội trong bình hút ẩm (20 -25 phút) và đem cân ở cân phân
tích với độ chính xác 0,0001g.
Cho lại vào tủ sấy 100 – 103
0
C trong 30 phút, lấy ra làm nguội trong bình hút
ẩm (20 -25 phút) và đem cân như trên tới khi trọng lượng không đổi. Kết quả giữa hai
lần cân liên tiếp không được cách nhau quá 0,5mg cho mỗi gam mẫu thử.
Độ ẩm đất tính theo công thức sau:
Độ ẩm tuyệt đối (%) =
%100
13
32
x
WW
WW


Trong đó: W
1
: Trọng lượng hộp nhôm (g)
W

(1,5gam thuốc/1lít nước) trong vòng 1 giờ, sau đó vớt ra, đưa ra vườn chấm phần gốc
hom vào hỗn hợp bột chất kích thích đã pha chế theo từng nồng độ của mỗi công thức
thí nghiệm và cấy vào luống giâm.
* Chăm sóc hom giâm
Tưới ẩm cho hom giâm bằng hệ thống tưới phun tự động. Giai đoạn đầu giâm
hom, thời gian giữa hai lần phun cách nhau 3-4 phút, mỗi lần phun từ 5-7 giây. Giai
đoạn hom bắt đầu có rễ và có lá mới, thời gian giữa hai lần phun cách nhau 5-7 phút,
mỗi lần phun từ 5-7 giây, sau đó giảm dần lượng nước bằng cách giản thời gian giữa 2
lần phun.
* Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng IBA đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng IBA ở
5 cấp nồng độ: Không có chất IBA (0ppm), 200ppm, 400ppm, 600ppm, 800ppm đến tỷ lệ
ra rễ của hom giâm được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại với dung lượng
mẫu là 45 hom cho mỗi công thức thí nghiệm 3 lần lặp lại. Các công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: Hom giâm không xử lý chất kích thích sinh trưởng
+ Công thức 2: Hom giâm được xử lý IBA ở nồng độ 200ppm
+ Công thức 3: Hom giâm được xử lý IBA ở nồng độ 400ppm
+ Công thức 4: Hom giâm được xử lý IBA ở nồng độ 600ppm
+ Công thức 5: Hom giâm được xử lý IBA ở nồng độ 800ppm
* Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng
NAA ở 5 cấp nồng độ: 0ppm (không dùng chất NAA), 200ppm, 400ppm, 600ppm,
800ppm đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên, 3 lần
lặp lại với dung lượng mẫu là 45 hom cho mỗi công thức thí nghiệm 3 lần lặp lại. Các
công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: Hom giâm không xử lý chất kích thích sinh trưởng
21
+ Công thức 2: Hom giâm được xử lý NAA ở nồng độ 200ppm
+ Công thức 3: Hom giâm được xử lý NAA ở nồng độ 400ppm
+ Công thức 4: Hom giâm được xử lý NAA ở nồng độ 600ppm

22
Nền cát được lập từ cát sông không nhiễm mặn, phèn có hạt cát mịn, cát được
rữa sạch và xữ lý chất chống nấm bằng cách phun dung dịch Ben lat 0,1% trước khi
cắm hom giâm. Nền cát có chiều dày 10 đến 20 cm, dùng gạch xây chắn xung quanh
biên. Bố trí các công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: Hom được cấy trực tiếp vào bầu đất
+ Công thức 2: Hom được cấy trực tiếp vào nền cát
* Ảnh hưởng của chế độ che bóng.
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm ảnh hưởng của các chế độ che bóng khi giâm
hom, độ che bóng ở 4 cấp là: Không che bóng (0%), che bóng 25%, che bóng 50%,
che bóng 75%, đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Bố trí thí nghiệm theo khối đầy đủ ngẫu
nhiên, 3 lần lặp lại với dung lượng mẫu là 45 hom cho mỗi công thức thí nghiệm 3 lần
lặp lại. Giàn che bóng theo công thức của Nguyễn Hữu Thước 1964 dẫn theo (Đinh
Xuân Lý 1993) [46]. Bố trí công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: Hom giâm không che bóng.
+ Công thức 2: Hom giâm che bóng 25%.
+ Công thức 3: Hom giâm che bóng 50%.
+ Công thức 4: Hom giâm che bóng 75%.
Phương pháp phân tích xữ lý số liệu và thống kê: Để đánh giá kết quả trong các
thí nghiệm trên, dùng tiêu chuẩn khi bình phương (χ
2
) để phân tích và xữ lý số liệu
bằng các hàm thống kê trên phần mềm Exel, căn cứ kết quả đánh giá sai khác và chọn
công thức tốt nhất
3.2.4.Đề xuất biện pháp kỹ thuật giâm hom loài Keo lá liềm từ hom cây ưu tú ở
rừng trồng vùng cát ven biển miền Trung
Dựa vào các kết quả về chọn lọc cây ưu tú và kết quả triển khai các thí nghiệm
ở trên, đề xuất biện pháp kỹ thuật giâm hom Keo lá liềm từ hom cây ưu tú ở rừng
trồng vùng cát ven biển miền Trung
3.3 . Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Vùng duyên hải miền Trung gồm 2 tiểu vùng khí hậu là vùng duyên hải Bắc
Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ.
Duyên hải Bắc Trung Bộ gồm có 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế. Theo hệ thống phân vùng địa lý Việt
Nam, đây là khu vực chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ. Tổng diện
tích tự nhiên toàn vùng khoảng 51.526 km
2
, chiếm 15,5 % diện tích tự nhiên của cả
nước, dân số khoảng hơn 10 triệu người, chiếm khoảng 13,2% dân số cả nước. Đây là
một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của Việt Nam, là nơi có nhiều di sản
thế giới như: Vườn Quốc gia phong Nha-Kẻ Bàng, quần thể di tích cố đô Huế, Nhã
nhạc cung đình Huế
Đồng bằng ven biển của các tỉnh vùng này hẹp, khí hậu khắc nghiệt, mưa bão
cùng với gió mùa đông Bắc vào mùa thu, đông; Nắng nóng kết hợp gió lào khô và
nóng vào mùa hè, bên cạnh đó Tất cả các tỉnh vùng duyên hải Bắc trung Bộ đều có các
bãi cát và cồn cát, chiều rộng nơi thấp nhất khoảng vài kilômét, nơi rộng nhất lên đến
hàng chục kilômét. Tỉnh có diện tích đất cát nhiều nhất là Quảng Bình, Thừa Thiên
Huế, Quảng Trị. Các trảng cát, bãi cát và cồn cát di động đã gây khó khăn lớn cho sản
xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân, vì vậy để phát triển kinh tế xã
hội vùng này cần đẩy mạnh việc trồng các đai rừng phòng hộ, cải tạo đất, cải thiện môi
trường
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ là chạy dài từ nam đèo Hải Vân đến hết tỉnh
Bình Thuận. Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 44.360,7km
2
, dân số khoảng
8.842,6 nghìn người (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 2011). Vị trí địa lý : Phía
Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, Phía nam giáp với tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Phía
tây Giáp với nước bạn Lào và các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc phía đông giáp với
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status