luận văn: Áp dụng phương pháp TCM để đánh giá giá trị du lịch tại Vườn Quốc Gia Cát Bà tp. Hải Phòng - Pdf 12

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI

“Áp dụng phương pháp TCM để
đánh giá giá trị du lịch tại Vườn Quốc
Gia Cát Bà tp. Hải Phòng.”
TÊN
B
ẢNG

TRANG

Bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến VQG Cát Bà qua các năm 32

Bảng 3.1: Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách 47
Bảng 3.2: Số lượng khách theo nhóm 47
Bảng 3.3: Mục đích của du khách khi đi du lịch 49
Bảng 3.4: Các vấn đề không hài lòng 50
Bảng 3.5: WTP của khách du lịch 51
Bảng 3.6: Đặc điểm các vùng 51
Bảng 3.7: Lượng khách trung bình qua các năm 52
Bảng 3.8: Tỉ lệ tham quan của mỗi vùng qua 1 năm 53
Bảng 3.9: Chi phí giao thông 54
Bảng 3.10: Số lượt thăm quan của mỗi vùng trong 1 năm 55
Bảng 3.11: Chi phí ăn nghỉ 56
Bảng 3.12: Chi phí khác 57
Bảng 3.13: Tổng chi phí mỗi vùng 58
Bảng 3.14: Bảng giá trị VR và TC 59

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi thời kỳ, môi trường luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu, có tác
động thiết thực, nếu không muốn nói là sống còn tới đời sống con người. Môi
trường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm các yếu tố như không khí, nước,
đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho cuộc
sống con người mà chính chúng ta hàng ngày, hàng giờ có những tác động cả
tích cực và tiêu cực lên sự vận động của chúng. Môi trường và tài nguyên
thiên nhiên có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, tạo nên cơ
sở vật chất để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tạo cho con người phương
tiện sinh sống và phát triển bền vững
Môi trường cũng được hiểu như toàn bộ các điều kiện tự nhiên, nhân tạo
bao quanh con người có tác động tới đời sống, sự tồn tại và phát triển của con
người và thiên nhiên. Những điều kiện đó hoặc đã có sẵn trong tự nhiên (rừng
cây, đồi, núi, sông, hồ…) hoặc do con người tạo ra (nhà máy, đường sá, công
trình thủy lợi, khói bụi, rác, chất thải…). Rừng bao gồm nhiều tài nguyên
thiên nhiên con người có thể khai thác, chế biến, sử dụng, phục vụ cuộc sống
của con người (rừng cây, động thực vật, khoáng sản, các mỏ dầu, khí, các
ngưồn nước…). Tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận thiết yếu của môi
trường, có quan hệ chặt chẽ với môi trường. Mỗi hoạt động khai thác tài
nguyên thiên nhiên dù tốt, xấu đều có tác động đến môi trường.

Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương
thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần
thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các
loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên
có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi.
Từ các chức năng trên, có thể nhận thấy rằng, môi trường tự nhiên là yếu
tố quan trọng tới các hoạt động kinh tế của con người, môi trường tự nhiên là
tài sản quốc gia quý giá
Rõ ràng, môi trường tự nhiên là một thành tố quan trọng của hệ thống
kinh tế và nếu không có môi trường tự nhiên thì hệ thống kinh tế sẽ không thể
hoạt động và thực hiện được các chức năng của nó. Do vậy, ta cần quan tâm
đến môi trường tự nhiên như là một tài sản, một tài nguyên không thể thiếu.
Từ trước đến nay, con người vẫn luôn coi môi trường là dạng “trời cho”
hay “thiên nhiên ban tặng” nên người ta khai thác và sử dụng không tính toán
đến những thiệt hại mà hoạt động khai thác gây ra cho môi trường. Một trong
những nguyên nhân của điều này là do hàng hoá môi trường không được định
giá trên thị trường.
Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài:
“Áp dụng phương pháp TCM để đánh giá giá trị du lịch tại Vườn Quốc
Gia Cát Bà tp. Hải Phòng”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục tiêu
Qua phương pháp chi phí du lịch, nhằm xác định lợi ích từ hoạt động du
lịch Vườn Quốc Gia Cát Bà đem lại cho cộng đồng, đồng thời xác định giá
trị môi trường của nó để làm căn cứ cho trong việc quy hoạch phát triển,
hướng tới phát triển bền vững.
2.2. Nhiệm vụ


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời cám ơn của mình tới
TS. Lê Hà Thanh
, khoa Kinh
Tế - Quản lý Tài nguyên, Môi trường và Đô thị, trường Đại học Kinh tế Quốc
dân Hà Nội, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, gợi ý đề tài cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện. Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế -
Quản lý Tài nguyên, Môi trường và Đô thị, trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Bên cạnh đó, trong quá trình, thời gian nghiên cứu lý luận và tìm hiểu

không được đánh giá theo chất lượng của các thành phần môi trường cơ bản
mà được đánh giá trên cơ sở cảm quan và chỉ căn cứ vào những yếu tố hữu
hình tác động lên giác quan của con người, được đánh giá ở sự hài hòa khả
năng tạo ấn tượng và tạo cảm xúc. Tác động từ những biến đổi của chất lượng
môi trường lên hoạt động du lịch thường mang tính trực tiếp, mạnh mẽ và
nhanh chóng. Do vậy, việc bảo vệ chất lượng môi trường cần được coi là một
trong những nội dung quan trọng của công tác bảo vệ môi trường du lịch.
Để bảo vệ hiệu quả chất lượng môi trường, cần nhận thức được đầy đủ
các yếu tố hình thành và tác động lên chất lượng môi trường. Chất lượng môi
trường trước hết được tạo thành bởi các yếu tố tự nhiên không cần có sự xếp
đặt của bàn tay con người như: các dạng địa hình, đất nước, cây cỏ, chim
muông, các hiện tượng thời tiết. Những yếu tố tác động luôn bao gồm yếu tố
thiên nhiên và yếu tố con người
Với tư cách là sự kết hợp của toàn bộ những yếu tố hữu hình, bất kỳ một
hoạt động nào tại khu, tuyến điểm du lịch cũng có thể làm ảnh hưởng đến chất
lượng môi trường, bao gồm cả hoạt động du lịch và các hoạt động kinh tế, dân
sinh khác, đặc biệt là hoạt động xây dựng. Thậm chí trong một số trường hợp,
chính những hoạt động nhằm tạo cảnh quan nhân tạo lại làm mất đi vẻ đẹp
của cảnh quan tự nhiên và làm suy giảm tính hấp dẫn của khu, tuyến hoặc
điểm du lich.
1.1.2. Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế
Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value – TEV) xuất hiện
vào những năm 1980, được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện và hiệu quả về giá trị hàng hoá môi trường mà quá trình nhìn nhận đó không
chỉ bao gồm những giá trị trực tiếp lượng hoá được mà còn bao gồm những
giá trị gián tiếp - những giá trị ẩn khó nhìn thấy nhưng mặt khác lại rất có ý
nghĩa về mặt kinh tế - xã hội.
Một khu rừng có thể cung cấp gỗ cho người tiều phu và các dịch vụ sinh

Giá trị lựa chọn: Mỗi cá nhân có thể tự đánh giá cách lựa chọn để sử
dụng môi trường hay tài nguyên môi trường trong tương lai. Giá trị lựa chọn
là giá trị của môi trường như là lợi ích tiềm tàng trong tương lai khi nó trở
thành giá trị thực sử dụng trong hiện tại. Mỗi cá nhân có thể biểu lộ sự sẵn
sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường để chống lại những khả năng sử dụng
của một người nào đó trong tương lai.
Giá trị lựa chọn còn có thể bao gồm cả giá trị sử dụng của những người
khác (nghĩa là lợi ích gián tiếp mà bạn thu được từ giá trị sử dụng của những
người khác. Bạn cảm thấy hài lòng khi thấy những người khác cũng thu được
những lợi ích nên bạn sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường để đem lại
lợi ích cho người khác) và giá trị sử dụng bởi các thế hệ tương lai (giá trị
truyền lại là sự sẵn lòng chi trả để bảo vệ môi trường để đem lại lợi ích cho
con cháu của chúng ta).
Giá trị lựa chọn = giá trị sử dụng cá nhân + giá trị sử dụng bởi những
người khác + giá trị sử dụng bởi các thế hệ tương lai
Tổng giá trị người sử dụng thu được = giá trị thực sử dụng + giá trị lựa
chọn
Giá trị tồn tại: Các tài nguyên môi trường đều có giá trị thực nội tại của
chính bản thân chúng. Giá trị này không liên quan đến việc sử dụng nên được
gọi là giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng là những vấn đề đạo đức như sự
xuống cấp của môi trường, sự cảm thông đối với các loài sinh vật. Ví dụ như
mỗi cá nhân đều cảm thấy hài lòng với việc bảo vệ các cá thể còn lại của một
số loài như loài cú đốm hay loài cá voi xanh lưng gù. Hầu như tất cả mọi
người đều coi trọng sự tồn tại của các loài này hơn là chỉ đơn giản thích thú
ngắm nhìn chúng. Họ đánh giá cao sự tồn tại của chính các loài vật này.
Tổng giá trị của các tài nguyên môi trường được tính bằng tổng của cả 3
thành phần nói trên:
Tổng giá trị kinh tế = giá trị thực sử dụng + giá trị lựa chọn + giá trị tồn
tại


IUV

OV

BV

EXV
1.2. Vấn đề định giá môi trường
1.2.1. Sự cần thiết phải định giá môi trường
Định giá môi trường là sử dụng các loại công cụ kỹ thuật nhằm lượng
hoá giá trị bằng tiền của hàng hoá chất lượng môi trường làm cơ sở cho việc
hoạch định các chính sách về khai thác, sử dụng và quản lý các hàng hoá môi
trường.
Chúng ta nên định giá môi trường vì:
Thứ nhất, chất lượng môi trường cung cấp điều kiện và không gian sống
cho con người, đồng thời cũng cung cấp tài nguyên cho quá trình sản xuất vật
chất và hấp thụ chất thải trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của con người.
Quá trình lao động sản xuất của con người cũng phục hồi môi trường, vì thế
có thể khẳng định chất lượng môi trường thỏa mãn 2 thuộc tính là giá trị và
giá trị sử dụng. Chất lượng môi trường cũng là loại hàng hóa cần phải định
giá để tránh những thất bại thị trường xảy ra.
Thứ hai, con người có xu hướng khai thác môi trường một cách tràn lan
mà không để ý đến những tác động tiêu cực tới môi trường. Thực hiện định
giá môi trường là cách nhắc nhở con người quan tâm và bảo vệ môi trường.
Đồng thời, cảnh báo con người về mức độ khai thác tài nguyên đang ngày
càng tăng cao tỉ lệ thuận với độ cạn kệt về môi trường.
Thứ ba, định giá môi trường góp phần đưa đến sự công bằng trong quá


Phát biểu sự ưa thích
(Stated Preference)
Bộc lộ sự ưa thích
(Revealed Preference)

Chi phí thay thế


Chi tiêu bảo vệ

Chi phí cơ hội

Liều lượng
đáp ứng
Đánh giá ngẫu nhiên
(Contingent Valuation)
Chi phí
du lịch
(Travel
Cost
Method)
Đánh giá
Hưởng thụ

(Hedonic
Price
Method)
1.2.3.1. Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân
(Individual Travel Cost Method – ITCM)
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch
hàng năm của một cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra.
V
i
= f(TC
i
, S
i
)
Trong đó : V
i
là số lần cá nhân đến điểm du lịch trong 1 năm
TC
i
là chi phí du lịch của cá nhân i
S
i
là các nhân tố có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân đó, ví dụ như:
chi phí thay thế, thu nhập, tuổi, giới tính, trình độ học vấn.
Trong trường hợp này, giá trị giải trí của cá nhân là phần diện tích phía
dưới đường cầu của họ. Vì vậy, tổng giá trị giải trí của cả khu du lịch sẽ tính
bằng cách tổng hợp các đường cầu cá nhân lại. Cách tiếp cận ITCM sẽ gặp
phải hạn chế khi sự dao động là quá nhỏ hoặc trường hợp khi các cá nhân
không đến điểm du lịch một vài lần trong năm. Do đó, trong trường hợp mọi
khách du lịch chỉ đến điểm du lịch 1 lần trong năm thì khó có thể chạy hàm
hồi quy.
Rút ra rằng, phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân chỉ phù hợp với
các khu du lịch mà du khách đến nhiều lần trong năm như công viên hay

lệ số lần tham quan trên 1000 dân – VR.
Đơn vị quan sát của ZTCM là các vùng vì khi áp dụng ZTCM thì diện
tích xung quanh điểm du lịch được chia thành các vùng với khoảng cách khác
nhau tới điểm du lịch. Những hạn chế của ITCM đã được khắc phục khi sử
dụng ZTCM. ZTCM sử dụng tỷ lệ số lần viếng thăm của mỗi vùng tới điểm
du lịch (VR) là hàm của chi phí du lịch, bởi vậy số lần một cá nhân tới điểm
du lịch hoàn toàn không ảnh hưởng đến hàm.
ZTCM không phải không có những hạn chế riêng của nó vì mô hình chi
phí du lịch theo vùng cũng thống kê không hiệu quả vì nó tổng hợp dữ liệu từ
số lượng lớn các cá nhân thành 1 vài vùng quan sát. Mặt khác, mô hình chi
phí du lịch theo vùng xem tất cả các cá nhân đến từ một vùng có các chi phí
du lịch như nhau trong khi điều này không phải lúc nào cũng đúng.
1.2.4. Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch
Trong phần này sẽ nêu các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch
theo vùng.
Bước 1:
Cần xác định vị trí mà chúng ta muốn đánh giá, sau đó chọn một số
lượng người thường xuyên lui tới đó.
Bước 2:
Sau khi giới thiệu mục đích khảo sát, bảng câu hỏi nên phân tích cẩn
thận những đặc điểm chính của chuyến đi cùng với các đặc điểm kinh tế xã
hội của du khách. Một số biến số sẽ phụ thuộc vào loại mô hình chi phí du lịch nào được sử dụng ( ZTCM, hay ITCM). Hạn chế thiết kế bảng câu hỏi
quá dài dòng, vì khả năng gây phiền cho người bị phỏng vấn. Cuối cùng, soạn
các câu hỏi chính xác đủ ý mà thôi. Chúng ta sẽ hỏi khách du lịch về:
Họ từ đâu tới (thành phố nào, nước nào)
Số khách trên một phương tiện chuyên chở tới
Phương tiện đểchuyên chở (ô tô, máy bay, xe máy…)

Thứ hai là tính tỷ lệ thăm trên 1000 dân ở mỗi vùng. Nó đơn giản chỉ là
tổng lượt thăm mỗi năm từ mỗi vùng rồi chia cho dân số của vùng với đơn vị
nghìn.
Bước 5:
Xem xét mối quan hệ giữa chi phí của chuyến đi với số lần đi tới vị trí
đánh giá của các nhóm thông qua những số liệu điều tra, tính toán ở trên.
V
i
= V(TC
i
, POP
i
, S
i
)
Hay: VR
i
= V(TC
i
, S
i
)
Toàn bộ vùng có nhu cầu là:
n
i
VR
i
= n
i
V(TC

Nếu công việc điều tra, phỏng vấn khách quan và đúng quy trình thì kết
quả mang lại sự phục vụ tốt cho công tác chính sách.
1.2.6. Hạn chế
Trong thực tế vẫn có thể xảy ra trường hợp có những khách du lịch cho
rằng vị trí đánh giá rất có ý nghĩa với họ. Vì vậy, thay vì thường xuyên đến họ
lại mua luôn nhà gần vị trí đó để ở. Trong trường hợp đó việc xác lập cự ly sẽ
được xem xét và tính toán lại.
Cũng có trường hợp khi chúng ta điều tra và gặp phải những đối tượng
không phải bỏ chi phí (thường xảy ra ở những vị trí gần với địa bàn cư trú)
nhưng lại đánh giá cao chất lượng môi trường ở đó. Như vậy, không thể định
giá môi trường bằng phương pháp chi phí du lịch được mà phải sử dụng
phương pháp khác. Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp này chúng ta còn gặp phải một số trở
ngại khác như: việc trả lời không chính xác theo mẫu hoặc những vấn đề liên
quan đến lợi ích của số người không sử dụng trực tiếp… Trong trường hợp đó
đòi hỏi người đánh giá phải có các cách xử lý về mặt kỹ thuật phù hợp.

Phần 2: Tổng Quan Về Vườn Quốc Gia Cát Bà

2.1. Đặc điểm chung của Vườn Quốc Gia Cát Bà, Thành phố Hải
Phòng
Vườn Quốc Gia Cát Bà được thành lập theo quyết định 79/CP ngày
31/3/1986 của chủ tịch hội đồng Bộ trưởng, có diện tích 15.200 ha (9.800 ha
rừng và 5.400 ha mặt biển) trên hải đảo Cát Bà, cách thành phố Hải Phòng 60
km và cách thủ đô Hà Nội 160 km về phía Đông Nam.
Người dân trên đảo Cát Bà hầu hết là bộ phận dân cư di cư từ đất liền ra,
sống chủ yếu bằng nghề đánh cá, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt và
kinh doanh dịch vụ. Đời sống cư dân nơi đây khá ổn định, tuy khu vực vùng

non hiểm trở có độ cao dưới 500 m, trong đó đa phần là nằm trong khoảng
50-200 m. Đảo Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy
dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam. Vườn Quốc Gia Cát Bà được phân thành
6 vùng với:
2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người),
vùng lõi phía Đông Nam có diện tích 6.900 ha, trong đó 5300 ha thuộc phần
đảo, 1600 ha phần biển; vùng lõi phía Tây Bắc có diện tích 1600 ha, trong đó
1200 ha thuộc phần đảo, 400 ha phần biển.
2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết hợp với bảo
tồn), vùng đệm là vùng có chức năng phát triển điều hòa, tôn trọng hiện trạng,
phù hợp với các tiêu chí nhằm phục vụ công tác bảo tồn vùng lõi. Vùng đệm
trung tâm nằm giữa vùng lõi Đông Nam ( vùng đệm thuộc xã Việt Hải) có diện tích 141 ha, vùng đệm tiếp giáp có diện tích 7600 ha, trong đó 4800 ha
phần đảo, 2800 ha phần biển.
Vùng chuyển tiếp ở ngoài cùng. Các hoạt động kinh tế ở đây vẫn duy trì
bình thường, trong đó nhân dân địa phương cùng các nhà khoa học công ty tư
nhân, các tổ chức xã hội phối hợp cùng khai thác, quản lý và phát triển bền
vững nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên mà Vườn Quốc Gia Cát Bà đem lại.
Vườn Quốc Gia Cát Bà có 2 vùng chuyển tiếp: vùng chuyển tiếp phía Bắc (
xã Gia Luận) có diện tích 1300 ha;. vùng chuyển tiếp phía Nam 8700 ha.
Vùng chuyển tiếp là nơi tập trung đông dân cư nên chú trọng khuyến khích
phát triển mang tính cộng đồng, hướng các dự án vào phát triển nông thôn,
các hoạt động phục vụ dân sinh như nuôi trồng thủy sản, thu hút bộ phận dân
cư chuyển sang dịch vụ du lịch và đào tạo những lao động có tay nghề kỹ
thuật cao về đánh bắt hải sản để phát triển nghề cá và dịch vụ du lịch. Khu dự
trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá
vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang
động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status