ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ MINH
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
CÂY LÁ KHÔI (ARDISIA SILVESTRIS PIT.)
BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM TẠI
XÃ TIÊN KIỀU – HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ MINH
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
CÂY LÁ KHÔI (ARDISIA SILVESTRIS PIT.)
BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM TẠI
XÃ TIÊN KIỀU – HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Lâm học
M sè: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Kim Vui
như thực hiện luận văn.
Tác giả cũng xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lâm nghiệp,
khoa sau đại học, các cán bộ Ủy ban nhân dân xã Tiên Kiều đã tạo điều kiện
giúp đỡ cho tác giả theo học và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn bè và người thân trong
gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn
thành luận văn.
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bản luận văn này chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được những ý kiến
đóng góp quí báu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học cùng bạn bè để
luận văn này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Đặng Thị Minh
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................ii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................. 4
1. 1.Cơ sở lý luận .............................................................................................. 4
1.1.1. Cơ sở tế bào học...................................................................................... 4
1.1.2. Cơ sở di truyền học ................................................................................. 5
1.1.3. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể ............................................................. 6
1.1.4. Sự hình thành rễ bất định ........................................................................ 6
1.1.5. Cơ sở sinh lý của sự hình thành rễ bất định............................................ 7
1.1.5.1. Các nhân tố nội sinh............................................................................. 8
1. Kết luận ....................................................................................................... 58
3. Kiến nghị ..................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 60
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Sở đồ bố trí các công thức thí nghiệm ......................................... 28
Bảng 3.1: Tỷ lệ hom sống ở ngày 40, 80 và 120 ngày ................................... 35
Bảng 3.2. Kết quả xử lý hom sống sau 40 ngày giâm hom. ........................... 38
Bảng 3.3. Tỷ lệ ra rễ ở 40, 80 và 120 ngày tuổi.............................................. 40
Bảng 3.4. Kết quả xử lý hom ra rễ ở 40 ngày ................................................. 42
Bảng 3.5. Tỷ lệ ra rễ của hom Lá Khôi cuối đợt thí nghiệm. ......................... 44
Bảng 3.6. kết quả xử lý hom ra rễ ở cuối đợt thí nghiệm ............................... 46
Bảng 3.7. Kết quả về tỷ lệ nảy chồi ở 80 và 120 ngày tuổi ............................ 47
Bảng 3.8. Kết quả xử lý hom nảy chồi ở 80 ngày........................................... 49
Bảng 3.9. Tỷ lệ nảy chồi của hom Lá Khôi cuối đợt thí nghiệm.................... 50
Bảng 3.10. kết quả xử lý hom nảy mầm ở cuối dợt thí nghiệm...................... 52
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Hình ảnh cây Lá Khôi ..................................................................... 56
Hình 3.2. Ảnh hưởng của NAA và ABT đến khả năng ra rễ của hom Lá Khôi... 57
Hình 3.3. Ảnh hưởng của NAA và ABT đến khả năng .................................. 57
vii
CTTN
: công thức thí nghiệm
Thuốc NAA
: Axit napthlen axetic
Thuốc ABT
: Chế phẩm Trung Quốc
IAA
: Axit Indol Axetic
IBA
: Axit Indol Butylic
IPA
: Axit Indol Propionic
NST
: Nhiễm sắc thể
LSNG
tế thị trường phát triển, sản xuất theo hướng hàng hóa nên nhiều khu rừng đã
bị quy hoạch cho xây dựng các nhà máy, mở đường giao thông làm mất đi
một diện tích rừng khá lớn. Theo đó do mở rộng thị trường nên các loại lâm
sản cũng được đem ra thị trường rộng lớn hơn dẫn đến việc khai thác quá mức
đã làm cho tài nguyên rừng dần bị cạn kiệt. Một số loài đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng, nhiều loài đáng báo động, và lâm sản ngoài gỗ cũng đang
đứng trước nguy cơ đó.
Trước đây, nhân dân chỉ biết vào rừng khai thác các loại lâm sản có sẵn
trong rừng tự nhiên mà không biết thuần hóa và gây trồng, có chăng thì cũng
chỉ là lác đác một vài hộ gia đình đem một hai cây về trồng ở vườn nhà để
làm cảnh hay làm thuốc và đến nay khi đã khai thác cạn kiệt đi rồi chúng ta
mới nhìn nhận ra được cái giá trị to lớn của nó đối với đời sống của người dân
sống phụ thuộc vào rừng nói riêng và toàn nhân loại nói chung. Việc phát tiển
kinh doanh các loại lâm sản ngoài gỗ này sẽ mang lại cho mỗi quốc gia một
nguồn thu rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với việc kinh doanh rừng theo lối
truyền thống. Đồng thời nó cũng là một giải pháp có triển vọng để ngăn chặn
nạn khai thác và hủy diệt rừng.
Đã có nhiều hướng giải quyết cho việc khai thác rừng quá mức, trong
đó trồng rừng cũng là một trong các giải pháp đó. Việc thuần hóa và gây
trồng các loài lâm sản ngoài gỗ có triển vọng cao là công việc cấp bách trước
mắt để góp phần ngăn chặn nạn phá rừng, đồng thời làm giàu rừng và góp
phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân sống
2
phụ thuộc vào rừng cũng như cứu lấy cả hành tinh của chúng ta. Để phục vụ
tốt cho công tác tái tạo rừng, kinh doanh rừng bền vững và bảo tồn nguồn gen
thì công tác giống là một khâu quan trọng. Trong khi đó, hầu như các loài cây
cảnh, cây lâm nghiệp, cây xanh đô thị là những loài có thời gian sinh trưởng
phát triển dài, có những loài không hoặc ít khi đậu quả . Như vậy việc nhân
giâm hom phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhóm các nhân tố nội sinh (tính di
truyền của loài, đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể, tuổi cây mẹ
lấy cành, vị trí cành và tuổi cành...) và nhóm các nhân tố ngoại sinh (độ ẩm,
ánh sáng, nhiệt độ, chất kích thích ra rễ...). Trong đó việc sử dụng chất kích
thích ra rễ là rất cần thiết nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo sự
thành công của công tác giống. Tuy nhiên nên sử dụng loại thuốc nào và nồng
độ ra sao thì chúng ta phải qua khảo nghiệm.
Để thử nghiệm ảnh hưởng của chất kích thích tới tỷ lệ sống, khả năng
ra rễ và ra chồi của hom giâm. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
kỹ thuật nhân giống cây Lá Khôi (Ardisia silvestris Pit.) bằng phương pháp
giâm hom tại Xã Tiên Kiều – Huyện Bắc Quang – Tỉnh Hà Giang”.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. 1.Cơ sở lý luận
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để
cung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước
cải thiện giống theo phương thức sinh sản thích hợp.
Như ta đã biết thực vật bậc cao có hai hình thức sinh sản chủ yếu: Sinh
sản hữu tính (bằng hạt) và sinh sản sinh dưỡng (bằng hom, chiết ghép, nuôi
cấy mô...). Sinh sản bằng hạt tạo ra cây con khỏe mạnh nhưng lâu có quả và
khó giữ được đặc tính di truyền tốt của cây mẹ. Để giữ được đặc tính tốt của
cây giống người ta thường dùng các phương thức nhân giống sinh dưỡng.
Nhân giống sinh dưỡng là phương pháp dựa trên cơ sở phân bào nguyên
nhiễm. Đây là phương thức phân bào về cơ bản không có sự tái tổ hợp của
chất liệu di truyền cho nên các cây mới được tạo ra (thực chất là một phần của
cây mẹ) vẫn giữ được đặc tính vốn có của cây mẹ lấy vật liệu giống.
Nhân giống bằng hom (cutting propagation): Là phương pháp dùng một
Hom thân và hom cành là hom được cắt từ một phần cây non từ chồi
vượt hoặc cành non của cây. Một số loài như Tre, Luồng hom giâm có thể là
một đoạn thân, đoạn thân có gốc, đoạn cành hoặc đoạn gốc cành sát thân.
Hom của các loài cây gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây
(bao gồm cả chồi vượt). Các loại cành giâm thường gặp là cành non, cành hóa
gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ. Tùy loài cây và điều kiện thời
tiết lúc giâm hom mà chọn cành có khả năng ra rễ cao nhất.
Hom rễ là loại hom được cắt từ rễ cây. Một số loài cây có thể dùng rễ
để giâm hom như: Xoan, Long Não, Lê, Hồng...Ngoài ra ở một số loài người
ta có thể giâm từ lá (Thu Hải Đường, Sống Đời...) hoặc từ củ (khoai lang
v.v...)
6
Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất xứ, có loại hom dễ ra
rễ có loại hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ tốt hơn chồi nách, đặc
biệt là cành chồi vượt dễ ra rễ hơn là cành lấy từ tán cây.
Mỗi loài cây có một loại hom phù hợp riêng, tùy từng loài cây mà lấy
hom ở tuổi, vị trí nào cho phù hợp.
1.1.3. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể
Bất kỳ một sinh vật nào trong quá trình sinh trưởng và phát triển đều
dưới sự điều hòa của bộ gen do môi trường xung quanh diều chỉnh. Môi
trường ở đây gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài ảnh hưởng
đến tế bào chất. Trong những thời gian nhất định trong bộ gen sẽ có những
gen hoạt động theo điều kiện nhất định và được điều khiển nhịp nhàng theo
môi trường với sự phát triển cá thể đặc trưng cho từng loài cụ thể.
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây được thể hiện qua các giai
đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục, khả năng ra chồi, rễ của các bộ phận là
rất khác nhau, ở bộ phận thuộc giai đoạn non trẻ khả năng này lớn hơn ở giai
đoạn trưởng thành nhiều. Do vậy việc xử lý trẻ hóa là một biện pháp quan trọng
thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin
rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự cần thiết cho sự ra rễ của hom, nhưng ở
nhiều loài cây sự xuất hiện mô sẹo và xuất hiện rễ độc lập nhau. Tuy nhiên sự
xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ. Mức độ hóa gỗ
cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom. Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ chiếm
nhiều thì khả năng ra rễ kém. Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổ biến
trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt hom cho đúng chiều [9]
1.1.5. Cơ sở sinh lý của sự hình thành rễ bất định
Thông thường người ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ
của hom giâm thành hai nhóm là: Nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố
ngoại sinh.
8
Các nhân tố thuộc nhóm thứ nhất là những đặc điểm di truyền của loài,
của xuất xứ và của cá thể, vai trò của tuổi cây, tuổi cành, vị trí cành, pha phát
triển và các chất điều tiết sinh trưởng. Nhóm thứ hai là các loại hóa chất kích
thích ra rễ và các nhân tố hoàn cảnh như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ, thời vụ
giâm hom...
1.1.5.1. Các nhân tố nội sinh
Đặc điểm di truyền của loài
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả
năng ra rễ như nhau. Nanda (1970) đã dựa theo khả năng ra rễ để chia các loài
cây thành ba nhóm chính:
Nhóm dễ ra rễ gồm 29 loài bao gồm một số loài thuộc các chi Ficus sp,
Salix sp, Populus sp...
Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài thuộc các chi như: Manlus sp, Rrunus sp,
Pyrus sp,...thuộc họ Rosaceae, một số chi khác như: Aesculus sp, Bauhinia...
Nhóm có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài trong đó có các chi:
Eucaluptus sp, Taxus sp...Tuy vậy, sự phân chia này chỉ có ỹ nghĩa tương đối vì
giữa có tỷ lệ ra rễ tăng dần lên, đến đoạn gốc thì giảm xuống.
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ. Thông thường thì
cành nửa hóa gỗ (cành bánh tẻ) có tỷ lệ ra rễ lớn nhất, cành hóa gỗ thường
cho tỷ lệ ra rễ kém hơn. Như vậy cành nủa hóa gỗ và cây non thường cho tỷ lệ
ra rễ cao nhất.
Tuổi cây mẹ lấy hom và thời gian lấy hom
Khả năng ra rễ không những do tính di truyền quy định mà còn phụ
thuộc nhiều vào tuổi cây mẹ lấy cành. Thông thường cây chưa sinh sản bằng
hạt thì dễ nhân giống bằng hom hơn cây đã sinh sản bằng hạt, hom lấy từ
những cây tuổi còn non dễ ra rễ hơn những cây tuổi già. Cây non không những
có tỷ lệ ra rễ cao hơn mà thời gian ra rễ còn ngắn hơn. Ví dụ ở Vân sam hom
lấy từ cây 30 – 50 tuổi phải sau 150 ngày mới ra rễ, trong khi hom lấy từ cây 6
– 8 tuổi thì sau 60 – 70 ngày hom đã ra rễ (Komisarov, 1964).
10
Sự tồn tại của lá trên hom
Lá là cơ quan hấp thụ ánh sáng trong quang phổ để tạo ra các chất cần
thiết cho cây, đồng thời là cơ quan thoát hơi nước để khuếch tán tác dụng của
các chất kích thích ra rễ tới các bộ phận của hom. Lá cũng là cơ quan điều tiết
các chất điều hòa sinh trưởng ở hom giâm, vì thế khi giâm hom thì nhất thiết
phải để lại một diện tích lá cần thiết. Không có lá thì hom không thể ra rễ,
song nếu để diện tích lá quá lớn thì quá trình thoát hơi nước quá mạnh làm
hom héo và chết trước khi ra rễ. Khi chuẩn bị hom giâm phải có 1 – 2 lá và
phải cắt bớt một phần phiến lá chỉ để lại 1/3 – 1/2 diện tích lá là tốt nhất. [12].
Kích thước hom
Đường kính và chiều dài hom cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom
giâm. Các thí nghiệm của trung tâm nhân giống cây rừng cho thấy chiều dài
hom Bạch đàn, Keo từ 7 – 10cm, Phi lao từ 10 – 12cm là thích hợp. Tuy
nhiên để xác định kích thước hom thích hợp cho mỗi loài thì cần phải trải qua
cứu của Tueskaia (1975) cho những hom dễ ra rễ của Anh đào (Searus sp…),
Nho (Vitis vinifera) đã cho thấy rằng trong suốt quá trình ra rễ hoạt tính của
những chất kìm hãm giảm xuống rất nhanh, còn những chất kích thích ra rễ
lại được xuất hiện và được sử dụng. [7].
1.1.5.2. Các nhân tố ngoại sinh
Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến quá trình ra rễ của hom giâm
trước hết là điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, các nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình giâm hom như: Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giá
thể giâm hom.[3].
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây
mẹ lấy cành có ảnh hưởng khá rõ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, nhất là hom
12
lấy từ những cây non. Theo Enright (1959) thì hom lấy từ cây 3 tuổi của các
loài Picea abies, Pinus resinosa… có bón phân hữu cơ và phân khoáng có tỷ
lệ ra rễ cao hơn rõ rệt so với hom cây lấy từ cây không được bón phân.
Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành cũng ảnh hưởng đến khả năng
ra rễ của hom giâm. Ví dụ, hom lấy từ cây liễu (Salix sp) được chiếu sáng 18
giờ/ ngày có tỷ lệ ra rễ 100%, trong khi hom lấy từ cây được chiếu sáng 9 giờ/
ngày đã hoàn toàn không ra rễ.
Thời vụ giâm hom: Là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh
hưởng tới sự ra rễ của hom giâm. Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời
vụ lấy cành và thời vụ giâm hom. Một số loài có thể giâm hom quanh năm
song cũng có cây có tính thời vụ rõ rệt. Theo Frison (1967) và Nesterov
(1967) thì mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ nhiều nhất ở nhiều loài
cây, trong khi một số loài khác thì lại có tỷ lệ ra rễ cao hơn vào mùa xuân.
Hom được lấy trong các thời kỳ cây mẹ có hoạt động sinh trưởng mạnh
thường có tỷ lệ ra rễ cao hơn các thời kỳ khác.
Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn liền với yếu tố
(Nguyễn Ngọc Tân và cộng sự, 1984). Các loài ở vùng vĩ tuyến lạnh cần nhiệt
độ trong nhà giâm hom thích hợp là 23 – 27oC, nhiệt độ giá thể thích hợp nhất
là 22 – 24oC (Dansin, 1983). Nói chung thì nhiệt độ không khí trong nhà giâm
hom nên cao hơn nhiệt độ giá thể 2 – 3oC.
Độ ẩm: Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hêt sức quan
trọng trong quá trình giâm hom. Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia
tế bào và chuyển hóa trong cây đều cần tới nước. Thiếu nước thì hom bị héo,
thừa nước thì hoạt động của men thủy phân tăng lên, quá trình quang hợp bị
ngưng trệ. Khi giâm hom mỗi loài cây đều cần một độ ẩm thích hợp, làm mất
độ ẩm của hom 15% thì hom không có khả năng ra rễ.
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm thay đổi theo loài, theo mức độ hóa gỗ của
hom. Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, giúp làm tăng độ
ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá. Trong mùa lạnh
14
thời gian phun và thời gian ngắt quãng có thể dài, trong mùa nắng thì ngược lại.
Nên áp dụng các tiến bộ kỹ thuật hiện đại để xây dựng vườn giâm hom kỹ thuật
cao có thể điều tiết các yếu tố cần thiết cho hom giâm hợp lý.
Giá thể và môi trường giâm hom: Giá thể cũng góp phần vào thành
công của giâm hom, các giá thể được dùng hiện nay chủ yếu là cát tinh, mùn
cưa, xơ dừa băm nhỏ hay đất vườn ươm. Khi giâm hom chỉ tạo cây ra rễ, sau
đó mới cấy hom vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, xơ dừa băm
nhỏ hoặc đất vườn ươm hoặc có sự trộn lẫn giữa chúng với cát tinh.
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
được độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước (trừ trường hợp giá thể
là môi trường nước), không bị nhiễm nấm bệnh, pH khoảng 6 – 7. Những
nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom Bạch đàn trắng trong các loại
ruột bầu khác nhau tại Đông Nam Bộ của GS. TS Lê Đình Khả, Kỹ sư Đoàn
Thị Bích, Trần Cự cho thấy:
Ta đã biết cùng một loại thuốc kích thích sinh trưởng nhưng nồng độ
khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ của hom. Tùy từng loài cây
mà hom của chúng thích ứng với một loại chất cũng như nồng độ nhất định.
Nếu nồng độ chất kích thích thấp sẽ không có tác dụng phân hóa tế bào để
hình thành rễ, nếu nồng độ cao quá sẽ ức chế qúa trình hình thành rễ làm cho
hom thối rữa. Khi chọn lựa nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt
độ không khí và mức độ hóa gỗ của hom. Trong quá trình giâm hom khi điều
kiện nhiệt độ không khí quá cao thì cần phải xử lý nồng độ thấp hơn và ngược
lại. Nếu hom quá non (chưa hóa gỗ) phải xử lý nồng độ thấp, ngược lại hom
hơi già (gần hóa gỗ hoàn toàn) phải xử lý nồng độ cao hơn.
Thời gian xử lý thuốc
Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ nhưng thời gian xử lý khác
nhau cũng cho kết quả khác nhau. Khi thực hiện thí nghiệm cần chú ý giữa
16
thời gian xử lý, nồng độ, nhiệt độ không khí có mối quan hệ nhất định. Với
thuốc kích thích sử dụng với nồng độ cao thì thời gian xử lý ngắn, còn thuốc
kích thích sử dụng nồng độ thấp thì thời gian xử lý dài.
Tóm lại, để giâm hom thành công thì cần phải thực hiện đầy đủ và
đồng bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến cây hom
giâm, tạo điều kiện thích hợp nhất cho hom giâm ra rễ. [7].
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng một số loài lâm
sản ngoài gỗ. Trong những năm 1950 có hàng loạt cuốn sách về chọn giống
cây rừng đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó có cuốn
“chọn giống cây rừng đại cương” (1951) của Syrach Lasen được đánh giá là
công trình có giá trị nhất lúc đó (Lê Đình Khả, 2001) [6].
Zhou Fangchun (2000) [19] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre
trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc.