Áp dụng phương pháp TCM để đánh giá giá trị du lịch tại Vườn Quốc Gia Cát Bà - Pdf 88

GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
- BV: Bequest Value – giá trị tuỳ thuộc hay giá trị để lại
- DUV: Direct Use Value – giá trị sử dụng trực tiếp
- EXV: Existence Value – giá trị tồn tại
- ITCM: Individual Travel Cost Method – cách tiếp cận phương pháp chi phí
du lịch theo cá nhân.
- IUV: Indirect Use Value – giá trị sử dụng gián tiếp
- NUV: Non Use Value – giá trị không sử dụng
- OV: Option Value – giá trị tuỳ chọn
- TEV: Total Economic Value - tổng giá trị kinh tế.
- TCM: Travel Cost Method – phương pháp chi phí du lịch.
- UV: Use Value – giá trị sử dụng.
- WTP: Willingness to pay - mức sẵn lòng chi trả.
- ZTCM: Zonal Travel Cost Method – cách tiếp cận phương pháp chi phí du
lịch theo vùng.
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

TÊN BẢNG TRANG
Bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến VQG Cát Bà qua các năm 32
Bảng 3.1: Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách 47
Bảng 3.2: Số lượng khách theo nhóm 47
Bảng 3.3: Mục đích của du khách khi đi du lịch 49
Bảng 3.4: Các vấn đề không hài lòng 50
Bảng 3.5: WTP của khách du lịch 51
Bảng 3.6: Đặc điểm các vùng 51
Bảng 3.7: Lượng khách trung bình qua các năm 52
Bảng 3.8: Tỉ lệ tham quan của mỗi vùng qua 1 năm 53
Bảng 3.9: Chi phí giao thông 54
Bảng 3.10: Số lượt thăm quan của mỗi vùng trong 1 năm 55
Bảng 3.11: Chi phí ăn nghỉ 56
Bảng 3.12: Chi phí khác 57

đời sống con người, tạo nên cơ sở vật chất để phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội, tạo cho con người phương tiện sinh sống và phát triển bền vững.
Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên là giữ cho môi trường trong
lành, sạch đẹp, bảo đảm cân bằng sinh thái, cải thiện môi trường; ngăn chặn,
khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra, khai thác, sử
dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên. Bảo vệ môi trường và tài
nguyên thiên nhiên là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách của Quốc gia ,là sự
nghiệp của toàn dân. Các tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi
trường. Bảo vệ tốt môi trường thì con người mới có thể tạo ra một cuộc sống
tốt đẹp, bền vững, lâu dài. Vì vậy, việc nâng tầm nhận thức của con người về
các vấn đề môi trường, sự tác động qua lại giữa môi trường và các vấn đề
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội là việc làm hết sức cấp bách và cần đến sự
phối hợp đồng bộ của nhiều cá nhân, tổ chức có liên quan.
Là những cá thể trực tiếp tham gia vào các mối quan hệ và nhiều hoạt
động kinh tế hiện tại, chúng ta hiểu rõ mọi hoạt động kinh tế, xã hội gây nên
những ảnh hưởng tới môi trường theo nhiều chiều hướng khác nhau. Và
đương nhiên, hệ thống môi trường cũng “phản hồi” những tác động đó theo
chiều hướng, tính chất bị tác đông.
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. Môi
trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản
xuất của con người.
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con
người và sinh vật trên trái đất.
Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương
thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần
thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các

Phương pháp thu thập thông tin: tổng hợp tài liệu thứ cấp cùng với
phỏng vấn trực tiếp.
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp thực địa
Phương pháp xử lí số liệu bằng các phần mềm Excel,
Phương pháp lượng giá giá trị cảnh quan: sử dụng phương pháp chi
phí du lịch theo vùng (Zonal travel cost method – ZTCM).
4. Cấu trúc của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, chuyên đề
được trình bày trong ba chương:
Chương I: Sử dụng phương pháp chi phí du lịch cho đánh giá chất
lượng môi trường.
Chương II: Tổng quan về Vườn Quốc Gia Cát Bà.
Chương III: Ứng dụng phương pháp chi phí du lịch để xác định giá trị
cảnh quan tại Vườn Quốc Gia Cát Bà.
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cám ơn của mình tới TS. Lê Hà Thanh, khoa Kinh
Tế - Quản lý Tài nguyên, Môi trường và Đô thị, trường Đại học Kinh tế Quốc
dân Hà Nội, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, gợi ý đề tài cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế -
Quản lý Tài nguyên, Môi trường và Đô thị, trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Bên cạnh đó, trong quá trình, thời gian nghiên cứu lý luận và tìm hiểu
thực tiễn để hoàn thành đề tài này, tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
Tổng cục Thống kê, Phòng môi trường, Trung tâm du lịch sinh thái và giáo
dục môi trường Vườn Quốc Gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng.
Tôi xin trân trọng cảm ơn.
Tôi cũng xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các kết quả,

thiên nhiên và yếu tố con người..
Với tư cách là sự kết hợp của toàn bộ những yếu tố hữu hình, bất kỳ một
hoạt động nào tại khu, tuyến điểm du lịch cũng có thể làm ảnh hưởng đến chất
lượng môi trường, bao gồm cả hoạt động du lịch và các hoạt động kinh tế, dân
sinh khác, đặc biệt là hoạt động xây dựng. Thậm chí trong một số trường hợp,
chính những hoạt động nhằm tạo cảnh quan nhân tạo lại làm mất đi vẻ đẹp
của cảnh quan tự nhiên và làm suy giảm tính hấp dẫn của khu, tuyến hoặc
điểm du lich.
1.1.2. Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế
Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value – TEV) xuất hiện
vào những năm 1980, được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện
và hiệu quả về giá trị hàng hoá môi trường mà quá trình nhìn nhận đó không
chỉ bao gồm những giá trị trực tiếp lượng hoá được mà còn bao gồm những
giá trị gián tiếp - những giá trị ẩn khó nhìn thấy nhưng mặt khác lại rất có ý
nghĩa về mặt kinh tế - xã hội.
Một khu rừng có thể cung cấp gỗ cho người tiều phu và các dịch vụ sinh
thái cho cộng đồng địa phương, rồi lọc nước cho các nhà máy thuỷ điện, các
nguồn gen cho các công ty dược phẩm đa quốc gia đồng thời là nơi hấp thụ
carbon cho phát thải CO
2
toàn cầu. Như vậy, tổng của tất cả các loại giá trị
liên quan đến một tài nguyên thì được gọi là tổng giá trị kinh tế (TEV).
Giá trị, xét về góc độ kinh tế, là một khái niệm nhân tâm, nghĩa là giá trị
được xác định bởi con người trong xã hội chứ không phải do chính quyền hay
quy luật của tự nhiên quy định. Các nhà kinh tế đã phát triển một nguyên tắc
phân loại các giá trị kinh tế khi liên hệ với môi trường tự nhiên. Có 3 phương
pháp khác nhau để đánh giá giá trị: giá trị sử dụng, giá trị lựa chọn và giá trị
tồn tại.
Giá trị sử dụng: Các nhà kinh tế phải tính giá trị sử dụng, là loại giá trị
được rút ra từ hiệu quả sử dụng thực của môi trường. Người câu cá, thợ săn,

chọn
Giá trị tồn tại: Các tài nguyên môi trường đều có giá trị thực nội tại của
chính bản thân chúng. Giá trị này không liên quan đến việc sử dụng nên được
gọi là giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng là những vấn đề đạo đức như sự
xuống cấp của môi trường, sự cảm thông đối với các loài sinh vật. Ví dụ như
mỗi cá nhân đều cảm thấy hài lòng với việc bảo vệ các cá thể còn lại của một
số loài như loài cú đốm hay loài cá voi xanh lưng gù. Hầu như tất cả mọi
người đều coi trọng sự tồn tại của các loài này hơn là chỉ đơn giản thích thú
ngắm nhìn chúng. Họ đánh giá cao sự tồn tại của chính các loài vật này.
Tổng giá trị của các tài nguyên môi trường được tính bằng tổng của cả 3
thành phần nói trên:
Tổng giá trị kinh tế = giá trị thực sử dụng + giá trị lựa chọn + giá trị tồn
tại
= giá trị sử dụng + giá trị không sử dụng
Như vậy, các nhà kinh tế học môi trường đã thực hiện được rất nhiều khi
phân loại các giá trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường tự
nhiên. Tuy vấn đề thuật ngữ vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng nhìn
trên cơ sở chung họ đều dựa trên sự tương tác giữa con người (người định ra
giá trị) với môi trường (vật được đánh giá). Theo nguyên tắc, để đo lường
TEV các nhà kinh tế học tiến hành bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và
giá trị không sử dụng, và TEV đã được khái quát hoá bằng công thức sau:
TEV = UV + NUV = (DUV + IUV + OV) + (BV + EXV)

Hình 1.1: Sơ đồ TEV
Trong đó: - TEV (Total economic values) là tổng giá trị kinh tế.
- UV (Use values) là giá trị sử dụng.
- DUV (Direct use values) là giá trị sử dụng trực tiếp.
- IUV (Indirect use values) là giá trị sử dụng gián tiếp.
- OV (Option values) là giá trị tuỳ chọn.
- NUV (Nonuse values) là giá trị không sử dụng.

Thứ tư, khi cả giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng được lượng hoá,
thì sẽ có tính thuyết phục cao trong việc giáo dục nâng cao nhận thức của
người dân nói chung cũng như có thể chỉ dẫn quá trình thực hiện về mặt kinh
tế đúng đắn hơn.
Thứ năm, nếu tiến hành lượng hoá một cách cẩn thận thì sẽ tạo ra được
một nền tảng cơ sở chính sách an toàn và hợp lý, qua đó có phương cách sử
dụng môi trường cẩn thận hơn.
Như vậy, có thể kết luận việc định giá môi trường là hoàn toàn cần thiết
và đúng đắn. Vậy người ta sẽ định giá môi trường như thế nào? Sau đây là
một số phương pháp được áp dụng khá phổ biến.
1.2.2. Phương pháp định giá môi trường
Hình 1.2. Các phương pháp định giá môi trường
Để đánh giá hàng hoá môi trường (hay là TEV) thì cách tiếp cận chung
của thế giới cơ bản có hai nhóm phương pháp đánh giá. Đó là: các phương
pháp sử dụng đường cầu và các phương pháp không sử dụng đường cầu.
1.2.2.1. Các phương pháp không sử dụng đường cầu
Là các phương pháp trực tiếp hay gián tiếp mà mỗi khi đánh giá chất
lượng môi trường người ta sẽ xác định giá trị trên cơ sở các kỹ thuật đánh giá
mà không lập hàm cầu (hàm lợi ích). Đây là nhóm phương pháp không thể lập
được hàm cầu, do đó không thể đo lường được phúc lợi thực tế nhưng mặt
khác thông tin lại rất hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách.
Các phương pháp không sử dụng đường cầu bao gồm:
Phương pháp đáp ứng liều lượng
Phương pháp chi phí thay thế
Phương pháp chi phí cơ hội.
Phương pháp chi tiêu bảo vệ
1.2.2.2. Các phương pháp sử dụng đường cầu
Phương pháp
Dùng đường cầu Không dùng đường cầu
Phát biểu sự ưa thích

1.2.3. Các cách tiếp cận của phương pháp chi phí du lịch
Trong số các mô hình chi phí du lịch thì chi phí du lịch theo vùng
(ZTCM) và chi phí du lịch theo cá nhân (ITCM) là 2 cách tiếp cận phổ biến
và đơn giản nhất của phương pháp chi phí du lịch.
1.2.3.1. Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân
(Individual Travel Cost Method – ITCM)
q
P
MB = WTP
TEV
P : giá cả
q : chất lượng môi trường
WTP : sẵn lòng chi trả
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch
hàng năm của một cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra.
V
i
= f(TC
i
, S
i
)
Trong đó : V
i
là số lần cá nhân đến điểm du lịch trong 1 năm
TC
i
là chi phí du lịch của cá nhân i
S
i

là số dân của vùng i
S
i
là các biến kinh tế xã hội
Thông thường biến phụ thuộc được biểu hiện dưới dạng (V
i
/POP
i
) hay tỉ
lệ số lần tham quan trên 1000 dân – VR.
Đơn vị quan sát của ZTCM là các vùng vì khi áp dụng ZTCM thì diện
tích xung quanh điểm du lịch được chia thành các vùng với khoảng cách khác
nhau tới điểm du lịch. Những hạn chế của ITCM đã được khắc phục khi sử
dụng ZTCM. ZTCM sử dụng tỷ lệ số lần viếng thăm của mỗi vùng tới điểm
du lịch (VR) là hàm của chi phí du lịch, bởi vậy số lần một cá nhân tới điểm
du lịch hoàn toàn không ảnh hưởng đến hàm.
ZTCM không phải không có những hạn chế riêng của nó vì mô hình chi
phí du lịch theo vùng cũng thống kê không hiệu quả vì nó tổng hợp dữ liệu từ
số lượng lớn các cá nhân thành 1 vài vùng quan sát. Mặt khác, mô hình chi
phí du lịch theo vùng xem tất cả các cá nhân đến từ một vùng có các chi phí
du lịch như nhau trong khi điều này không phải lúc nào cũng đúng.
1.2.4. Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch
Trong phần này sẽ nêu các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch
theo vùng.
Bước 1:
Cần xác định vị trí mà chúng ta muốn đánh giá, sau đó chọn một số
lượng người thường xuyên lui tới đó.
Bước 2:
Sau khi giới thiệu mục đích khảo sát, bảng câu hỏi nên phân tích cẩn
thận những đặc điểm chính của chuyến đi cùng với các đặc điểm kinh tế xã

OC là chi phí thời gian
ct (cost of transport) là chi phí vào phương tiện giao thông
Như vậy, chi phí của toàn bộ chuyến đi sẽ bao gồm: vé vào cổng, chi phí
nghỉ ngơi, chi phí ăn uống, chi phí cơ hội trên đường đi và trong thời gian lưu
lại khu giải trí, chi phí phương tiện giao thông.
Thứ hai là tính tỷ lệ thăm trên 1000 dân ở mỗi vùng. Nó đơn giản chỉ là
tổng lượt thăm mỗi năm từ mỗi vùng rồi chia cho dân số của vùng với đơn vị
nghìn.
Bước 5:
Xem xét mối quan hệ giữa chi phí của chuyến đi với số lần đi tới vị trí
đánh giá của các nhóm thông qua những số liệu điều tra, tính toán ở trên.
V
i
= V(TC
i
, POP
i
, S
i
)
Hay: VR
i
= V(TC
i
, S
i
)
Toàn bộ vùng có nhu cầu là:
n
i

Xem xét trên các góc độ kinh tế, phương pháp chi phí du lịch cho chúng
ta cách nhìn nhận tương đối dễ hiểu, dễ tiếp cận.
Nếu công việc điều tra, phỏng vấn khách quan và đúng quy trình thì kết
quả mang lại sự phục vụ tốt cho công tác chính sách.
1.2.6. Hạn chế
Trong thực tế vẫn có thể xảy ra trường hợp có những khách du lịch cho
rằng vị trí đánh giá rất có ý nghĩa với họ. Vì vậy, thay vì thường xuyên đến họ
lại mua luôn nhà gần vị trí đó để ở. Trong trường hợp đó việc xác lập cự ly sẽ
được xem xét và tính toán lại.
Cũng có trường hợp khi chúng ta điều tra và gặp phải những đối tượng
không phải bỏ chi phí (thường xảy ra ở những vị trí gần với địa bàn cư trú)
nhưng lại đánh giá cao chất lượng môi trường ở đó. Như vậy, không thể định
giá môi trường bằng phương pháp chi phí du lịch được mà phải sử dụng
phương pháp khác.
Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp này chúng ta còn gặp phải một số trở
ngại khác như: việc trả lời không chính xác theo mẫu hoặc những vấn đề liên
quan đến lợi ích của số người không sử dụng trực tiếp… Trong trường hợp đó
đòi hỏi người đánh giá phải có các cách xử lý về mặt kỹ thuật phù hợp.
Phần 2: Tổng Quan Về Vườn Quốc Gia Cát Bà
2.1. Đặc điểm chung của Vườn Quốc Gia Cát Bà, Thành phố Hải
Phòng
Vườn Quốc Gia Cát Bà được thành lập theo quyết định 79/CP ngày
31/3/1986 của chủ tịch hội đồng Bộ trưởng, có diện tích 15.200 ha (9.800 ha
rừng và 5.400 ha mặt biển) trên hải đảo Cát Bà, cách thành phố Hải Phòng 60
km và cách thủ đô Hà Nội 160 km về phía Đông Nam.
Người dân trên đảo Cát Bà hầu hết là bộ phận dân cư di cư từ đất liền ra,
sống chủ yếu bằng nghề đánh cá, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt và
kinh doanh dịch vụ. Đời sống cư dân nơi đây khá ổn định, tuy khu vực vùng
đệm vẫn còn nhiều khó khăn, dân sống dựa vào săn bắn, làm nương rẫy hoặc
trôi nổi trên biển. Đảo Cát Bà có diện tích không lớn những có nhiều phong

2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người),
vùng lõi phía Đông Nam có diện tích 6.900 ha, trong đó 5300 ha thuộc phần
đảo, 1600 ha phần biển; vùng lõi phía Tây Bắc có diện tích 1600 ha, trong đó
1200 ha thuộc phần đảo, 400 ha phần biển.
2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết hợp với bảo
tồn), vùng đệm là vùng có chức năng phát triển điều hòa, tôn trọng hiện trạng,
phù hợp với các tiêu chí nhằm phục vụ công tác bảo tồn vùng lõi. Vùng đệm
trung tâm nằm giữa vùng lõi Đông Nam ( vùng đệm thuộc xã Việt Hải) có
diện tích 141 ha, vùng đệm tiếp giáp có diện tích 7600 ha, trong đó 4800 ha
phần đảo, 2800 ha phần biển.
Vùng chuyển tiếp ở ngoài cùng. Các hoạt động kinh tế ở đây vẫn duy trì
bình thường, trong đó nhân dân địa phương cùng các nhà khoa học công ty tư
nhân, các tổ chức xã hội...phối hợp cùng khai thác, quản lý và phát triển bền
vững nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên mà Vườn Quốc Gia Cát Bà đem lại.
Vườn Quốc Gia Cát Bà có 2 vùng chuyển tiếp: vùng chuyển tiếp phía Bắc
( xã Gia Luận) có diện tích 1300 ha;. vùng chuyển tiếp phía Nam 8700 ha.
Vùng chuyển tiếp là nơi tập trung đông dân cư nên chú trọng khuyến khích
phát triển mang tính cộng đồng, hướng các dự án vào phát triển nông thôn,
các hoạt động phục vụ dân sinh như nuôi trồng thủy sản, thu hút bộ phận dân
cư chuyển sang dịch vụ du lịch và đào tạo những lao động có tay nghề kỹ
thuật cao về đánh bắt hải sản để phát triển nghề cá và dịch vụ du lịch. Khu dự
trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá
vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang
động.
2.1.1.2. Khí hậu, thuỷ văn
Do có địa hình đặc biệt là đồi núi xen kẽ với đồng bằng và nằm sát biển
nên các khu vực của Vườn Quốc Gia Cát Bà gần nhau nhưng lại có sự khác
biệt nhau về khí hậu. Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng
của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng
tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa

nhưỡng nhân tác. Ở đây nhân tố thổ nhưỡng trở thành nhân tố quyết định làm
cho quần thể thực vật rừng không thể diễn thế phục hồi lại trạng thái ban đầu
Hệ thực vật:
Hệ thực vật mang nguồn gốc thực vật Hymalaya - Myanma, Nam Trung
Hoa và đảo Hải Nam với 149 họ, 495 chi, 745 loài thực vật bậc cao; trong số
đó có 145 loài gỗ lớn, 120 loài gỗ nhỏ, 81 loài cây bụi, cây nửa bụi, cây leo
50 loài, cây thân thảo đứng 237 loài, cây thân thảo leo 56 loài và 56 loài
quyết. Nhiều cây cần bảo tồn như chò chỉ, trai lý, lát hoa, kim giao và cọ Bắc
Sơn. Rừng ngập mặn dày đặc, bãi cát rải rác, có ngấn sóng vỗ, có rạn san hô
ngầm viền quanh chân đảo và năm 2004, UNESCO đã công nhận đây là khu
dự trữ sinh quyển quần đảo, trong đó có 58 loài nằm trong Sách Đỏ Việt
Nam, 29 loài được Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên thế giới IUCN xếp loại bị đe
dọa. Nhiều loài thực vật đặc hữu của địa phương và Đông Dương cũng có mặt
tại đây. Các loại nấm cũng có khá nhiều. Cán bộ khoa học đã thống kê có tới
44 loài nấm thuộc 22 chi. Ngoài ra, trên núi đá vôi có cả ao, hồ, suối ngầm,

Trích đoạn Tiềm năng du lịch Thực trạng du lịch Cơ sở vật chất phục vụ du lịch Nghiên cứu khoa học Công tác quản lý và bảo vệ rừng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status