Phương hướng & biện pháp đẩy mạnh XK hàng may mặc tại XN may XKTEXTACO - Pdf 12

Lời mở đầu
Dệt may là một trong những ngành sản xuất vật chất có truyền thống lâu đời. Từ
xa xa ông cha ta đã biết trồng dâu nuôi tằm để ơm tơ dệt lụa. Con ngời Việt Nam lại
thông minh, sáng tạo, với đôi bàn tay khéo léo đã tạo ra những sản phẩm dệt may
đậm đà bản sắc dân tộc.
Là hàng hoá tiêu dùng thiết yếu, hàng năm ngành dệt may có những đóng góp
đáng kể cho nguồn thu ngân sách đặc biệt là nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu.
Ngày nay ngành may mặc đang có xu hớng chuyển dịch từ các nớc công nghiệp
phát triển sang các nớc đang phát triển, đặc biệt là Châu á có nhân công rẻ. Khối l-
ợng hàng may mặc mà các nớc phát triển nhập khẩu từ các nớc Châu á đang tăng lên
rõ rệt trong thời gian gần đây. Việt Nam lại nằm trong khu vực có kim ngạch xuất
khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới, đồng thời có nhiều u thế về nguồn nhân công,
về vị trí địa lý có thể phát triển mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu hàng may mặc đối với các doanh nghiệp Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan
trọng, nhất là đối với một công ty có kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc tơng đối
lớn nh Công ty TEXTACO. Đó chính là lý do khiến em chọn đề tài này cho bài viết
của mình.
Tuy vậy, do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn, về nguồn số liệu, về
thời gian thực hiện nên có thể có một vài thiếu sót. Em mong nhận đợc sự giúp đỡ,
góp ý của thầy giáo và các cô chú, anh chị công ty TEXTACO đã giúp đỡ em hoàn
thành bài viết này.
1
Ch ơng I
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ngành may
mặc tại Việt Nam trong thời gian qua
1. Vai trò của ngành may mặc ở Việt Nam
May mặc là hoạt động gắn liền với đời sống con ngời trong mọi thời đại. Do
vậy, có thể nói, may mặc đã xuất hiện ở Việt Nam từ hàng nghìn năm nay. Trải qua
các thăng trầm lịch sử, kỹ thuật dệt, may của cha ông ta không ngừng hoàn thiện với
những sản phẩm giá trị cao có thể sánh ngang với các quốc gia giàu truyền thống

may mặc tại Việt Nam
Giữ một vị trí không thể thiếu đợc trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nớc
nh đã nêu ở trên, ngành may mặc đợc Đảng, Nhà nớc quan tâm xây dựng, trở thành
một ngành công nghiệp lớn, phát triển sâu rộng trong cả nớc và thu đợc những thành
tựu đáng mừng.
Đặc biệt, sau 5 năm thực hiện Hiệp định buôn bán hàng may mặc giữa Việt
Nam và EU đợc ký tắt tại Brussels (Vơng quốc Bỉ - 1993) đã đánh dấu sự phát triển
vợt bậc cả về số lợng, chất lợng và thị trờng của sản phẩm may mặc Made in
Vietnam trên thị trờng thế giới. Quần áo may sẵn của Việt Nam gồm nhiều chủng
loại hàng khác nhau từ sơ mi nam, nữ, jacket, áo khoác nam, nữ đến quần áo trẻ
em,... đã khẳng định chỗ đứng của mình trên nhiều thị trờng khó tính nh Pari,
London, Amsterdam, Berlin, Tokyo,... Và đầu năm nay, chúng ta đã ký Hiệp định dệt
may giữa Việt Nam và EU cho giai đoạn 1999 - 2001 với mức tăng về trị giá khoảng
40% so với Hiệp định cũ đã đợc điều chỉnh tăng 25% tháng 8/1985. Nếu so với mức
hạn ngạch năm đầu Hiệp định 1993 thì hạn ngạch năm 1999 tăng khoảng 80%. Nếu
xét về trị giá xuất khẩu 1993, Việt Nam mới xuất khẩu sang EU 245 triệu USD và dự
kiến năm 1999 Việt Nam sẽ xuất khẩu sang EU khoảng 650 triệu USD (bằng
265,3%)
(2)
. Chỉ trong 8 tháng đầu năm kim ngạch dệt may đi EU đạt 480 triệu USD
tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm ngoái
(3)
; với mặt hàng chính là áo Jacket và áo
(2)
Tạp chí Thơng mại số 1 năm 1998
(3)
Báo Đầu t số 74 ngày 14/9/1998
3
sơ mi nam đã đạt sản lợng tơng đơng cả năm 1998, riêng áo Jacket đã xuất 10,5 triệu
chiếc, sơ mi nam 6,5 triệu chiếc

lực của Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ 90, thậm chí còn báo hiệu suy sụp vào
cuối năm 1992 thì đến năm 1996, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đã đứng thứ hai
trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Năm 1999, với 330 cơ
(4)
Thời báo Kinh tế Sài gòn số 35/98 ngày 27/8/1998
4
sở sản xuất dệt và 600 cơ sở may, sẽ báo hiệu một năm hứa hẹn đối với ngành may
mặc xuất khẩu Việt Nam với dự kiến kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD
(5)
. Tuy nhiên, hết
quí I năm 1999, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc thấp 250 triệu USD, trong khi
năm 1998 kim ngạch cả năm đạt 1,3 tỷ USD.
Ngoài ra, hệ thống các công ty, xí nghiệp quốc doanh từ Trung ơng đến địa ph-
ơng đều trởng thành đáng kể. Nhiều doanh nghiệp sau 5 năm, doanh số xuất khẩu
tăng gấp 3-5 lần so với năm 1992. Năm 1998 đã có trên 400 doanh nghiệp tham gia
xuất khẩu và đến giữa năm 1999 có khoảng 500 doanh nghiệp. Không những đội ngũ
may xuất khẩu tăng nhanh về số lợng doanh nghiệp mà quy mô doanh nghiệp, công
nghệ sản xuất, chất lợng, đội ngũ công nhân lành nghề cũng đạt tiêu chuẩn quốc tế.
3. Cơ cấu thị trờng và hàng hoá xuất nhập khẩu trong thời
gian qua
Từ năm 1994, sau một thời gian dài chỉ xuất khẩu sang các thị trờng truyền
thống, công tác thị trờng đã đợc chú trọng, tăng cờng quan hệ buôn bán với gần 50 n-
ớc và khu vực. Đến nay, chúng ta đã mở rộng đợc địa bàn kinh doanh, tăng hạn
ngạch hàng may mặc vào thị trờng EU, Nhật Bản, Đài Loan, giá trị xuất nhập với
Liên Xô (cũ) đợc phục hồi, hớng buôn bán mới với Trung Cận Đông bắt đầu mở ra
nhiều triển vọng và trong tơng lai không xa Mỹ sẽ là thị trờng mới lý tởng cho các
doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc.
* Thị trờng EU.
Việt Nam là nớc thứ 51 tham gia vào thị trờng EU. Thị trờng EU với số dân
khoảng 360 triệu ngời là nơi tiêu thụ khối lợng lớn và đa dạng các loại sản phẩm may

năng của mình nâng cao chất lợng sản phẩm, tạo dựng uy tín cao, giữ vững và mở
rộng thị phần ở EU.
Thị trờng Nhật Bản
Khoảng một thập kỷ nay, ngành may mặc Nhật Bản luôn rơi vào tình trạng nhập
siêu, bởi nớc này cũng nằm trong sự chuyển dịch sản xuất lớn từ các nớc có ngành
công nghiệp dệt tiên tiến sang các nớc Châu á đang phát triển để tận dụng lợi thế
nhân công rẻ, dồi dào, sau đó lại nhập khẩu sản phẩm giá thành hạ của mình trở về n-
ớc làm cho hàng loạt các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ phải đóng cửa vì không thể cạnh
tranh, do đó phải tăng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nớc.
(6)
Báo cáo của Tổng công ty dệt, may Việt Nam về tình hình thực hiện hạn ngạch giai đoạn 1992 - 1996
6
Đây cũng là thị trờng lớn, khắt khe về chất lợng và cạnh tranh gay gắt. Nhng
với lợi thế nguồn lao động rẻ, dồi dào, tay nghề cao nên xuất khẩu hàng may mặc
Việt Nam sang Nhật có xu hớng phát triển không ngừng trong những năm vừa qua.
Bắt đầu từ năm 1989, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang Nhật đã tăng vọt
425% về số lợng và 212% về kim ngạch. Nếu nh năm 1988, Việt Nam mới chỉ xuất
khẩu sang Nhật đạt 200 nghìn đơn vị hàng may mặc với trị giá 1,44 triệu USD (đứng
thứ 22 về số lợng và thứ 29 về kim ngạch), thì đến năm 1996 những con số này đã
lên tới 56 triệu đơn vị và trị giá 367 triệu USD (đứng ở vị trí thứ bẩy cả về số lợng và
kim ngạch, với thị phần ngang với các nớc lân cận nh Inđônêxia, Philippine, Đài
Loan, Thailand,...). Và đến năm 1998, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang
Nhật Bản lên tới 80,71 triệu đơn vị đạt trị giá 500 triệu USD, đa Việt Nam lên vị trí
thứ 3 về số lợng trong số các nớc xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật, sau Trung
Quốc và Hàn Quốc, đứng thứ 5 về kim ngạch sau Trung Quốc, Italia, Hàn Quốc và
Mỹ. Thị phần của hàng may mặc Việt Nam chiếm 2,4% về số lợng và 3% về kim
ngạch
(7)
. Trong 5 tháng đầu năm 1999, xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam sang
Nhật Bản đạt 102,1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trớc. Tuy nhiên trong bối

dệt may nhập khẩu. Thị trờng này đợc xếp vào danh mục thị trờng đầy tiềm năng với
mức tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất thế giới 95 tỷ USD mỗi năm, nhập khẩu chiếm
khoảng 48% trong đó 60% là từ Châu á nhng Việt Nam lại cha khai thác đợc
(8)
. Các
mặt hàng nh T-Shirt, Polo - Shirt, Sweat Shirt 100% bông, áo sơ mi thờng phục dạng
nỉ kẻ, sóc, quần áo thể thao, áo len, quần vải chéo 100% bông mài cát hoặc hoá chất,
hàng jean không yêu cầu chất lợng quá cao mà phải đảm bảo tiêu chuẩn ghi trong
hợp đồng, chú ý khâu an toàn tiêu dùng và phù hợp với môi trờng.
Tuy nhiên, tìm đợc một chỗ đứng vững chắc trong thị trờng này không phải dễ
dàng bởi thông tin về thị trờng này còn đang rất thiếu, không chính xác, kịp thời mà
doanh nghiệp lại không có điều kiện thờng xuyên tiếp cận thị trờng thực tế; mặt
khác, việc phía Mỹ không cấp tín dụng xuất, nhập khẩu cho các doanh nghiệp kinh
doanh với Việt Nam đã hạn chế rất lớn đến khả năng trao đổi thơng mại giữa hai nớc.
Trở ngại lớn nhất hiện nay đối với hàng dệt may của ta vẫn là do cha có quy chế tối
(8)
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số 35 ngày 2/5/1998
8
huệ quốc (MFN) nên hàng nhập khẩu vào Mỹ phải chịu thuế cao, không cạnh tranh
nổi với hàng các nớc khác.
Nhng từ khi Mỹ xoá bỏ cấm vận thơng mại với Việt Nam (2/1994), cấm vận
viện trợ (8/1994), quan hệ kinh tế nói chung giữa ta và Mỹ cũng đã thu đợc những
kết quả ban đầu. Vấn đề hiện tại đặt ra cho chúng ta là phải cố gắng hết sức xây dựng
đợc lòng tin, uy tín và không ngừng đầu t trang thiết bị hiện đại để có thể đáp ứng
yêu cầu của một thị trờng khắt khe nh thị trờng Mỹ.
9
Ch ơng II
Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
của Xí nghiệp may xuất khẩu TEXTACO
1. Lịch sử hình thành và phát triển của xí nghiệp.

quản lý của Xí nghiệp.
Xí nghiệp may xuất khẩu TEXTACO đợc tách ra là đơn vị hạch toán kinh
doanh với cơ cấu tổ chức khá tinh giản với mô hình trực tuyến chức năng.
11
máy cắt
máy thêumáy vắt sổ
đóng gói
máy là hơi
máy may
máy thùa khuyết
máy dập khuy
Sơ đồ bộ máy tổ chức của xí nghiệp
Với bộ máy tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng, vì bộ máy tổ chức quản lý của
xí nghiệp gọn nhẹ mà lại phát huy u điểm của hai kiểu quản lý. Chính vì vậy mà ban
giám đốc có thể quản lý trực tiếp mọi hoạt động sản xuất của từng phân xởng và nhận đ-
ợc các thông tin phản hồi từ phía ngời lao động không phải qua các khâu trung gian. Từ
đó giải quyết kịp thời mọi phát sinh đồng thời các công việc liên quan đến việc triển
khai kế hoạch sản xuất đợc bàn bạc, thảo luận và đi đến một giải pháp tốt nhất, thống
nhất tránh tình trạng chỉ đạo theo kiểu một thủ trởng.
Qua hơn 8 năm xây dựng và trởng thành xí nghiệp may TEXTACO đã không
ngừng đổi, cải tiến mở rộng sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với cơ sở hạ tầng
khá vững chắc, hoàn thiện đợc thể hiện ở cơ cấu tổ chức lao động. Một yếu tố tạo lên
sức mạnh tổng hợp trong sản xuất kinh doanh.
12
p. quản đốc kỹ thuật
trưởng ca ii
trưởng ca I
giám đốc
p. quản đốc sản xuất
QUảN ĐốC PH

nghiệp chỉ có 47 ngời và đợc tập trung chủ yếu ở phòng kế hoạch - phòng trực tiếp
triển khai các hoạt động sản xuất của 3 phân xởng, đảm nhận thủ tục xuất nhập và
nghiên cứu thị trờng là rất hợp lý. Song công tác nghiên cứu thị trờng bộ phận
marketing của phòng còn cha đợc quan tâm đúng mức.
Lao động nữ chiếm 98%, đặc điểm này không có lợi cho xí nghiệp về mặt đảm
bảo ngày công lao động thực tế theo chế độ, thời gian nghỉ đẻ, nghỉ thai sản, con ốm
mẹ nghỉ, từ đó ảnh hởng trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh. Nhng bù lại lao
động nữ có tổ chức kỷ luật cao và đặc biệt là cần cù, chịu khó. Tuổi trung bình của
lao động trong xí nghiệp là trẻ khoảng 30 tuổi và có xu hớng ngày càng trẻ hóa đội
ngũ lao động. Đặc điểm này có lợi cho xí nghiệp về mặt lao động trẻ.
13

Trích đoạn Biện pháp quy hoạch và quản lý sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status