Phân mảnh đất đai của hộ và phân mảnh đất đai giữa các hộ
trong nông nghiệp ở Việt Nam Thomas Markussen
Nhóm Nghiên cứu Kinh tế phát triển (DERG), Trường Đại học Copenhagen
Finn Tarp
Nhóm Nghiên cứu Kinh tế phát triển (DERG), Trường Đại học Copenhagen, và UNU-WIDER, Helsinki
Đỗ Huy Thiệp
Trung tâm Chính sách Nông nghiệp (CAP),
Viện Chiến lược và Chính sách Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (IPSARD)
Nguyễn Đỗ Anh Tuấn
Trung tâm Chính sách Nông nghiệp (CAP),
Viện Chiến lược và Chính sách Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (IPSARD)
2
1. Giới thiệu
1
Phân mảnh đất đai là vấn đề quan trọng ở nhiều nước đang phát triển. Tăng trưởng dân số nông thôn, cùng
với tập quá thừa kế (phân chia bình đẳng), làm cho các hộ nông nghiệp ngày càng nhỏ đi và các mảnh đất
1
Chúng tôi cảm ơn Đại sứ quán Hoàng gia Đan Mạch tại Việt Nam đã hỗ trợ về mặt tài chính, Viện Khoa học Lao động
và Xã hội đã thu thập số liệu, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) đã hợp tác nghiên cứu và Frida
Nanneson đã hỗ trợ nghiên cứu.
3
này làm năng suất lao động của các nông hộ này thấp hơn so với lao động gia đình, do họ gặp khó khăn trong
việc quản lý. Tuy nhiên, ở Việt Nam, không nhiều hộ đạt được quy mô này khi hầu hết các công việc có thể
được thực hiện bởi các thành viên của gia đình. Việc thuê lao động trong những thời gian gieo trồng và thu
hoạch là phổ biến, nhưng chủ yếu lao động nông nghiệp là lao động gia đình. Bởi vậy mối quan hệ ngược
giữa năng suất với quy mô nông hộ có thể không đúng ở Việt Nam.
Xem xét các tác động của việc phân mảnh đất đai của hộ, rõ ràng rằng sản xuất gặp nhiều vấn đề hơn đối với
các hộ có đất bị phân mảnh nhiều hơn, do phải di chuyển lao động và các trang thiết bị, nông cụ giữa các
mảnh, và duy trì các đường bao giữa các mảnh. Mặt khác, việc có nhiều mảnh đất ở mức độ nào đó có thể
đảm bảo cho người sở hữu giảm được các rủi ro của việc thất bại mùa màng, lũ lụt, v.v Sự bảo đảm này
quay trở lại có thể làm tăng sự sẵn sàng để thử nghiệm với các cây trồng mới và các công nghệ, kỹ thuật
khác và điều này cũng có thể có tác động dương đến năng suất. Bởi vậy, đối với cả phân mảnh đất trong hộ
và phân mảnh đất đai giữa các hộ, việc dự báo đúng các tác động của phân mảnh đất đai đến năng suất là
không rõ ràng. Điều này giải thích tại sao phân tích thực nghiệm là quan trọng.
Về các yếu tố quyết định đến phân mảnh đất đai, trong trường hợp của Việt Nam, rõ ràng rằng các chính
sách phân bổ đất đai theo chủ nghĩa bình quân của chính phủ ở giai đoạn phi tập thể hóa cuối những năm
1980 và đầu những năm 1990 là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phân mảnh đất đai hiện nay, mặc dù
các áp lực về dân số và các cách phân chia thừa kế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra tình trạng
này. Những sự giảm đi trong phân mảnh đất đai có thể là do cả các yếu tố thị trường và những sự can thiệp
của chính phủ và cộng đồng. Chúng tôi nghiên cứu những tác động của các thị trường cho thuê và mua bán
đất và các chương trình dồn điền đổi thửa của chính phủ trong việc làm giảm đi các mức độ phân mảnh đất
đai giữa các hộ cũng như trong một hộ.
Bài viết được kết cấu như sau: Phần 2 trình bày số liệu được sử dụng, các định nghĩa về các biến chính và
các thống kê miêu tả. Phần 3 trình bày các phân tích đa biến ở cấp độ hộ về các tác động của phân mảnh đất
Các biến chính
Mục tiêu của bài viết là phân tích các yếu tố quyết định đến phân mảnh đất đai giữa các hộ cũng như trong
hộ và các tác động của việc phân mảnh đất đai này. Để nghiên cứu các tác động của việc phân mảnh đất đai
giữa các hộ, chúng tôi thực hiện các phân tích ở cấp độ hộ cũng như cấp độ mảnh và tập trung vào tác động
của quy mô đất nông nghiệp đến năng suất, sử dụng lao động, cơ giới hóa và lựa chọn cây trồng. Một vấn đề
nan giải chính là nên đo quy mô nông hộ bằng diện tích đất nông nghiệp được sở hữu, hay diện tích đất nông
nghiệp đang sử dụng (đất sở hữu cộng với đất đi thuê và trừ đi đất cho thuê). Do chúng tôi chủ yếu quan tâm
đến đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp nên chúng tôi sử dụng diện tích đất đang sử dụng. Khi chỉ
5% đất là được thuê, sự lựa chọn giữa diện tích đất đang sở hữu và diện tích đất đang sử dụng chỉ tác động
đến các kết quả một cách không đáng kể. Các mảnh đất dùng để ở chỉ được tính trong diện tích đất đang
được sử dụng khi và chỉ khi các diện tích này được sử dụng cho trồng trọt.
Việc đo mức độ phân mảnh đất đai trong hộ là phức tạp hơn. Phân bổ quy mô, số lượng và phân bổ về mặt
không gian của các mảnh đất đều có thể phù hợp. Trên thực tế việc xác định yếu tố nào trong số các yếu tố
2
Xem CIEM và cộng sự (2009) cho thông tin chi tiết hơn. Các tỉnh được chọn, theo vùng là: ĐBSH: Hà Tây (cũ).
Đông Bắc: Lào Cai, Phú Thọ. Tây Bắc: Lai Châu, Điện Biên. Duyên hải Bắc Bộ: Nghệ An. Duyên hải Nam bộ: Quảng
Nam, Khánh Hòa. Tây Nguyên: Đắk Lăk, Đắk Nông, Lâm Đồng. ĐBSCL: Long An.
3
Thêm vào đó, 991 hộ ở các xã vùng cao được lựa chọn đã được phỏng vấn năm 2008. Trong đó 951 hộ được phỏng
vấn lại năm 2010. Các hộ này được điều tra nhằm đánh giá chương trình chính sách của Danida đang được thực hiện ở
các vùng này. Do các mẫu này không có tính đại diện về mặt thống kê nên chúng tôi không sử dụng chúng.
5
này là quan trọng nhất là không rõ. Ví dụ, nếu vấn đề chính liên quan đến phân mảnh đất đai trong hộ là thời
gian di chuyển giữa các mảnh đất, và từ nhà đến các mảnh đất, thì vấn đề phân bổ về mặt không gian nên
được lựa chọn. Mặt khác, nếu vấn đề chính liên quan đến phân mảnh đất đai trong hộ là nỗ lực cần thiết để
duy trì các đường bao (như các hàng rào, đường đê) thì các khoảng cách giữa các mảnh và nhà của hộ có vai
trò ít quan trọng hơn. Trong các phân tích ở cấp độ hộ, chúng tôi khai thác 3 cách đo khác nhau về mức độ
đề thực hành đòi hỏi kỹ năng cao liên quan đến việc đo lợi nhuận. Đặc biệt, hầu hết các nông hộ ở các nước
đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam, phụ thuộc nhiều vào việc sử dụng lao động gia đình. Việc đạt được
ước lượng lợi nhuận bằng tiền đòi hỏi phải có định giá đầu vào lao động gia đình bằng tiền. Cách tiếp cận
chuẩn là định giá lao động gia đình theo mức tiền công ở địa phương cho các lao động nông nghiệp không có
kỹ năng. Tuy nhiên, phương pháp này có thể không đảm bảo do: Trên thực tế, cầu lao động trong nông
nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thời vụ sản xuất. Nhu cầu lao động là cao trong suốt giai đoạn trồng và thu
hoạch, và thấp trong thời điểm ở giữa hai giai đoạn này. Điều này đặc biệt đúng đối với trồng lúa, một cây
trồng phổ biến ở Việt Nam. Việc thuê lao động nông nghiệp ở các tháng gieo trồng và thu hoạch cao hơn
nhiều so với các tháng còn lại. Do đó, các mức tiền công được ghi lại chủ yếu phản ánh các điều kiện ở các
tháng cao điểm về cầu lao động, khi đó tiền công là cao hơn ở các tháng khác. Mặt khác, khi điều tra, như
VARHS, hỏi các hộ về số ngày lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, những lao động không có
ngành nghề khác ngoài hoạt động nông nghiệp thường trả lời là gần như toàn bộ số ngày trong năm, bao gồm
6
cả các ngày trong thời kỳ nông nhàn. Việc định giá lao động này, khi các mức tiền công ở địa phương cao
hơn giá trị thực tế, là giá trị bóng của lao động nông nghiệp. Các vấn đề này được giải quyết ở đây bằng cách
giả sử rằng các mức tiền công bóng bằng với các mức tiền công ở địa phương trong thời kỳ mùa vụ cao điểm
và bằng 0 trong thời kỳ nông nhàn. Nông dân Việt Nam điển hình tròng hai vụ một năm. Nếu mỗi vụ thời
gian trồng và thu hoạch là 15 ngày, số ngày mùa cao điểm là khoảng 60 ngày cho một cây trồng. Theo đó,
chúng tôi định giá lao động gia đình theo mức tiền công địa phương cho khoảng 60 ngày/cây và bằng 0 đối
với thời gian còn lại.
4Các thống kê miêu tả được trình bày trong Bảng 2 cho thấy các mức lợi nhuận trung bình theo định nghĩa
này là gần bằng 0, phù hợp với giả sử về hành vi lạc quan và các thị trường lao động cạnh tranh vào thời
điểm chính vụ nhưng dư thừa vào thời kỳ nông nhàn.
Chúng tôi cũng quan tâm đến việc đo lường các tác động của năng suất đến đầu vào lao động trong nông
nghiệp. Điều này là thú vị không chỉ bởi tác động của việc sử dụng lao động đến lợi nhuận trong nông
Thống kê miêu tả
Bảng 1 thể hiện các thống kê miêu tả về phân mảnh đất đai giữa các hộ và trong hộ năm 2010, theo tỉnh và
theo vùng. Các kết quả cho thấy phân bổ đất đai ở Việt Nam được đặc trưng bởi các mức độ phân mảnh rất
cao, đặc biệt ở các tỉnh phía Bắc của Việt Nam. Ở các vùng đồng bằng phía Bắc, quy mô đất nông nghiệp
trung bình một hộ ít hơn 0,25 hecta. Tuy nhiên, đất nông nghiệp của hộ trung bình được chia thành 5,5 mảnh
khác nhau. Phân mảnh đất đai trong hộ thậm chí cao hơn ở các vùng miền núi phí Bắc, mặc dù quy mô đất
bình quân ở các vùng này cao hơn quy mô đất bình quân ở các vùng đất thấp, điều này phản ánh rõ chất
lượng đất thấp hơn rất nhiều ở các vùng đồi núi. Phân mảnh đất đai ít được nói đến hơn ở các tỉnh phía Nam.
Các hộ nông nghiệp có quy mô lớn hơn, nhưng lại được chia thành ít mảnh hơn. Thực trạng này do các yếu
tố mang tính lịch sử. Mật độ dân số, và do đó mức độ khan hiếm đất đai và phân mảnh đất đai đã được nói
đến rất nhiều ở các tỉnh phía Bắc hơn là ở các tỉnh phía Nam, thậm chí ngay cả trong các giai đoạn tiền thực
dân và thực dân (Gourou 1936, Popkin 1979). Tuy nhiên, như đã được thảo luận trong phần giới thiệu, nhân
tố chính đằng sau thực trạng này là chính sách phân bổ đất đai của Chính phủ trong giai đoạn phi tập thể hóa
sau Nghị quyết 10 năm 1988. Các nguyên tắc phân bổ đất đai theo chủ nghĩa bình quân có nghĩa rằng đất
nông nghiệp được phân bổ đều cho các hộ và tất cả các hộ được nhận cả đất có chất lượng tốt cũng như đất
có chất lượng không tốt. Do quá trình tập thể hóa ở miền Bắc diễn ra mạnh mẽ hơn ở miền Nam nên quá
trình này tác động đến miền Bắc nhiều hơn miền Nam (Ravallion và De Walle 2008a). Ngoài các chính sách
của nhà nước, phân mảnh đất đai cũng bị tác động bởi các cách phân chia thừa kế và hoạt động của các thị
trường đất đai, vấn đề này chúng tôi sẽ quay trở lại trong Phần 4 ở dưới. Ngay cả khi phân bổ đất đai ở Việt
Nam bằng với các mức chuẩn của quốc tế thì vẫn có một số sự bất bình đẳng. Phân bổ đất đai dưới dạng hình
lệch sang phải thể hiện đặc điểm phân bổ của hầu hết các tài sản hay thu nhập, điều này giải thích tại sao đất
được sở hữu trung bình là cao hơn mức trung vị ở tất cả các vùng.
Bảng 2 thể hiện các số liệu thống kê về đầu vào và đầu ra trong nông nghiệp, theo 5 nhóm quy mô nông hộ.
Đây là bước đầu tiên trong phân tích của chúng tôi về các tác động của phân mảnh đất đai giữa các hộ. Bảng
A1 trong phụ lục trình bày các kết quả theo vùng. Giá trị sản lượng, giá trị đầu vào không phải lao động,
ngày công lao động và lợi nhuận bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài. Do đó, một 1% đầu và cuối của các
biến này là được loại bỏ đi, tương tự với cách tiếp cận được sử dụng trong Hsieh và Klenow 2009. Các kết
quả thể hiện các tác động mạnh của quy mô đất nông hộ. Giá trị sản lượng trên 1 ha giảm đáng kể theo diện
tích đang sử dụng. Điều này có thể phần nào phản ánh những sự khác nhau về chất lượng đất, do đó chúng
không mạnh như các tác động của quy mô hộ được trình bày trong Bảng 2. Trong một vài trường hợp, các
tác động của phân mảnh đất đai trong hộ cũng không tăng đều. Giá trị sản lượng trên 1 ha là nhỏ nhất đối với
các hộ chỉ có một mảnh đất. Giá trị này cao nhất ở các hộ có 2 mảnh và sau đó giảm dần. Mô hình tương tự
cũng được tìm thấy đối với các đầu vào không phải là lao động trên 1 ha và lợi nhuận trên 1 ha. Lợi nhuận
trên 1 ha thực tế tăng ở các hộ có nhiều hơn 4 mảnh. Đối với lao động, mức độ tập trung lao động cao nhất
được tìm thấy ở các hộ chỉ có một mảnh, nhưng mức độ tập trung lao động cao thứ hai lại được tìm thấy ở
các hộ có nhiều hơn 9 mảnh. Mức độ tập trung lao động tăng không đáng kể nhưng đều từ các hộ có 2 đến 3
mảnh đến các hộ có nhiều hơn 9 mảnh. Tuy nhiên, Bảng A2 cho thấy kết quả này thể hiện ngược lại khi các
9
vùng được xem xét riêng biệt. Do đó, các thống kê mô tả này không hỗ trợ một cách trực tiếp quan điểm
rằng phân mảnh đất đai trong hộ đi cùng với mức độ tập trung lao độngk cao hơn và năng suất lao động thấp
hơn. Mối quan hệ giữa số mảnh và sở hữu máy gặt là không đều. Số mảnh lớn hơn làm tăng xác suất của
việc sở hữu máy gặt. Do vậy, các kết quả này không hỗ trợ cho quan điểm rằng phân mảnh đất đai trong hộ
làm giảm mức độ cơ giới hóa. Tuy nhiên, chúng ta nên cẩn thận về việc đưa ra kết luận về tính nhân quả từ
các bảng miêu tả thống kê này.
Phân mảnh đất đai trong hộ có mối quan hệ dương và mạnh với việc trồng lúa. Ngược lại, các hộ có đất bị
phân mảnh thường ít trồng các cây trồng lâu năm hơn các hộ có đất tập trung. 3. Các phân tích đa biến về các tác động của phân mảnh
Để có thể kiểm soát được tác động tiềm năng của các biến “thứ ba”, các biến có thể làm sai lệch các ước
lượng về các tác động của phân mảnh đất đai, chúng tôi quay trở lại các phân tích hồi quy đa biến. Các phân
tích này khai thác số liệu lặp của VARHS 2008-2010. Trong phần này, chúng tôi trình bày hồi quy ở cấp độ
hộ cho lợi nhuận, giá trị sản lượng, giá trị các đầu vào không phải lao động và đầu vào lao động. Đối với 3
biến sau, chúng tôi sử dụng kỹ thuật logarit, kỹ thuật làm giảm tác động của các yếu tố bên ngoài và làm cho
mô hình trở nên phù hợp hơn. Tuy nhiên, khi cách tính lợi nhuận bao gồm nhiều giá trị âm, kỹ thuật logarit
không phù hợp cho mô hình lợi nhuận. Các hồi quy tác động ngẫu nhiên được sử dụng. Các biến giả của tỉnh
sự sẵn sàng của nông dân trong việc thử nghiệm các công nghệ, kỹ thuật mới, tiên tiến có thể đem lại nhiều
lợi nhuận hơn trong sản xuất nông nghiệp.
Các kết quả cho các biến kiểm soát nhìn chung phù hợp với các kỳ vọng. Tỷ lệ đất trồng cây lâu năm càng
lớn thì lợi nhuận càng lớn, nhưng các phân tích cho từng vùng thấy rằng tác động này chỉ có ý nghĩa thống
kê ở các tỉnh Tây Nguyên, nơi chủ yếu trồng cà phê. Thủy lợi, khía cạnh khác của chất lượng đất và năm đi
học của chủ hộ cũng là những nhân tố quan trọng quyết định đến lợi nhuận. Các mức lợi nhuận năm 2008
cao hơn năm 2010, có thể do tác động của giá thế giới đã đẩy các giá lương thực lên trong suốt giai đoạn
2007-2008.
Bảng 5 trình bày các hồi quy cho giá trị sản lượng. Lại một lần nữa các kết quả về tác động của quy mô đất
của hộ trong Bảng 2 được khẳng định. Các hộ có quy mô nhỏ hơn có giá trị sản lượng trên một ha cao hơn
đáng kể so với các hộ có quy mô lớn. Kết quả này được tìm thấy ở tất cả các vùng. 2 trong 3 cách tính phân
mảnh đất đai trong hộ cho kết quả dương về tác động của phân mảnh đất đai đến giá trị sản lượng.
Bảng 6 thể hiện hồi quy cho giá trị các đầu vào không phải lao động. Ngược lại với các kết quả trong Bảng
2, các kết quả cho thấy tác động âm và có ý nghĩa thống kê của quy mô đất nông nghiệp và tác động dương
và có ý nghĩa thống kê của phân mảnh đất đai trong hộ đến mức độ tập trung đầu vào. Bởi vậy, mức độ tập
trung đầu vào không phải lao động có thể giúp giải thích tại sao các hộ có quy mô lớn lại có lợi nhuận hơn. do sự tham gia thị trường cung cấp thông tin liên quan đến các nhà sản xuất khác. Việc đo liệu hộ có bán sản phẩm nào
ra thị trường là có sẵn, nhưng không được đưa vào trong các hồi quy trong bảng 4-7 do dường như nó có tính nội sinh
cao (một mùa thu hoạch tốt làm tăng xác suất của việc sản phẩm ra thị trường). Tuy nhiên, nếu chỉ số này được đưa vào
thì các tác động được ước lượng của phân mảnh đất đai không thay đổi đáng kể. Ở một số vùng, đặc biệt vùng Tây
Nguyên, tỷ lệ trồng cây lâu năm chắc chắn có thể được xem như biến gần đúng cho thương mại hóa.
11
Bảng 7 cho thấy các hồi quy đối với mức độ tập trung lao động. Các kết quả khẳng định điểm nổi bật trong
Bảng 2 về tác động âm, có ý nghĩa thống kê và hoàn toàn mạnh của quy mô đất nông nghiệp đến sử dụng lao
đến mõi mảnh. Nếu phân mảnh là không tốt do mất nhiều thời gian di chuyển làm cho các mảnh không được
các hộ sử dụng một cách tối ưu, thì các mảnh xa hơn thường có năng suất thấp hơn. Các mảnh có chung
đường bao với các mảnh khác của hộ bị tác động ít hơn các mảnh khác do mất nhiều thời gian di chuyển. Do
vậy, chúng tôi đưa vào trong mô hình một biến giả về việc có chung đường bao với một mảnh khác cũng
đang được sử dụng bởi hộ.
12
Các kết quả được thể hiện trong Bảng 8. Một loạt các biến kiểm soát được sử dụng, bao gồm tỷ lệ các mảnh
trồng cây hàng năm so với cây lâu năm, hình thức sở hữu các mảnh, hạn chế lựa chọn cây trồng, khi các
mảnh được mua bán, số lượng thu hoạch một năm, thủy lợi, đầu tư gần đây vào đất và dự trữ nguồn nước,
liệu mảnh đất có bị tác động bởi thiên tai trong năm trước không, độ dốc và các vấn đề của mảnh đất (xói
mòn, lắng cặn, v.v). Các chỉ số của việc sử dụng số lượng các đầu vào không phải lao động khác nhau
(giống, cây giống, phân bón hóa học, v.v.) được đưa vào trong các hồi quy 2 và 4. Tuy nhiên, do các biến
này chỉ có sẵn cho 5 mảnh đất lớn nhất của hộ nên một số mảnh được loại bỏ trong các phân tích này. Do đó,
các phương trình không có các chỉ số đầu vào cũng được đưa vào (hồi quy 1 và 3). Do các hạn chế về mặt
không gian, một số biến kiểm soát không được trình bày ở đây. Chỉ số về năm cũng được đưa vào. Một điểm
quan trọng là các tác động không thay đổi của hộ được áp dụng để trung hòa tác dụng của các yếu tố quyết
định đến năng suất ở cấp độ hộ, như lực lượng lao động, kỹ thuật sản xuất, v.v
Các kết quả cho thấy quy mô của mảnh đất có tác động âm và có ý nghĩa thống kê đến năng suất trong cả các
mô hình cho tổng giá trị đầu ra và sản lượng lúa. Một sự giải thích tiềm năng đó là các mảnh quy mô nhỏ có
chất lượng tốt hơn. Tuy nhiên, cần nhớ rằng các hồi quy kiểm soát một số lượng lớn các yếu tố liên quan đến
độ màu của đất. Kết luận rằng sự chia nhỏ của các mảnh đất làm tăng năng suất rõ ràng không được đảm
bảo, nhưng mặt khác, các kết quả cũng không hỗ trợ cho quan điểm rằng việc dồn các mảnh vào sẽ làm tăng
năng suất. Các kết quả này là nhất quán với các phát hiện được tìm thấy trong Bảng 5 đó là ở cấp độ hộ,
phân mảnh đất đai trong hộ đi cùng với giá trị đầu ra trên 1ha cao hơn.
Nhìn vào biến khoảng cách lại cho thấy bức tranh khác đang nổi lên. Các thửa ruộng ở xa cho thấy có năng
suất kém hơn, điều này phù hợp với quan điểm cho rằng manh mún ruộng đất làm giảm hiệu quả sản xuất
Để nghiên cứu các yếu tố tác động đến dồn điền đổi thửa đất đai giữa các hộ, chúng tôi khai thác số liệu cấp
xã của VARHS năm 2008 và 2010. Bảng hỏi cấp xã của VARHS thu thập số liệu về phân bổ đất đai ở cấp
xã, các giao dịch trên thị trường đất đai và nhiều đặc điểm khác của xã. Cách tính tập trung đất được sử dụng
là tỷ lệ hộ trong xã sở hữu nhiều hơn 2 ha đất (số liệu về đất đang được sử dụng không có sẵn ở cấp xã). Các
hồi quy cho biến này được trình bày trong Bảng 9. Biến giải thích quan trọng nhất là số lượng các giao dịch
mua bán đất được đăng ký ở xã của một hộ. Hiện nay, các xã có phân bổ đất đai bị phân mảnh nhiều hơn có
số lượng mảnh cao hơn và bởi vậy cũng có nhiều giao dịch trên thị trường đất đai hơn. Bởi vậy, có điều
ngược lại đó là tác động âm của tập trung đất đai đến các giao dịch trên thị trường đất đai. Để loại bỏ tác
động này từ các phân tích, các tác động không thay đổi của xã được đưa vào trong mô hình. Trong các hồi
quy với các tác động không thay đổi này, chỉ các biến thay đổi theo thời gian ở mỗi xã là tác động đến các
kết quả. Các hồi quy trả lời câu hỏi: Một sự tăng lên trong các giao dịch đất đai (hay bất kỳ yếu tố nào khác
của các biến giải thích) có dẫn đến mức độ tập trung hay phân mảnh đất cao hơn không? Một câu hỏi quan
trọng khác, ngoài tác động trực tiếp của các thị trường đất đai, liệu hội nhập kinh tế nhìn chung có tạo thuận
lợi cho việc tập trung đất hay không. Đặc biệt, nếu mọi người có các cơ hội tốt hơn trong việc tìm kiếm việc
làm ngoài khu vực nông nghiệp, chúng tôi kỳ vọng rằng nhiều nông dân sẵn sàng hơn trong việc bán đất của
họ và tham gia vào khu vực phi nông nghiệp. Do đó, các hồi quy cũng đưa vào các cách tính dưới đây về cơ
hội việc làm phi nông nghiệp: sự hiện diện của các chợ ổn định ở xã, tiền công hàng ngày cho lao động xây
dựng nam, và số doanh nghiệp trên 100 người dân ở xã. Cuối cùng, cách tính mật độ dân số (số hộ trên 1 ha
đất nông nghiệp) được đưa vào mô hình.
14 Các kết quả của các hồi quy tác động không đổi cho thấy tác động dương, có ý nghĩa thống kê của việc mua
bán đất đến tập trung đất đai. Các xã có số lượng giao dịch mua bán đất đng tăng cũng có tỷ lệ nông dân sở
hữu trên 2ha đất tăng. Một điểm thú vị đó là tác động này chỉ thể hiện ở các tỉnh phía Nam. Bởi vậy, mặc dù
phân tích được trình bày ở trên thể hiện rằng hiệu quả đạt được từ tập trung đất là cao nhất ở các tỉnh phía
Bắc, các kết quả ở Bảng 9 lại chỉ ra rằng các thị trường đất đai chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung
đất đai ở các tỉnh phía Nam. Điều này là bằng chứng cho thấy các thị trường mua bán đất đai hoạt động rất
không hoàn hảo ở các tỉnh phía Bắc (Khải và cộng sự 2010). Một rào cản đối với việc mua bán đất đai là ở
nhiều tỉnh có “hạn điền” 2 (hoặc một số nơi là 3) ha, có nghĩa rằng người sở hữu đất nhiều hơn 2 (hoặc 3) ha
động là không có ý nghĩa thống kê. Các kết quả này cũng không có ý nghĩa thống kê ở các vùng riêng biệt,
ngoại trừ các tỉnh ở đồng bằng phía Bắc. Do vậy, trung bình, các chương trình dồn điền đổi thửa chỉ cho thấy
tác động không đáng kể. Tuy nhiên, phân mảnh đất đai trong hộ được tranh cãi là sâu sắc nhất ở các tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ thì các chương trình này có tác động.
Đối với các giao dịch về đất, việc bán và cho thuê có các tác động âm, được kỳ vọng đến phân mảnh đất đai,
trong khi việc mua và thuê có các tác động dương giống như dự đoán. Trong tất cả các hồi quy, tác động âm
của việc cho thuê là cao hơn đáng kể tác động dương của việc thuê. Sự khác nhau này là đáng kể trong hồi
quy tác động ngẫu nhiêu và tương đối lớn trong hồi quy tác động không thay đổi ở tất cả các vùng, qua đó
cho thấy bằng chứng yếu về các giao dịch thuê và cho thuê có thể làm giảm mức độ phân mảnh của các
mảnh đất đang sử dụng. Mặt khác, đối với các giao dịch mua bán đất, tác động dương của việc mua đất luôn
lớn hơn tác động âm của việc bán đất. Sự khác nhau là đáng kể trong hồi quy các tác động ngẫu nhiên nhưng
không đáng kể trong các mô hình tác động không thay đổi. Do vậy, không có bằng chứng từ các phân tích
này để cho thấy các giao dịch mua bán đất đóng góp vào việc làm giảm mức độ phân mảnh đất đai trong hộ. 6. Kết luận
Nghiên cứu này xem xét các yếu tố quyết định đến phân mảnh đất đai cũng như các tác động của phân mảnh
trong hộ và giữa các hộ ở nông thôn Việt Nam. Về các tác động của phân mảnh đất đai, kết quả quan trọng
nhất là tác động của phân mảnh là khá mạnh, không chỉ giữa các hộ mà còn trong nội bộ của hộ tới việc sử
dụng đất nông nghiệp. Mặc dù chiều của tác động không có gì ngạc nhiên, mức độ tác động lại rất đáng chú
ý. Chi phí lao động/ha của các hộ nông dân nhỏ cao gấp 5 lần so với hộ quy mô lớn. Điều này cho thấy việc
dồn điền đổi thửa có tác dụng rất lớn trong việc giải phóng lao động ra khỏi nông nghiệp ở Việt nam. Trong
bối cảnh của công nghiệp hóa, việc dồn điền đổi thửa có thể coi như một trong những yếu tố quan trọng để
duy trì sức cạnh tranh của xuất khẩu. Có nhiều cách để tạo điều kiện cho dồn điền đổi thửa. Kết quả nghiên
cứu này cho thấy, hạn điền sử dụng ruộng đất 2-3 ha quy định ở các địa phương hiện nay cần phải được loại
bỏ. Hơn nữa, các hạn chế về lựa chọn cây trồng cũng nên được loại bỏ. Như đã đề cập ở trên, việc trồng lúa
gạo là bắt buộc đối với rất nhiều diện tích, do sản xuất lúa gạo cần rất nhiều lao động, loại bỏ hạn chế về lựa
chọn cây trồng sẽ giúp giải phóng khá nhiều lao động khỏi nông nghiệp (Markussen, Tarp và Van den
Broeck 2011). Cải thiện dịch vụ khuyến nông theo hướng khuyến khích các hộ sản xuất lớn, sản xuất hàng
đất đai là thực sự có nhiều vấn đề hơn so với các nơi khác, thì các chương trình này trên thực tế là có hiệu
quả. Mặt khác, có ít bằng chứng cho thấy các thị trường mua bán đất có bất kỳ tác động nào đến việc phân
mảnh đất đai trong hộ. Có một số bằng chứng cho thấy rằng các thị trường cho thuê đất có thể đóng góp vào
việc làm giảm đi mức độ phân mảnh đất đai trong hộ.
6
Một điều có thể gây nhiều lo lắng đó là việc khiến các hộ quy mô nhỏ bán đất của họ có thể làm tăng sự bất bình đẳng
về thu nhập. Ravallion và Van de Walle (2008b) cho thấy rằng tình trạng mất đất đang tăng lên ở các tỉnh phía Nam
không đi cùng với kết quả này. Thay vào đó, mọi người chuyển ra khỏi khu vực nông nghiệp để tận dụng các cơ hội
trong các khu vực khác. Quá trình này chắc chắn được tạo thuận lợi ở các tỉnh phía Bắc cũng như các tỉnh phía Nam.
17
Tóm lại, việc giảm mức độ phân mảnh đất nông nghiệp giữa các hộ là một cách quan trọng để giảm việc sử
dụng lao động và tăng hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Các thị trường đất đai có thể tạo thuận lợi cho
quá trình tập trung ruộng đất, nhưng tác động này mới chỉ được khai thác ở các tỉnh phía Nam, nơi có ít các
vấn đề về đất đai. Việc giảm phân mảnh đất đai trong hộ có thể không quan trọng bằng việc tập trung toàn bộ
đất đang sở hữu. Mặt khác, nếu đa dạng hóa các mô hình cây trồng và mức độ tập trung lao động được giảm
đi là các mục tiêu quan trọng thì việc giảm phân mảnh đất đai trong hộ là mục tiêu hợp lý và mang tính chiến
lược. Các chương trình tập trung ruộng đất mang tính hành chính có thể có vai trò trong việc này, mặc dù các
chi phí của các chương trình này cần được tính toán một cách rõ ràng so với lợi nhuận, khi lợi nhuận có thể
là tương đối nhỏ. Nếu các chương trình tập trung ruộng đất được thực hiện, các phát hiện của chúng tôi gợi ý
rằng các chương trình này nên tập trung vào việc giảm khoảng cách giữa nhà và các mảnh đất, hơn là việc
dồn các mảnh đất nhỏ lại thành các mảnh lớn hơn.
18
Tài liệu tham khảo
Benjamin, D. (1995), “Can Unobservable Land Quality Explain the Inverse Productivity Relationship?”
Journal of Development Economics.
Popkin, S.L., 1979. The Rational Peasant. The Political Economy of Rural Society in Vietnam. University of
California Press, Berkeley, CA.
Ravallion, M. and D. van de Walle (2008a). ‘Does rising landlessness signal success or failure for Vietnams
agrarian transition?’ Journal of Development Economics, 87, 191-209.
Ravallion, M. and D. van de Walle (2008b). Land in transition: Reform and poverty in rural Vietnam.
Washington DC: World Bank.
Son, D.K. 2007, “Agriculture, Rural and Farmer”
World Bank in Vietnam, Embassy of Denmark, Embassy of Sweden (2011). Recognising and reducing
corruption risks in land management in Vietnam. Hanoi: National Political Publishing House - Su That.
20
Bảng 1 Phân mảnh đất đai, 2010
Tỉnh
Quy mô
đất đang
sử dụng
ha. (TB)
Quy mô đấ
t
đang sử
dụng ha.
(Trung vị)
Số mảnh
đang sử
dụng (TB)
N = 1995 21
Bảng 2 Đầu vào và đầu ra, theo quy mô nông hộ
¨
Giá trị
đầu ra/ha.
Giá trị các đầu
vào không phải
lao động/ha.
Ngày lao
động/ha.
Lợi
nhuận/ha.
Có máy
kéo
Có máy
gặt
Tỷ lệ đất
trồng lúa**
Tỷ lệ đất trồng
cây lâu năm
Số mảnh
đang sử
dụng
Bảng 3 Đầu vào và sản lượng trong sản xuất nông nghiệp (phân theo số thửa)
Số thửa ruộng
(có hoạt động
trồng trọt)
Giá trị sản
lượng/ha.
Chi phí biến đổi
đầu vào phi lao
động/ha.
Số ngày
công/ha
Lợi
nhuận/ha
Có máy kéo
Có máy gặ
t
Tỷ trọng đấ
t
lúa *
Tỷ trọng đất cây
lâu năm
1 mảnh 29.387 11.059 476 -4.163 0,01 0,01 0,29 0,43
2-3 mảnhs 37.180 13.729 399 1.586 0,03 0,03 0,49 0,34
4-5 mảnhs 32.991 11.793 416 -34 0,03 0,08 0,58 0,23
6-9 mảnhs 32.200 10.344 443 67 0,02 0,14 0,58 0,21
> 9 mảnhs 33.009 10.279 489 638 0,01 0,16 0,62 0,21
Tổng 33.518 11.683 431 176 0,02 0,08 0,53 0,28
N 3.791 3.724 3.535 3.512 4.006 4.006 3.889 3.967
* Tỷ trọng đất trồng lúa tính theo số vụ.
1,908*** 408 79
(2.39) (3.19) (3.21) (3.41) (2.80) (1.23) (0.42)
Số thửa ruộng đang canh tác 589*** 638*** 200 973** 628***
(5.47) (4.69) (0.66) (2.33) (3.14)
Ch
ỉ
s
ố
Simpson
6,676***
(4.50)
Tổng khoảng cách 0.108***
(2.82)
Tỷ trọng đất lúa -1576 -1976 -1247 -2,554 7,976*** -7,344** -800
(1.15) (1.45) (0.88) (1.12) (3.99) (2.38) (0.31)
Tỷ trọng cây lâu năm 1,938* 2,704** 1,533 -3,511* 3,328 7,326***
-2288
(1.69) (2.33) (1.31) (1.66) (1.37) (3.40) (1.17)
Tỷ trọng đất có vấn đề -2,912*** -2,912***
-2,720***
-4,372***
h
ộ
-
154
-
152
-
157
-
165
-
471*
51
-
147
(1.19) (1.16) (1.20) (0.65) (1.87) (0.13) (0.59)
Tuổi chủ hộ bình phương 2.00 2.00 2.00 2.00 4* 0.00 2.00
(1.53) (1.50) (1.53) (0.95) (1.69) (0.07) (0.74)
Số năm đi học của chủ hộ 197** 204** 199** 206 -69 459* 164
(2.16) (2.25) (2.16) (1.42) (0.55) (1.92) (0.86)
Chủ hộ là nữ -1,469* -1369 -1,780**
Đồng bằ
ng
Nam bộ
Diện tích đất đang canh tác. -0,278*** -
0.303***
-
0.214***
-0.377***
-0.487***
-0.266***
-0.212***
(8,74) (10.86) (7.20) (7.15) (11.52) (3.65) (4.15)
Số thửa ruộng đang canh tác 0,036*** 0.045***
0.057***
0.064** 0.040**
(4
,
91)
(4.69)
(4.35)
0.174***
-
0.177***
-0.153***
0.009 -0.300***
-0.278***
(3
,
70)
(3.82)
(3.84)
(2.70)
(0.16)
(3.42)
(2.58)
Số thành viên gia đình trong độ tuổi 15- 65 0,063* 0.059* 0.092***
0.132***
(0.16)
(0.61)
Tuổi chủ hộ 0,001 0.003 0 0.002 0.007 0.005 -0.001
(0,14) (0.40) (0.04) (0.17) (0.53) (0.25) (0.07)
Tuổi chủ hộ bình phương 0 0 0 0 0 0 0
(0,04) (0.26) (0.12) (0.07) (0.50) (0.53) (0.10)
Số năm đi học của chủ hộ 0,009** 0.011**
0.010**
0.001 -0.001 0.015 0.008
(1,97) (2.32) (2.04) (0.08) (0.13) (1.17) (0.71)
Chủ hộ là nữ -0,059 -0.043 -0.063 -0.04 0.071 -0.18 -0.085
(1,43) (1.06) (1.54) (0.73) (0.91) (1.43) (1.00)
Năm 2010 -0,066** -0.062*
-0.066*
-0.161***
0.013 -0.087 0.053
(1
,
97)
(1.84)
(1.93)
ng
Nam bộ
Diện tích đất đang canh tác. -0,246***
-0.282***
-0.159*** -0.327*** -0.649*** 0 0
(5,51) (7.71) (4.07) (4.77) (11.16) (1.45) (0.87)
Số thửa ruộng đang canh tác 0,043***
0.045*** 0.094*** 0.078** 0.023
(4
,
31)
(3.26)
(4.63)
(2.39)
(1.32)
Chỉ số Simpson 1.026***
(9.70)
Tổng khoảng cách 0.000
(1.54)
Tỷ trọng đất lúa 0,689***
0.678*** 0.524*** 0.475*** 0.928*** 0.428***
(10,13) (10.08) (9.82) (5.37) (3.82) (5.55) (3.64)
Tỷ lệ đất có độ dốc thấp -0,100* -0.082 -0.115* -0.08 -0.162 0.009 -0.215**
(1,70) (1.40) (1.93) (0.96) (1.16) (0.07) (2.01)
Tỷ lệ đất có độ dốc trung bình -0,13 -0.10 -0.15 -0.23 -0.366** 0.19 0.03
(1,30) (1.01) (1.44) (1.02) (2.22) (1.00) (0.20)
Tỷ lệ đất có độ dốc cao -0,356* -0.388* -0.364* -0.14 -0.15 -0.06 -1.863***
(1
,
73)
(1.88)
(1.77)
(0.41)
(0.41)
(0.19)
(3.14)
Tuổi chủ hộ 0,019** 0.021** 0.017** 0.015 0.038* -0.003 0.029**
(2,17) (2.51) (1.97) (1.06) (1.92) (0.09) (1.99)
Tuổi chủ hộ bình phương -0,000**
-0.000**
25
Bảng 7 Phân mảnh đất đai và lao động trong trồng trọt
Biến phụ thuộc: ngày công lao động/ha, log
Chung Chung Chung
Đồng
bằng
phía Bắ
c
Miề
n núi
phía Bắ
c
Tây
Nguyên
Đồng
bằng
Nam bộ
Diện tích đất đang canh tác. -
0
,
535***
-0,533*** -0,456*** -
0
,
510**
-
(7,02) (4,93) (5,80) (2,90) (3,60)
Ch
ỉ
s
ố
Simpson
0
,
747***
(9,43)
Tổng khoảng cách 0,000
(0,36)
Tỷ trọng đất lúa 0,367***
0,317*** 0,394*** 0,489**
*
0,153 0,09 0,482**
*
(5,38) (4,82) (5,53) (4,97) (1,44) (0,50) (3,50)
Tỷ trọng cây lâu năm -
0
,
200***
*
(8,38) (8,79) (9,02) (3,99) (5,97) (3,67) (4,75)
Tỷ lệ đất được tưới tiêu 0,271***
0,260*** 0,266*** 0,273**
*
0,007 0,273**
*
0,235*
(5,21) (5,07) (4,96) (3,59) (0,07) (3,36) (1,70)
Tỷ lệ đất có độ dốc thấp 0,01 0,023 0 0,00 0,077 0,031 -0,07
(0,22) (0,53) (0,01) (0,04) (0,89) (0,42) (0,63)
Tỷ lệ đất có độ dốc trung bình 0,03 0,06 0,01 0,07 0,039 0,08 -0,31
(0,52) (0,90) (0,08) (0,50) (0,40) (0,66) (1,29)
Tỷ lệ đất có độ dốc cao 0,093 0,055 0,071 0,508**
-0,467**
0,05 0,12
(0,71) (0,44) (0,55) (2,47) (2,20) (0,31) (0,28)
Tu
ổ
i ch
ủ
h
ộ
(0,93) (1,19) (0,79) (0,83) (0,38) (1,33) (1,16)
Tuổi chủ hộ bình phương 0 0 0 0 0 0 0
(1,40) (1,63) (1,26) (0,92) (0,51) (0,90) (1,46)
Số năm đi học của chủ hộ -0,008**
-0,007* -0,008** 0,004 -0,002 -
0
,
023**
-0,019**
(2,08) (1,77) (1,98) (0,75) (0,26) (2,62) (2,08)
Chủ hộ là nữ -0,011 0,007 -0,013 0,01 -0,113 -0,197**
0,031
(0,32) (0,22) (0,38) (0,19) (1,10) (2,05) (0,46)
Năm 2010 -
0
,
142***
-0,139*** -0,149*** -
0
,
353**
-0,033 -
0
,
195**
0,218**