Giải quyết việc làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân - Pdf 12

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Việc làm của người lao động là vấn đề xã hội búc xúc, phổ biến và
mang tính thời sự ở nhiều quốc gia. Bởi vì quyền có việc làm và đảm bảo
thu nhập từ việc làm là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền
vững. Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì vấn đề việc
làm cho người lao động là hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong quá
trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: "Giải quyết việc làm
là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển
kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu
bức xúc của nhân dân".
Là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của cả nước, Thủ
đô Hà Nội cũng đang trong thời kỳ đổi mới. Việc thực hiện chính sách đổi
mới và mở cửa trong vòng 20 năm qua đã khiến Hà Nội đạt được những
thành tựu đáng ghi nhận trong tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Kinh
tế phát triển, đời sống vật chất của người dân dần được nâng lên thì nhu cầu
về đời sống tinh thân của họ như giải trí và hưởng thụ các sản phẩm, dịch
vụ văn hoá tinh thần cũng ngày một gia tăng, nhất là nhu cầu được khiêu vũ
để giải tỏa sau mỗi ngày lao động vất vả.
Thực tế cho thấy trước nhu cầu được tham gia hoạt động khiêu vũ
ngày càng lớn của các nhóm xã hội đã khiến Thủ đô nảy sinh nhiều Vũ
trường, Câu Lạc Bộ và đi liền với nó là sự xuất hiện của đội ngũ những
1
người dẫn khiêu vũ để đáp ứng nhu cầu của họ. Theo Bà Huyền Anh –
trưởng phòng quản lý văn hóa của Sở văn hóa Thông tin Hà Nội, trên địa
bàn Hà Nội hiện nay có khoảng trên dưới 30 Câu Lạc Bộ (
1
)có tổ chức
khiêu vũ Cổ điển. Trung bình mỗi Câu Lạc Bộ có khoảng từ 15-20 người
tham gia dẫn khiêu vũ (

Xét về chiến lược lâu dài, cũng như nhiệm vụ cấp bách trước mắt, thì
nghiên cứu việc làm của những người dẫn khiêu vũ là vấn đề hết sức cấp
thiết. Công việc đó không chỉ thiết thực có tác dụng nâng cao chỉ số phát
triển con người mà Liên Hợp Quốc đã nêu và Việt Nam đang phấn đấu, mà
còn có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển dân tộc Việt Nam thời kỳ
CNH-HĐH đất nước. Đó cũng chính là những lý do khiến tôi lựa chọn đề
tài này để nghiên cứu.
2. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
2.1. Ý nghĩa lý luận
• Kết quả nghiên cứu không nhằm đưa ra những luận điểm bổ sung cho
lý thuyết xã hội học mà nhằm làm rõ chúng trong những phát hiện
bằng nghiên cứu thực nghiệm của mình.
• Kết quả nghiên cứu còn giúp hình thành những quan niệm khoa học
hơn về khiêu vũ, về nghề dẫn khiêu vũ, bởi trên thực tế, nhiều người
vẫn còn có nhận thức sai lầm về vấn đề này khi cho rằng khiêu vũ là
“nhảy nhót nhố nhăng” và người dẫn khiêu vũ là “trai ôm”, “Trai
bao”…
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
• Kết quả nghiên cứu giúp cho các cấp chính quyền của thành phố Hà
Nội nói riêng và nhà nước nói chung trong công tác hoạch định
chính sách đối với ngành kinh doanh dịch vụ vũ trường và việc làm
của những người dẫn khiêu vũ.
• Giúp cho những nhà quản lý văn hoá, các nhà quản lý vũ trường, câu
lạc bộ hiện có được cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về những người
3
đang làm công việc dẫn khiêu vũ, từ đó có phương pháp và cách thức
quản lý phù hợp hơn .
• Giúp cho người dẫn khiêu vũ và đặc biệt nhiều người trong xã hội có
những nhận thức đúng và toàn diện hơn về nghề dẫn khiêu vũ.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

gia lm vic, thu nhp t cụng vic, sc khe ca nhng ngi tham gia
dn khiờu v v t cỏch phỏp lý ca cụng vic.
Trong nghiờn cu ny, chỳng tụi khụng cp ti vic lm di
chiu cnh gii do s ph n tham gia lm ngh dn khiờu v hin nay l
vụ cựng ớt so vi nam. H ch yu va dy, va dn khiờu v t do v
khụng thuc quõn s ca mt Cõu Lc B c th no.
5. C S PHNG PHP LUN V PHNG PHP NGHIấN
CU
5.1. C s phng phỏp lun
Vận dụng lý luận quan điểm chủ nghĩa Marx-Lenin và coi đây là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi nghiên cứu việc làm của
những ngời dẫn nhảy theo các luận điểm về kinh tế và sức lao động của
K.Marx, theo phơng pháp tiếp cận hệ thống và theo phơng pháp tiếp cận liên
ngành xã hội học-kinh tế học.
Thực chất là những phân tích, lý giải của Marx về mối quan hệ biện
chứng giữa cái kinh tế-cơ sở hạ tầng và cái kiến trúc thợng tầng về sự
biến đổi xã hội. Trong lý luận về sự phát triển xã hội, Marx cho rằng: mối
5
quan hệ giữa kinh tế và xã hội đợc thể hiện rõ qua các cặp phạm trù nh: lực l-
ợng sản xuất và quan hệ sản xuất, hạ tầng cơ sở và kiến trúc thợng tầng. Marx
bác bỏ quan điểm của kinh tế học chính trị cổ điển cho rằng hàng vi kinh tế là
hoàn toàn tự do, hoàn toàn duy lý. Theo ông, nếu không có sự điều tiết thì
cạnh tranh thị trờng là tất yếu và sẽ sảy ra tình trạng vô chính phủ, bất bình
đẳng xã hội chứ không tạo ra trật tự xã hội nh một số nhà kinh tế học đơng
thời quan niệm.
Nh vậy, theo Marx kinh tế chính là nền tảng, là huyết mạch chi phối và
làm bién đổi toàn bộ đời sống xã hội. Ông chỉ ra vai trò quyết định của yếu tố
vật chất, của lực lợng sản xuất và phơng thức sản xuất đối với hoạt động và ý
thức của các cá nhân và nhóm xã hội. Điều này đợc phản ánh rõ trong luận
điểm nổi tiếng của ông: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội . Cụ thế hơn

thức lao động duy nhất là học tập và tích luỹ tri thức, họ còn tham gia làm
một việc làm mà có khi không hề liên quan gì tới ngành nghề đang đợc đào
tạo trong trờng. Điều này có nghĩa, tầng lớp thanh niên ngày nay đã thể hiện
chức năng đa vai trò, đa vị thế của họ. Phải chăng đây chính là một sự tha
hoá trong thanh niên?
Với t cách là nhà xã hội học kinh tế, K.Marx đã chỉ ra chủ thể hoạt
động biến đổi lịch sử là các giai cấp xã hội. Quan niệm của Marx về giai cấp
không đơn thuần là quan niệm kinh tế học với những phạm trù trong kinh tế
nh: tài sản, t liệu sản xuất, lao động, tiền công, lợi nhuận, giá trị thặng d
mà đó là quan niệm xã hội học kinh tế về cơ cấu của xã hội. Xã hội học kinh
tế dùng khái niệm giai cấp để chỉ hiện tợng xã hội bị phận chia thành các
nhóm xã hội, bị qui định bởi điều kiện sản xuất. Giai cấp xã hội hình thành
thông qua các cơ chế sở hữu tài sản, phân công lao động xã hội, tổ chức lao
động sản xuất, quản lý, phân phối và tiêu dùng.
7
Quá trình hình thành cơ cấu giai cấp diễn ra phức tạp và phụ thuộc vào
các điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau. Mối quan hệ giữa biến đổi
kinh tế và biến đổi xã hội thể hiện thông qua quan hệ giai cấp. Qua việc phân
tích các tổ chức sản xuất t bản chủ nghĩa, Marx đã chỉ ra các yếu tố của quá
trình biến đổi xã hội. Đó là một chuỗi bao gồm:
Lao động tạo ra hàng hoá -> Hàng hoá trên thị trờng -> Đổi thành tiền ->
Dùng làm vốn, t bản -> Làm gia tăng sự bóc lột, tha hoá lao động -> Mâu
thuẫn giai cấp, xung đột giai cấp -> Biến đối xã hội.
Vận dụng vào quan điểm trên của Marx vào đề tài nghiên cứu có thể
nhận thấy: việc làm của ngời dẫn khiêu vũ phụ thuộc nhiều vào qui luật cung-
cầu trên thị trờng lao động. Nếu nh họ có sự chuẩn bị tốt về kiến thức, kinh
nghiệm, trình độ xã hội -những thứ mà theo cách tiếp cận của xã hội học
kinh tế của Marx là đủ vốnđể có thể đáp ứng đợc qui luật cạnh tranh của thị
trờng lao động thì họ sẽ có việc làm và sẽ tồn tại.
Nói tới thị trờng lao động là nói tới khối nhân lực đợc đem ra trao đổi

đến những thay đổi thiết chế kinh tế trong việc giải thích sự vật và hiện tợng
xã hội. Một số tác giả cho rằng: thức chất xã hội học kinh tế là kinh tế học
xã hội hay còn gọi là kinh tế học chính trị, đợc hiểu là lĩnh vực không
nghiên cứu về sản xuất mà nghiên cứu về các quan hệ xã hội trong sản xuất
và cấu trúc xã hội của sản xuất. Từ đó hình thành trờng phái xã hội học tân
kinh tếvới nỗ lực nghiên cứu của các tác giả: H.White, M.Granovtter,
R.Swdberrg và các nhà kinh tế học G.Becker và O.Wiliamson.
Theo hớng tiếp cận này, có thể tìm hiểu những thay đổi về nghề
nghiệp nh việc xuất hiện nghề mới, phục hồi nghề truyền thống, đa dạng hoá
nghề nghiệp, chuyển giao công nghệ và kiến thức nghề nghiệp cùng với
những cải thiện về môi trờng chính sách, tài chính-tín dụng và thị trờng. Đồng
thời cần phát hiện những cơ cấu kinh tế có khả năng khuyến khích hay cản trở
9
sự hành nghề, hoạt động sản xuất, buôn bán của các đơn vị kinh tế. Cùng với
những khái niệm trong kinh tế học nh:lao động, thiết bị, công nghệ, vốn t
bản, cách tiếp cận xã hội học kinh tế đã xây dựng và phát triển một loạt khái
niệm mới, trong đó có khái niệm: vốn con ngời(dùng để chỉ học vấn, tay
nghề, kỹ năng lao động), vốn xã hội (chỉ qui luật và tính chất của sự tin cậy
lẫn nhau, của các mối tơng quan trong xã hội, quan hệ xã hội, mạng lới xã hội
và sự hợp tác cùng có lợi) Vốn văn hoá (chỉ sự hiểu biết và thái độ cũng nh
ứng xử thắm đợm tinh thần và bản sắc dân tộc). Qua đó có thể thấy đợc thực
chất việc làm của ngời dãn khiêu vũ hiện nay chính là hành động đã có tích
lũy các loại vốn:Vốn con ngời, Vốn xã hội và Vốn văn hoákhi bớc vào
thị trờng lao động việc làm .
5.2. Phng phỏp nghiờn cu
5.2.1.Phng phỏp phõn tớch ti liu
ti ny s dng cỏc ngun thụng tin thu thp c qua cỏc sỏch,
bỏo, tp chớ, bng a, cỏc thụng tin trờn mng internet... cú liờn quan n
khiờu v, vic lm ca nhng ngi dn khiờu v.
5.2.2- Phng phỏp trng cu ý kin

Đây là một đề tài mới mẻ, chưa từng được nghiên cứu dưới góc độ xã
hội học do vậy chúng tôi sử dụng phương pháp này ( thu thập thông tin định
tính) nhằm tìm hiểu sâu hơn và khẳng định cho hệ thống thông tin thu được
qua phương pháp trưng cầu ý kiến. Các vấn đề không trực tiếp thu nhận
được trong phiếu trưng cầu ý kiến được chúng tôi đưa vào nội dung của các
phỏng vấn sâu.
11
Phương pháp này còn mong muốn tìm kiếm những phát hiện mới về
công việc của người dẫn khiêu vũ, những thông tin sâu sắc, tế nhị mà
phương pháp thu thập thông tin định lượng chưa làm được, chẳng hạn như
vấn đề “tiền bo” của khách hàng, những tệ nạn xã hội nảy sinh từ việc tham
gia làm nghề này của một số người...
Đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm:
- Những người làm nghề dẫn khiêu vũ theo các tiêu chí giới tính,
quan hệ hôn nhân, tình trạng gia đình: 10 người.
- Phỏng vấn cán bộ văn hoá phường: 04 người (đại diện cho 4
phường có vũ trường, câu lạc bộ đóng trên địa bàn này).
- Phỏng vấn chủ các vũ trường, câu lạc bộ: 05
- Phỏng vấn công an phường: 04 người (đại diện cho 4 phường có vũ
trường, câu lạc bộ đóng trên địa bàn này).
5.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Chúng tôi tiến hành 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung bán cấu trúc
nhằm làm sáng rõ hơn các vấn đề quan tâm nghiên cứu, đó là:
- Nhóm những người dẫn khiêu vũ
- Nhóm những người tham gia khiêu vũ và người dẫn khiêu vũ
5.2.5- Phương pháp quan sát
Chúng tôi quan sát trực tiếp công việc mà người dẫn khiêu vũ tham
gia tại một số câu lạc bộ, vũ trường như: quan sát công việc họ đang tham
gia, thái độ của họ đối với khách nhảy, thái độ của họ đối với công việc,…
để từ đó có cái nhìn trực quan, sinh động về hiện tượng này nhằm tránh

GĐ, văn hoá )
C/sách của Đảng và
NN về PT hoá
Đặc điểm cộng
đồng(PTTQ)..
Nhu cầu được tham
gia khiêu vũ của nhóm
xã hội
Đề tài được trình bày 115 trang
Bố cục của đề tài gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung; Phần kết luận
Phần mở đầu gồm: 14 trang
Phần nội dung chính gồm 2 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề
Chương II: Việc làm của người dẫn khiêu vũ trên địa bàn Hà Nội
hiện nay.
Phần kết luận
PHÇN II: NỘI DUNG CHÍNH
15
CHNG I: C S Lí LUN V THC TIN CA TI
1. TNG QUAN V VN NGHIấN CU
Xã hội học về lao động, việc làm và nghề nghiệp là một lĩnh vực rất phát
triển ở nớc ngoài và cũng có không ít những nghiên cứu về nó với những mô
hình tổ chức xã hội nhằm hớng tới mục tiêu kết nối hai lĩnh vực: việc làm và
đào tạo. Có thể kể ra các mô hình việc làm căn cứ theo đào tạo, lấy đào tạo
làm nền tảng của Pháp, đào tạo song song trong doanh nghiệp và trên
giảng đờng của Đức, hay mô hình đào tạo thông qua việc làm của khối
Anh, Mỹ. Một báo cáo mới đây của Ngân hàng phát triển Châu á đã nhấn
mạnh: việc phát triển các hoạt động lao động có giá trị thặng d cao đòi hỏi
phải tăng cờng tiềm năng công nghệ của các nguồn lao động- cái mà khu
vực Đông Nam á hiện nay đang cần chính là nguồn lao động có khả năng

(6/2004). Trong bài viết, tác giả đề cập đến phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở nông thôn là phù hợp với yêu cầu của quá trình CNH,HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Là kết quả của phát triển lực lợng sản xuất và phân công
lại lao động ở nông thôn. Đồng thời, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
nông thôn còn chịu sức ép giải quyết việc làm, tăng mức cầu lao động trên
địa bàn nông thôn.
- TS. Trương Văn Phúc: Thực trạng lao động việc làm qua kết quả
điều tra 1- 7- 2004, Tạp chí Lao động - xã hội, số 251 (16- 30/11/2004).
Trong bài viết, tác giả đề cập đến tình trạng lao động và việc làm của lực
luợng lao động ở các tỉnh, thành phố cũng như ở những vùng kinh tế trọng
điểm. Nó đánh giá một cách khái quát những kết quả đã đạt được về giải
17
quyết việc làm cho lực lượng lao động. Trong đó, có đề cập đến lao động
ngoại thành, một bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng lao động chung
của xã hội.
- Cuốn: “ Sự hình thành và phát triển thị trường lao động ở Việt Nam”
Thạc sĩ Trần Trọng Kim đã hệ thống hoá về thị trường lao động nói chung
và sự phát triển thị trường Việt Nam nói riêng: những điều kiện hình thành,
cung, cầu trên thị trường lao động, việc làm và thất nghiệp, đặc điểm di
chuyển lao động, sự tác động của chính phủ, vai trò của công đoàn trong thị
trường lao động … trên cơ sở phân tích đặc điểm thị trường lao động của
nước ta hiện nay, tác giả tìm ra những căn cứ, đề ra những giải pháp thích
hợp nhằm phát triển, mở rộng thị trường lao động nói riêng và phát triển
kinh tế nước ta nói chung.
Tác giả có viết: tốc độ đô thị hoá và khu vực công nghiệp ở nước ta
đang có xu hướng tăng lên, hiện nay khoảng gần 20% … ở các đô thị, số
người tìm việc làm ngày càng tăng, từ những người “dôi ra” do sắp xếp lại
tổ chức sản xuất và lao động, từ những người thanh niên thôi học, bộ đội
xuất ngũ, những người nông thôn vào thành phố tìm kiếm việc làm sinh
sống … nhưng nhu cầu thu hút lao động ở các thành phần kinh tế, các đơn

tạo ra cơ cấu lao động hợp lý, đáp ứng yêu cầu của sự thay đổi cấu trúc nền
kinh tế, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Lao động nông thôn đang có xu hướng tăng lên, bị lèn chặt trong
đơn vị diện tích đất canh tác có xu hướng giảm dần … Cùng với quá trình
tăng năng suất lao động nông thôn, quá trình đô thị hoá đang diễn ra khá
mạnh mẽ, làm mất đất, nghề nghiệp mất dần, nhất là ở những vùng nông
nghiệp nông thôn ven đô thị lớn, thị xã, thị trấn … Cơ cấu lao động nông
19
thụn ang din ra rt chm chm. Vic lm ca lao ng nụng thụn hin
nay rt kộm hiu qu, nng sut lao ng thp, thu nhp thp, i sng con
nhiu khú khn Nguyờn nhõn ch yu ca nghốo úi l do thiu t v
lm thun nụng, li thiu vn, khụng bit lm n vic lm thiu v hiu qu
rt thp. Nh vy vic lm nụng thụn ang ri vo tỡnh trng nguy cp,
vi trỡnh kin thc ca ngi lao ng thp, t canh tỏc ngy cng b
thu hp, ng thi ú l quỏ trỡnh chuyn dch c cu kinh t trong nụng
nghip din ra chm chp v khụng ng b s gõy ra mt sc ộp mnh v
vic lm trong thi gian ti.
Những nghiên cứu trên tuy đã khái quát một bức tranh chung về việc
làm của những cá nhân trong xã hội, những nghề nghiệp với muôn vàn trăn
trở trong cuộc sống mà họ phải đối diện cùng với những thái độ khen chê
khác nhau của các tác giả, song vẫn cha cú cụng trỡnh no nghiờn cu v
cụng vic dn khiờu v trờn cỏc V trng, Cõu Lc B Vit Nam núi
chung, trờn a bn H ni núi riờng di gúc xó hi hc. Đây chính là h-
ớng gợi mở trong tôi hớng nghiên cứu đề tài: Việc làm của ngời dẫn khiêu
vũ trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
2. C S Lí LUN
2.1. H thng lý thuyt
2.1.1. Lý thuyết biến đổi xã hội
Lý thuyết biến đổi xã hội chỉ ra rằng, mọi xã hội cũng nh tự nhiên không
ngừng biến đổi. Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tơng đối. Còn thực tế,

sống xã hội so với thời điểm trớc đó. Các nhà XHH định nghĩa " Biến đổi xã
hội là một quá trình, qua đó, những khuôn mẫu của hành vi xã hội, các
21
quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay
đổi qua thời gian " [6, tr 276].
Bin i xó hi l mt hin tng ph bin nhng nú din ra khụng
ging nhau gia cỏc xó hi. G.J. Lenski cho rng: tc ca s bin i gia
tng khi nn k thut ca mt xó hi phỏt trin. Do ú, bin i xó hi cỏc
nc cú nn kho hc k thut phỏt trin cao s din ra nhanh hn nhng xó
hi cú nn khoa hc k thut kộm phỏt trin. Hn na khụng phi mi yu
t vn hoỏ u biu hin nhng nhp thay i nh nhau, m cú s "lch
pha" trong s thay i. õy l quỏ trỡnh cỏc hin tng vn hoỏ vt cht
thng cú s thay i nhanh hn cỏc hin tng vn hoỏ tinh thn.
Nhỡn chung, cú th miờu t bin i xó hi bng cỏc c trng c th
sau:
Bin i xó hi l hin tng ph bin nhng nú khụng din ra ging
nhau gia cỏc xó hi.
Bin i xó hi khỏc bit v thi gian v hu qu.
Bin i xó hi va cú tớnh k hoch va cú tớnh phi k hoch.
Vn dng lý thuyt bin i xó hi trong vic phõn tớch s tham gia
ca ngi dn khiờu v vo hot ng khiờu v hin nay. Sau thi k t
nc m ca, kinh t hng hoỏ y mnh nõng cao mc sng ca con
ngi. Quỏ trỡnh hi nhp giỳp con ngi tip cn vi nhng cụng ngh
tiờn tin v giao lu, ho nhp vi nn vn hoỏ ca nhiu nc trờn th gii,
S bin i xó hi trc ht biu hin s phỏt trin kinh t, mc sng ca
ngi dõn trong xó hi ngy cng c ci thin v nõng cao. Trong bi
cnh ú, s bin i xó hi mang li nhng nhu cu mi tronghot ng
gii trớ ca con ngi trong xó hi núi chung, c bit i vi ngi dn
khiờu v núi riờng.
22

của các giá trị chuẩn mực xã hội, nhng đồng thời các chủ thể này thờng chịu
ảnh hưởng các các tiểu văn hoá, thậm chí phản văn hoá khác nhau.
Mức độ khác biệt giữa hệ giá trị, một trong những đặc thù của các
chủ thể hành động trong tương tác xã hội là yếu tố cơ bản quyết định mức
độ chích giữa họ.
Khi tham gia vào hoạt động khiêu vũ, những người tham gia có
những tương tác xã hội nhất định. Bản thân bộ môn khiêu vũ có những đặc
thù về giao tiếp, những vũ điệu và sự đòi hỏi kết hợp hài hoà, nghệ thuật đối
với hai người nam và nữ tham gia. Vậy hoạt động khiêu vũ là điều kiện,
môi trường cho các tương tác giữa hai chủ thể tham gia khiêu vũ. Điều này
lý giải tại sao những người khiêu vũ đẹp thường được nhiều người mời
khiêu vũ cùng hay những mối quan hệ xã hội dễ nảy sinh giữa những người
có cùng niềm đam mê khiêu vũ.
2.1.3. Lý thuyết quan hệ xã hội
Mọi sự vật và hiện tượng trong xã hội đều có những mối liên hệ với
nhau. Nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội.
Quan hệ xã hội này được hình thành từ tương tác xã hội. Những
tương tác này không phải là ngẫu nhiên, mà thường có mục đích, có hoạch
định. Những tương tác này phải có xu hướng lặp lại, ổn định và tạo lập ra
một mô hình tương tác. Nói cách khác, các chủ thể hành động các chủ thể
hành động trong mô hình tương tác này phải đạt được một mức độ tự động
hoá nhất định nào đố. Tức là họ thực hiện gần như không có ý thức, như
thói quen. Hai cá nhân ngẫu nhiên gặp nhau ở bến tàu, nhà hàng hoặc nhà
hát v.v...dù có chào hỏi, trao đổi, trò chuyện lần đó, nhưng lầ sau gặp lại
24
không nhận ra nhau, hoặc không tiếp tục chào hỏi, trao đổi, trò chuyện…thì
giữ họ chưa thể coi là mối quan hệ xã hội.
Ngược lại, nếu như ở những lần gặp sau các cá nhân này lại tiếp tục
sự giao tiếp và phối hợp hành động, thì giữ họ có thể coi là có mối quan hệ
xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status