Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây lá khôi (Ardisia silvestris pit.) bằng phương pháp giâm hom tại xã Tiên Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang - Pdf 24


S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ MINH NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
CÂY LÁ KHÔI (ARDISIA SILVESTRIS PIT.)
BẰNG PHƢƠNG PHÁP GIÂM HOM TẠI
XÃ TIÊN KIỀU – HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2013 S
THÁI NGUYÊN - 2013
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả
Đặng Thị Minh

gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn
thành luận văn.
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bản luận văn này chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được những ý kiến
đóng góp quí báu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học cùng bạn bè để
luận văn này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Đặng Thị Minh

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
ii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1. 1.Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Cơ sở tế bào học 4
1.1.2. Cơ sở di truyền học 5
1.1.3. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể 6
1.1.4. Sự hình thành rễ bất định 6
1.1.5. Cơ sở sinh lý của sự hình thành rễ bất định 7
1.1.5.1. Các nhân tố nội sinh 8
1.1.5.2. Các nhân tố ngoại sinh 11
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
1.3.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 18

3. Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Sở đồ bố trí các công thức thí nghiệm 28
Bảng 3.1: Tỷ lệ hom sống ở ngày 40, 80 và 120 ngày 35
Bảng 3.2. Kết quả xử lý hom sống sau 40 ngày giâm hom. 38
Bảng 3.3. Tỷ lệ ra rễ ở 40, 80 và 120 ngày tuổi 40
Bảng 3.4. Kết quả xử lý hom ra rễ ở 40 ngày 43
Bảng 3.5. Tỷ lệ ra rễ của hom Lá Khôi cuối đợt thí nghiệm. 44
Bảng 3.6. kết quả xử lý hom ra rễ ở cuối đợt thí nghiệm 46
Bảng 3.7. Kết quả về tỷ lệ nảy chồi ở 80 và 120 ngày tuổi 47
Bảng 3.8. Kết quả xử lý hom nảy chồi ở 80 ngày 50
Bảng 3.9. Tỷ lệ nảy chồi của hom Lá Khôi cuối đợt thí nghiệm. 51
Bảng 3.10. kết quả xử lý hom nảy mầm ở cuối dợt thí nghiệm 53


S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

vii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

I
a
: Công thức NAA nồng độ 50ppm
II
a
: Công thức NAA nồng độ 150ppm
III
a
: Công thức NAA nồng độ 250ppm
I
b
: Công thức ABT nồng độ 50ppm
II
b
: Công thức ABT nồng độ 150ppm
III
b

sản cũng được đem ra thị trường rộng lớn hơn dẫn đến việc khai thác quá mức
đã làm cho tài nguyên rừng dần bị cạn kiệt. Một số loài đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng, nhiều loài đáng báo động, và lâm sản ngoài gỗ cũng đang
đứng trước nguy cơ đó.
Trước đây, nhân dân chỉ biết vào rừng khai thác các loại lâm sản có sẵn
trong rừng tự nhiên mà không biết thuần hóa và gây trồng, có chăng thì cũng
chỉ là lác đác một vài hộ gia đình đem một hai cây về trồng ở vườn nhà để
làm cảnh hay làm thuốc và đến nay khi đã khai thác cạn kiệt đi rồi chúng ta
mới nhìn nhận ra được cái giá trị to lớn của nó đối với đời sống của người dân
sống phụ thuộc vào rừng nói riêng và toàn nhân loại nói chung. Việc phát tiển
kinh doanh các loại lâm sản ngoài gỗ này sẽ mang lại cho mỗi quốc gia một
nguồn thu rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với việc kinh doanh rừng theo lối
truyền thống. Đồng thời nó cũng là một giải pháp có triển vọng để ngăn chặn
nạn khai thác và hủy diệt rừng.
Đã có nhiều hướng giải quyết cho việc khai thác rừng quá mức, trong
đó trồng rừng cũng là một trong các giải pháp đó. Việc thuần hóa và gây
trồng các loài lâm sản ngoài gỗ có triển vọng cao là công việc cấp bách trước
mắt để góp phần ngăn chặn nạn phá rừng, đồng thời làm giàu rừng và góp
phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân sống

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

2
phụ thuộc vào rừng cũng như cứu lấy cả hành tinh của chúng ta. Để phục vụ
tốt cho công tác tái tạo rừng, kinh doanh rừng bền vững và bảo tồn nguồn gen
thì công tác giống là một khâu quan trọng. Trong khi đó, hầu như các loài cây
cảnh, cây lâm nghiệp, cây xanh đô thị là những loài có thời gian sinh trưởng
phát triển dài, có những loài không hoặc ít khi đậu quả . Như vậy việc nhân
giống từ hạt là rất khó và không thể đáp ứng được nhu cầu về giống cây hiện

cây Lá Khôi bằng phương pháp giâm hom. Nhân giống bằng phương pháp
giâm hom phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhóm các nhân tố nội sinh (tính di
truyền của loài, đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể, tuổi cây mẹ
lấy cành, vị trí cành và tuổi cành ) và nhóm các nhân tố ngoại sinh (độ ẩm,
ánh sáng, nhiệt độ, chất kích thích ra rễ ). Trong đó việc sử dụng chất kích
thích ra rễ là rất cần thiết nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo sự
thành công của công tác giống. Tuy nhiên nên sử dụng loại thuốc nào và nồng
độ ra sao thì chúng ta phải qua khảo nghiệm.
Để thử nghiệm ảnh hưởng của chất kích thích tới tỷ lệ sống, khả năng
ra rễ và ra chồi của hom giâm. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
kỹ thuật nhân giống cây Lá Khôi (Ardisia silvestris Pit.) bằng phương pháp
giâm hom tại Xã Tiên Kiều – Huyện Bắc Quang – Tỉnh Hà Giang”.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. 1.Cơ sở lý luận
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để
cung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước

hình thức phân bào trên là số lượng nhiễm sắc thể của tế bào khởi đầu và tế
bào mới được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm
hay nguyên phân. Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà
kết quả từ một tế bào ban đầu cho hai tế bào con có số lượng nhiễm sắc cũng
như cấu trúc và thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu.
Nhờ có quá trình nguyên phân mà các nhiễm sắc thể được phân phối
đồng đều, chính xác cho các tế bào con, ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân,
nhiễm sắc thể tự tái bản trước tiên theo chiều dọc rồi tách theo chiều ngang để
phân chia về các tế bào con đảm bảo cho tế bào con đều có bộ nhiễm sắc thể
như nhau. Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể tăng lên sau
đó nhờ quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát triển cá thể mà
tạo thành một cây con hoàn chỉnh. Đây là quá trình đảm bảo cho cây con tồn
tại tính trạng của cây mẹ.
Hom thân và hom cành là hom được cắt từ một phần cây non từ chồi
vượt hoặc cành non của cây. Một số loài như Tre, Luồng hom giâm có thể là
một đoạn thân, đoạn thân có gốc, đoạn cành hoặc đoạn gốc cành sát thân.
Hom của các loài cây gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây
(bao gồm cả chồi vượt). Các loại cành giâm thường gặp là cành non, cành hóa
gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ. Tùy loài cây và điều kiện thời
tiết lúc giâm hom mà chọn cành có khả năng ra rễ cao nhất.
Hom rễ là loại hom được cắt từ rễ cây. Một số loài cây có thể dùng rễ
để giâm hom như: Xoan, Long Não, Lê, Hồng Ngoài ra ở một số loài người
ta có thể giâm từ lá (Thu Hải Đường, Sống Đời ) hoặc từ củ (khoai lang
v.v )

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

6
Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất xứ, có loại hom dễ ra

7
Có hai loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh.
Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng
chỉ phát triển khi bộ phận của thân khi tách ra khỏi cây mẹ.
Rễ mới sinh: Là rễ được hình thành sau khi cắt và giâm hom. Khi đó
các tế bào ở chỗ bị cắt bị phá hủy, bị tổn thương và các tế bào dẫn truyền đã
chết của mô gỗ được mở ra là giai đoạn các chu trình trao đổi chất và vận
chuyển các chất trong thân cây, dẫn đến dòng nhựa luyện được dẫn từ phần lá
xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành nên mô sẹo,
đây là cơ sở hình thành rễ bất định [6].
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm ba giai đoạn:
Các tế bào bị thương ở vết cắt bị chết đi và hình thành nên một lớp tế
bào bị thối trên bề mặt.
Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành
lớp mô mềm (Callus) gọi là mô sẹo.
Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ.
Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau. Thông
thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin
rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự cần thiết cho sự ra rễ của hom, nhưng ở
nhiều loài cây sự xuất hiện mô sẹo và xuất hiện rễ độc lập nhau. Tuy nhiên sự
xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ. Mức độ hóa gỗ
cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom. Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ chiếm
nhiều thì khả năng ra rễ kém. Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổ biến
trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt hom cho đúng chiều [9]
1.1.5. Cơ sở sinh lý của sự hình thành rễ bất định
Thông thường người ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ
của hom giâm thành hai nhóm là: Nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố
ngoại sinh.

S

Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

9
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có
khả năng ra rễ khác nhau. Nghiên cứu ở Bạch đàn trắng Caman ở giai đoạn 4
tháng tuổi cho thấy rằng xuất xứ tại Katherine có tỷ lệ ra rễ là 95%. Trong khi
đó xuất xứ tại Gilbert River chỉ có tỷ lệ ra rễ là 50%, và tại Nghĩa Bình là
35% (Lê Dình Khả, Trần Cự, Lê Thị Xuân 1996). Thí nghiệm cho Phi lao 1
năm tuổi cũng cho thấy rằng những cây có tỷ lệ ra rễ cao thì cũng là những
cây có số rễ nhiều nhất và dài nhất
Vị trí cành và tuổi cành
Hom lấy từ các phần khác nhau trên thân sẽ có tỷ lệ ra rễ khác nhau.
Thông thường thì hom lấy từ các cành ở dưới dễ ra rễ hơn cành ở tầng trên,
cành cấp 1 dễ ra rễ hơn cành cấp 2, 3.
Một điểm khá rõ nét là cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây.
Vì vậy, ở một số loài cây người ta xử lý sao cho cây ra chồi vượt để lấy hom
giâm. Tuy nhiên, khả năng ra rễ của cành chồi vượt cũng phụ thuộc vào vị trí
lấy hom. Theo thực nghiệm thì đoạn ngọn có tỷ lệ ra rễ thấp nhất, các đoạn
giữa có tỷ lệ ra rễ tăng dần lên, đến đoạn gốc thì giảm xuống.
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ. Thông thường thì
cành nửa hóa gỗ (cành bánh tẻ) có tỷ lệ ra rễ lớn nhất, cành hóa gỗ thường
cho tỷ lệ ra rễ kém hơn. Như vậy cành nủa hóa gỗ và cây non thường cho tỷ lệ
ra rễ cao nhất.
Tuổi cây mẹ lấy hom và thời gian lấy hom
Khả năng ra rễ không những do tính di truyền quy định mà còn phụ
thuộc nhiều vào tuổi cây mẹ lấy cành. Thông thường cây chưa sinh sản bằng
hạt thì dễ nhân giống bằng hom hơn cây đã sinh sản bằng hạt, hom lấy từ

Rhizocalin có bản chất axits được Builenne và Went tổng hợp năm
1933. Đây được coi là chất đặc biệt cần thiết cho sự hình thành rễ của nhiều
loài cây và được gọi là Rhizocalin năm 1964.
Đồng nhân tố ra rễ (rooting co- factors). Hess (1961) cho rằng có một số
chất nội sinh điều phối hoạt động của IAA gây nên khởi động ra rễ và gọi là

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

11
đồng nhân tố. Một số chất thuộc loại này được xác định là axits chlorogenic,
axits isochlorogenic và chất kích thích khác chưa rõ. Nhưng nghiên cứu này
của các tác giả cũng ủng hộ quan điểm đồng nhân tố (Tewari, 1993).
Các chất kích thích ra rễ và các chất kìm hãm ra rễ: Nhiều nghiên cứu
đã nêu lên sự tồn tại của các chất kích thích ra rễ trong các mô của các loài
cây dễ ra rễ. Ví dụ, Sesquiterpenic lactone được tách từ lá cây Hướng dương
(Heliantus tuberrosus), Disyclic terpene được tách chiết từ cây rau sam
(Portulaca oleracea) đều là chất kích thích ra rễ cho cây đậu xanh (Phaseolus
aureus). Một số nhà khoa học còn nêu lên sự tồn tại của một số chất kìm hãm
như xanthoxin, axits abscisic (ABA) và một số chất khác có cấu trúc dang B-
triketon trong các chất chiết tách từ những hom khó ra rễ (Kundu, Andus,
1974; Nicholls, Crow và Paton, 1970).
Các chất kích thích và kìm hãm ra rễ đều có thể tồn tại ở hầu hết thực
vật, tiềm năng ra rễ của hom giâm được xác định bằng nồng độ tương đối của
các chất này. Các loài cây dễ ra rễ chứa nồng độ cao các chất kích thích ra rễ,
còn các loài khó ra rễ lại chứa nồng độ cao các chất kìm hãm ra rễ. Nghiên
cứu của Tueskaia (1975) cho những hom dễ ra rễ của Anh đào (Searus sp…),
Nho (Vitis vinifera) đã cho thấy rằng trong suốt quá trình ra rễ hoạt tính của
những chất kìm hãm giảm xuống rất nhanh, còn những chất kích thích ra rễ
lại được xuất hiện và được sử dụng. [7].

giâm hom tốt nhất cho nhiều loài cây là các tháng xuân hè và đầu thu.
Ánh sáng: Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong quá trình ra rễ của
hom giâm (Tewari, 1994). Không có ánh sáng và không có lá thì cây không
thể tiến hành quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không thể
có hoạt động ra rễ. Trừ một số loài cây đặc biệt như Nhài nhật có thể ra rễ
trong điều kiện che bóng 30 ngày. Song hầu hết các loài cây không thể ra rễ
trong điều kiện tối hoàn toàn.
Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên thường mạnh và kèm theo
nhiệt độ cao nên làm cho tỷ lệ ra rễ giảm. Vì thế, khi tiến hành giâm hom cần
phải che bóng thích hợp cho mỗi loài cây.

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

13
Chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom ở một số
loài cây ưa sáng. Ngoài ra, Tewari (1993) cho rằng thời gian chiếu sáng cũng
có ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm.
Trong thực tế ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm
thường mang tính chất tổng hợp theo kiểu phức hệ ánh sáng – nhiệt - ẩm mà
không phải từng yếu tố riêng lẻ. vì thế khi giâm hom phải chú tới tất cả các
yếu tố này.
Nhiệt độ: Nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm
(Pravidin, 1938). Ở nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không
ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị hỏng, từ đó làm giảm
tỷ lệ ra rễ. Hom cây Cacao (Theobroma cacao) ra rễ tốt nhất ở nhiệt độ trung
bình 25
o
C, nhưng khi nhiệt độ giảm xuống 8 – 12
o

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

14
thời gian phun và thời gian ngắt quãng có thể dài, trong mùa nắng thì ngược lại.
Nên áp dụng các tiến bộ kỹ thuật hiện đại để xây dựng vườn giâm hom kỹ thuật
cao có thể điều tiết các yếu tố cần thiết cho hom giâm hợp lý.
Giá thể và môi trường giâm hom: Giá thể cũng góp phần vào thành
công của giâm hom, các giá thể được dùng hiện nay chủ yếu là cát tinh, mùn
cưa, xơ dừa băm nhỏ hay đất vườn ươm. Khi giâm hom chỉ tạo cây ra rễ, sau
đó mới cấy hom vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, xơ dừa băm
nhỏ hoặc đất vườn ươm hoặc có sự trộn lẫn giữa chúng với cát tinh.
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
được độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước (trừ trường hợp giá thể
là môi trường nước), không bị nhiễm nấm bệnh, pH khoảng 6 – 7. Những
nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom Bạch đàn trắng trong các loại
ruột bầu khác nhau tại Đông Nam Bộ của GS. TS Lê Đình Khả, Kỹ sư Đoàn
Thị Bích, Trần Cự cho thấy:
Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% xơ dừa, tỷ lệ ra rễ của hom là 74.1%.
Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% than trấu, tỷ lệ ra rễ của hom là 72.1%.
Nếu ruột bầu là 50% xơ dừa + 50% than trấu, tỷ lệ ra rễ của hom là 63.9%.
Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom là 67.3%.
Nếu ruột bầu là 100% xơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48.3%.
Nếu ruột bầu là 100% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62.5%.
Các nhân tố của chất kích thích
Loại thuốc
Các chất kích thích điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc biêt quan trọng
trong quá trình hình thành rễ của hom giâm. Trong đó các Auxin được sử
dụng nhiều nhất. Các Auxin này được chia làm hai nhóm: Auxin tự nhiên và
Auxin nhân tạo.

Thời gian xử lý thuốc
Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ nhưng thời gian xử lý khác
nhau cũng cho kết quả khác nhau. Khi thực hiện thí nghiệm cần chú ý giữa

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

16
thời gian xử lý, nồng độ, nhiệt độ không khí có mối quan hệ nhất định. Với
thuốc kích thích sử dụng với nồng độ cao thì thời gian xử lý ngắn, còn thuốc
kích thích sử dụng nồng độ thấp thì thời gian xử lý dài.
Tóm lại, để giâm hom thành công thì cần phải thực hiện đầy đủ và
đồng bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến cây hom
giâm, tạo điều kiện thích hợp nhất cho hom giâm ra rễ. [7].
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng một số loài lâm
sản ngoài gỗ. Trong những năm 1950 có hàng loạt cuốn sách về chọn giống
cây rừng đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó có cuốn
“chọn giống cây rừng đại cương” (1951) của Syrach Lasen được đánh giá là
công trình có giá trị nhất lúc đó (Lê Đình Khả, 2001) [6].
Zhou Fangchun (2000) [19] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre
trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc.
Ở Malaysia bước đầu đã nghiên cứu tạo giống mây bằng phương pháp
nuôi cây mô, đã tiến hành thí nghiệm trồng song mây dưới tán các loại rừng
với các mật độ khác nhau. Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng mây
giống phục vụ cho gieo trồng trên quy mô lớn (dẫn theo Vũ Văn Dũng và
cộng sự, 2002) [4].
Xiao Jianghua (1996) đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá
trình sinh măng, sinh trường và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ,
dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status