Vũ Trọng Phụng và chương : Hạnh phúc của một tang gia” doc - Pdf 12

Vũ Trọng Phụng và chương :
Hạnh phúc của một tang gia”
I- Tác giả
Vũ Trọng Phụng quê ở làng Hảo, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên nhưng ông
sinh ra, lớn lên và mất tại Hà Nội. Cha ông là Vũ Văn Lân làm thợ điện ở Ga-ra
Charles Boillot, mất sớm khi ông mới được 7 tháng tuổi, Vũ Trọng Phụng được mẹ là
bà Phạm Thị Khách ở vậy tần tảo nuôi con ăn học
[7]
. Sau khi học hết tiểu học tại
trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôi học để đi làm kiếm sống vào khoảng
năm 14 tuổi
[8]
. Ông có may mắn được hưởng thụ chế độ giáo dục mới do Toàn quyền
Pháp Albert Sarraut đề xướng, miễn phí hoàn toàn trong sáu năm tiểu học, và là một
trong những lứa thanh niên Việt Nam đầu tiên được giáo dục bằng tiếng Pháp và chữ
Quốc Ngữ
[8]
, đó là nguyên nhân khiến ông luôn thần tượng nền văn hóa Pháp và là lớp
nhà văn tích cực truyền bá văn học chữ Quốc Ngữ
[9]
. Sau hai năm làm ở các sở tư như
nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO (Viễn Đông), ông chuyển hẳn sang làm báo, viết văn
chuyên nghiệp.
Năm 1930, Vũ Trọng Phụng đã có truyện ngắn đầu tay Chống nạng lên
đường đăng trên tờ Ngọ Báo. Bắt đầu ông viết một số truyện ngắn, nhưng không được
chú ý. Năm 1931, ông viết vở kịchKhông một tiếng vang, thì bắt đầu gây được sự
quan tâm của bạn đọc. Năm 1934, Vũ Trọng Phụng mới cho ra mắt cuốn tiểu
thuyết tâm lý đầu tay Dứt tình đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo.

Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1939, khi mới 27 tuổi, để lại gia đình còn bà
nội, mẹ đẻ, vợ và người con gái chưa đầy 1 tuổi
[13]
.
II-Tác phẩm
Kịch
1. Không một tiếng vang (1931)
2. Tài tử (1934)
3. Chín đầu một lúc (1934)
4. Cái chết bí mật của người trúng số độc đắc (1937)
5. Hội nghị đùa nhả (1938)
6. Phân bua (1939)
7. Tết cụ Cố (Di cảo - đăng sau khi tác giả qua đời, trên Tiểu thuyết thứ
bảy số 295, ngày 3 tháng 2 năm 1940)
Dịch thuật
 Giết mẹ (1936) - nguyên bản Lucrèce Borgia của Victor Hugo
Phóng sự
1. Đời cạo giấy (1932)
2. Cạm bẫy người (1933)
3. Kĩ nghệ lấy Tây (1934)
4. Hải Phòng 1934 (1934)
5. Dân biểu và dân biểu (1936)
6. Cơm thầy cơm cô (1936)
7. Vẽ nhọ bôi hề (1936)
8. Lục sì (1937)
9. Một huyện ăn Tết (1938)
Tiểu thuyết
1. Dứt tình (1934)
2. Giông tố (1936), khi đăng trên Hà Nội báo có tên Thị Mịch.
3. Vỡ đê (1936) - Báo Tương Lai

(1932)
5. Quy
ền làm bố
(1933)
6. Cu
ộc vui ít có
(1933)
7. Hai hộp xì gà (1933)

8. Cái hàng rào (1934)
9.
Tình là dây oan
(1934)
10. Duyên không đi l
ại
(1934)
11. Th
ầy lang bất hủ
(1934)
12. Ông đ
ừng lầm
(1934)
5. H
ồ sê líu hồ líu sê sàng
(1936)
6. Mơ ngày Tết (1936)
7. Tết ăn mày (1936)
8. Lỡ lời (1936)
9. Người có quyền (1937)
10. Cái ghen đàn ông (1937)

lại có ”hạnh phúc”! việc tang là nghi lễ thiêng liêng, cần trang trọng, vậy mà, ngôn từ
dành cho cái việc đại hiếu của một gia đình như gia đình cụ cố Hồng lại hỗn độn, pha
trộn tuỳ tiện chữ Hán, chữ Nôm, nào hạnh phúc, nào tang gia, nào văn minh, gương
mẫu. cứ như chuyện đùa, chuyện vui vậy! Cái sự đùa vui ấy mở màn cho vở hài kịch
mà trên sân khấu hiện thật rõ hai trạng huống nực cuời: đám tang nhưng không phải là
đám tang, nó là một đám…. rước. Con người nhiưng không phải là con người mà
là…. những hình nhân dị dạng, những quái vật.
Sau thời gian bối rối theo lẽ thường tình của một nhà có việc tang, khi ba người
quan trọng nhất – ông Cố Hồng, bà vợ và Văn Minh từ trên gác xuống dứới nhà cắt
đặt mọi việc, thì cái gia đình có đại tang đó bừng lên một ngày hội. Lúc đưa đám thì
cả bàn dân thiên hạ ở phố phường, ai cũng thấy đám ma được tổ chức linh đình, đủ
kiểu cách, lễ nghi theo cả lối ta, tây, tàu. Đám ma đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy.
Cả thành phố nhốn nháo …”Kèn ta, kèn tây, lèn tàu lần lượt thay nhau mà rộn lên”.
Tiếng khóc của những người trong tang gia xen lẫn tiếng “thì thầm” về chuyện vợ
con, nhà cửa, may áo, sắm tủ, hoặc những tiếng nói “thì thào” của bọn đàn ông bình
phẩm sắc đẹp của các cô gái, “than thở” việc “vợ béo, chồng gầy”. Vậy đấy, trên cái
sân khấu hài hứơc, người đọc thấy được một khung cảnh pha tạp, hỗn độn, đồ vật và
con người hỗn độn, âm thanh và màu sắc hỗn độn, việc vĩnh biệt một con người là
việc đùa vui, tiếng khóc của nhiều người cũng hỗn độn, việc vĩnh biệt một con người
và việc đùa vui, tiếng khóc của nhiều ngừơi cũng hỗn độn. Đám rước mà như “ở hội
chợ”. Đám tang hay đám rứơc? Bởi vì, như tác giả kể: “Đám cứ đi” rồi lại “Đám cứ
đi”. Những lời văn bỡn cợt, lơ lửng, hóm hỉnh, chua chát. Và ông nhận xét: “ Thật
đúng là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải
mỉm cuời sung sướng, nếu không gật gù cái đầu”.
Chương 15 – HP của một tang gia là một trong những màn hài kịch đặc sắc
nhất của tiểu thuyết “Số đỏ” của VTP.
Để dàn dựng một màn hài kịch cười, trước hết phải phát hiện ra một mâu thuẫn
trào phúng. Tiếng cười có muôn hình vạn trạng, tuy nhiên bao giờ nó cũng bật ra
trước một mâu thuẫn trào phúng được phóng đại lên.
[Mâu thuẫn trào phúng trong chương 15 được gợi lên ngay từ cái nhan đề của

Xuân Tóc Đỏ càng được vênh vang hơn vì nhờ nó mà cụ Cố mới lăn đùng ra
chết. (Nó tố cáo ngay trước mặt cụ tội ngoại tình của cô Hoàng Hôn, cháu gái của cụ,
và cắm sừng vào đầu ông Phán, cháu rể cụ)
Là cố vấn của báo Gõ Mõ, Xuân còn đem lại danh giá bất ngờ cho đám tang vì
đã bổ sung vào sự long trọng sáu chiếc xe chở sư cụ chùa bà Banh, đại diện hội Phật
Giáo, báo Gõ Mõ cùng với những vòng hoa đồ sộ…
Hạnh phúc còn lan ra cả ngoài gia đình người chết. Cảnh sát Min Đơ, Min Toa
được thuê giữ trật tự cho đám tang. Những bạn bè tai to mặt lớn của cụ cố Hồng được
dịp khoe khoang sự oai vệ và danh giá của mình, những bội tinh và râu ria…
Hàng phố thì vui quá vì mấy khi được xem đám ma to như thể là hội chợ.
Một trong những nét đặc sắc của chương truyện là tả đám đông ồn ào. Láo
nháo, nhặng xị. Dường như có ý thức khi vận dụng kĩ thuật điện ảnh, tác giả lùi xa
quay toàn cảnh đám tang đang nghiêm chỉnh đi theo quan tài người chết đến tận huyệt
với cái điệp khúc đám cứ đi…. Có khi lại dí sát ống kính quay cận cảnh để thấy đây
không phải là một đám ma mà là một đám rước, đám hội hết sức vui vẻ. Đám cứ đi
nhưng không ai nghĩ đến việc đưa đám. Đến đây không phải để khoe những bộ ngực
đầy huân, huy chương và những bộ râu ria oai vệ thì cũng để thì thầm với nhau về
những chuyện vợ con, chuyện sắm một cái áo, cái tủ…. Còn bọn thanh niên thì chim
nhau, cười tình với nhau, bình phẩm, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau bằng vẻ mặt buồn
rầu của người đi đưa đám ma.
Màn kịch kết thúc bằng chi tiết hài hước chó đểu. Ông Phán mọc sừng dúi vào
tay Xuân 5 đồng thanh toán tiền thuê Xuân tố cáo cái nhục mọc sừng của ông ta.
Số Đỏ là một cuốn tiểu thuyết dùng hình thức giễu nhại, lật tẩy tính chất bịp
bợm của những tầng lớp gọi là thượng lưu, trí thức của Hà Nội xưa. Tất cả là một
cuộc diễn trò lớn: MỘT CUỘC BÁO HIẾU LINH ĐÌNH NHẤT CỦA MỘT GIA
ĐÌNH ĐẠI BẤT HIẾU
IV- Những giá trị cơ bản của chương “ Hạnh phúc một tang gia
1. Giá trị châm biếm và đả kích cái xã hội thực dân phong kiến tư sản xấu
xa, đồi bại và thối nát.
- Trong gia đình, ông chết, cha chết - một cái chết làm cho nhiều người sung

- Một đám ma được kể và tả như một đám rước xách với nhiều vai hề già có,
trả có, đàn ông, đàn bà… của tầng lớp tư sản “Âu hóa” rởm. Tác giả biểu lộ sự khinh
bỉ, châm biếm sâu cay.
- Các thủ pháp nghệ thuật trào phúng vận dụng sắc sảo tài tình:
+ Phóng đại: cụ cố Hồng sung sướng quá vì chuyện bố chết mà hút liền một
chặp 60 điếu thuốc phiện, gắt 1872 lần câu: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.
+ Đặc tả những bộ râu của các ông bạn của cụ cố Hồng rất hài hước!
+ Phục bút: Xuân đến đưa đám muộn, lúc đầu làm cho Tuyết đau khổ “có thể
muốn tự tử được”, lúc hắn đến, Tuyết liếc mắt đưa tình cho hắn để tỏ ý cảm ơn. Và cụ
bà thì thốt lên sung sướng “đám ma kể đã là danh giá nhất tất cả!”.
+ Những vai hề: cậu tú Tân luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng bắt bẻ từng
người “hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc cong lưng…” để chụp ảnh. Ông phán-
mọc-sừng khóc to “Hứt! Hứt! Hứt!” nhưng lại bí mật giúi vào tay Xuân tờ giấy bạc 5
đồng gấp tư… - Rất sòng phẳng trong việc mua bán “danh lợi”!
+ Sử dụng tương phản làm nổi bật cái hài, cái rởm, cái đồi bại, thối nát vô luân
hãnh diện. Ví dụ, sư cụ Tăng Phú, v.v V- Phân tích Nhân vật Xuân tóc đỏ
Mỗi dòng văn đều có cảm hứng riêng cho nó. Đối với văn học hiện thực, nhìn
chung cảm hứng của nó là sự phủ nhận và phê phán thực tại xã hội thông qua những
nhân vật điển hình và đặc sắc. Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là tác phẩm tố cáo hiện thực
xã hội độc đáo bằng tiếng cười ào ạt, bằng một hình tượng “kì dị” mà nổi bật và đại
diện trong tác phẩm là nhân vật Xuân Tóc Đỏ.
Thông qua Xuân Tóc Đỏ, Vũ Trọng Phụng cho thấy cái xã hội lúc bấy giờ là
“tấn kịch thực sự của con gnười giữa những sự giả dối buồn cười”. Đó là một tên cơ
hội, tiến được trong xã hội nhờ trò “gian trá bịp bợm”. Xuân Tóc Đỏ thực chất chỉ là
một đứa lưu manh, vô học với lí lịch tối đen như mực: “Thằng Xuân lấy đầu hè, xó
cửa làm nhà; lấy sấu các phố, cá hồ Hoàn Kiếm làm vui. Nó đã bán phá xa, bán nhật
trình, bán cao đơn hoàn tán trên xe lửa, chạy rạp hát, và với ba nghề tiểu xảo khác

Nào hắn có biết làm thơ đâu mà cũng được tôn là “Xuân Tóc Đỏ thi sĩ”, thực chất hắn
chỉ thuộc bài thơ “thuốc cảm, nhức đầu” của những tiệm thuốc giao cho hắn đi bán
dạo! Trên sân khấu cuộc đời xô bồ hỗn độn hắn sắm rất nhiều vai hài kịch. “Nhưng
đôi khi, giữa lúc đang múa may khóc cười trên sân khấu, hắn bỗng nhớ đến thân phận
hèn mọn của mình và gần như sững đi trong chốc lát, trong cái giây phút quan trọng
đó, hắn hiẹn nguyên hình alf một thàng Xuân hạ lưu, vô học” (Phan Cự Đệ). Chẳng
hạn lúc Xuân Tóc Đỏ “ưỡn ngực” nói to trước vợ chồng ông Phán và trước mặt cả nhà
Văn Minh: “Thưa ngài, ngài là người chồng mọc sừng!”. Tình cảnh bi đát xảy ra: Ông
Phán dây thép ôm lấy ngực ngã quỵ xuống đất, cụ Tổ cũng nấc một cái to, ngã xuống
giường” Trong lúc bối rối nguy ngập này, Xuân Tóc Đỏ thú tội và chỉ biết chạy
thẳng một mạch như kẻ cắp: “Thưa cụ, quả con vô học, xưa nay nhặt banh quần hạ
lưu, không biết thuốc ạ!”. Nhưng rõ là số hắn quá đỏ: hắn không bị xem thường mà
còn được trọng vọng! Cái chết của cụ Tổ càng làm người ta nể phục hắn. Đám tang cụ
cố trước đó không hề có mặt hắn, nhưng trên đường mai táng rộn rịp bỗng có sự xuất
hiện lạ lùng của chiếc xe tang mà trên đó có Xuân và mấy vị sư chùa bà Đanh ngồi
chễm chệ. Chính sự xuất hiện này đã làm cho đám tang ngày càng sang trọng, thượng
lưu. Thân chủ của cụ Tổ càng thấy khâm phục Xuân bởi Xuân đã góp phần làm lừng
danh “đám tang lớn nhất từ trước đến nay”. Nhưng đó là một sự thật mỉa mai, lố bịch,
phũ phàng, tàn nhẫn :Bởi chính nó đã gây ra cái chết cho cụ Tổ.Tình cảm gì cái thằng
Xuân, sự xuất hiện của nó một lần nữa tô đậm con người đểu cáng, vô lương tâm của
Xuân, và của cả cái xã hội văn minh “chó đểu”. Đó là hiện thực, hiện thực toát lên
bằng cái nhìn châm biếm và tiếng cười ồ ạt. Nó không phải là tiếng khóc, là nước mắt
như “Đám tang lão Gôriô” ( Lão Gôriô – Ban Zắc )
Xuân Tóc đỏ thấy rõ vị trí của mình trong xã hội, hắn ngày càng nhận rõ muốn
tạo được thanh thế và uy tín thì phải xem thường mọi người ! Hắn càng làm bộ, giả
dối bao nhiêu thì lại được kính trọng bấy nhiêu Dù làm ra vẻ kiểu cách nhưng bản
chất của nhân vật này vẫn là lố bịch, kệch cỡm. Thái độ của hắn mỗi lần được tiếp xúc
với mọi người chỉ là sự đòi hỏi kiểu cách : “Rất hân hạnh” và hết sức lố bịch khi hắn
đứng trước quần chúng : “Hỡi quần chúng, mi không hiểu gì, mi oán ta. Ta vẫn yêu
quý mi, mặc lòng mi chẳng rõ lòng ta. Thôi giản tán đi !”. Thực chất của Xuân Tóc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status