Thuyết minh về tình cảnh lẻ loi của
người chinh phụ
a. 8 câu đầu (1 – 8)
- Tả tâm trạng qua hành động: người chinh phụ đi ra đi vào, cuốn lên buông
xuống tấm rèm nhiều lần: “Dạo hiên vắng đòi phen.”. Đó là hành động lặp đi lặp lại,
không có mục đích rõ ràng, thể hiện tâm trạng nặng nề, tù túng, nóng ruột.
- Tả tâm trạng qua ngoại cảnh: chim thước là vật báo tin may; đèn là vật tả nỗi
cô đơn, thường được dùng trong ca dao và thơ cổ, Vd: “Đèn thương nhớ ai /Mà đèn
không tắt?”. Nó thể hiện sự mong ngóng tin tức của người chồng, mong có người chia
sẻ nỗi cô đơn. Câu hỏi tu từ : hỏi “đèn” chính là mong muốn tha thiết có kẻ hiểu thấu
tâm can mình.
- Trực tiếp thể hiện tâm trạng: người chinh phụ hỏi đèn nhưng rồi tự trả lời
bằng 2 lần phủ định triệt để. Đèn không thể biết được tâm trạng nàng, dù có biết cũng
không hiểu thấu được. Nó khẳng định một sự thực: nàng hoàn toàn cô đơn, không ai
chia sẻ. Dường như không kìm nén được, nàng đã bộc lộ bằng những câu than vãn đau
đớn. Từ “bi thiết” là một tính động từ nhấn mạnh nỗi buồn đau xen trộn của nàng. Ta
cảm tưởng như ống kính máy quay đang kề sát chân dung người chinh phụ để chớp
lấy cân cảnh sắc thái tâm trạng tinh vi. Đó là tâm trạng buồn rầu tới chẳng thiết nói
năng: “Buồn lời”. Câu thơ đã nêu lên quy luật tất yếu của nỗi buồn. Khi buồn tới độ
cao trào, con người trở nên câm lặng trước mọi vật. Tới câu 8, ống kính lại đưa ra xa
để bao quát căn phòng. Trong lòng người thì bão tố mà cảnh vật thì tĩnh mịnh đơn côi
tới buồn bã! Sao nhìn cảnh ấy không thương cho được!
b. 8 câu tiếp (9 – 16)
- Thời điểm là đêm tối về sáng, chứng tỏ người chinh phụ đã thức cả đêm dài.
Nàng như đang đếm thời gian nhưng càng chờ càng thấy dài: “Khắc giờ đằng đẵng
như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”. Tác giả đã dùng biện pháp so sánh kết
trùng đến mưa xuân cũng như ẩn tàng một sức mạnh ghê gớm. ở đây, thiên nhiên và
con người đã soi chiếu vào nhau, cùng mang chung nỗi sầu. Đúng như Nguyễn Du đã
nói: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu./Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” Từ “thiết
tha” được đảo lên trước từ lòng để nhấn mạnh tâm trạng người chinh phụ. Giờ đây,
nỗi buồn đã chuyển thành nỗi đau trong lòng người chinh phụ.
- Lối thơ vắt dòng: “Ngoài rèm thước chẳng mách tin Đèn có biết dường bằng
chẳng biết.”; “Nghìn vàng xin gửi tới non Yên Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu.”;
“Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!”.
Hình thức này làm những câu thơ có sự liên kết với nhau đồng thời góp phần diễn tả
nỗi buồn triền miên, kéo dài lê thê không dứt.
-> Đó là trường tâm trạng thể hiện nhiều cung bậc: tù túng, cô đơn, buồn rầu,
chán chường, kinh sợ, Nó là hình ảnh điện tâm đồ trong trái tim người chinh phụ.
-> Giá trị nhân đạo: đồng cảm với khao khát hạnh phúc lứa đôi, gián tiếp lên án
chiến tranh phi nghĩa.