MỤC LỤC
Trang
GIẢI NGHĨA TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Tiếng anh Tiếng việt
1 ITCM
Individual travel cost
method
Phương pháp chi phí du
lịch cá nhân
2 ZTCM Zonal travel cost method
Phương pháp chi phí du
lịch theo vùng
3 TEV Total economic value Tổng giá trị kinh tế
4 VQG Vườn quốc gia
5 DLST Du lịch sinh thái
1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
TÊN BẢNG Trang
Bảng 2.1: Lượng du khách đến VQG Cát Bà qua các năm 36
Bảng 3.1: Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách phỏng vấn 46
Bảng 3.2: Số du khách trong mỗi nhóm tại VQG Cát Bà 48
Bảng 3.3: Mục đích du khách tới VQG Cát Bà 49
Bảng 3.4: Các hoạt động được du khách ưa thích 50
Bảng 3.5: Những điểm làm du khách chưa hài long 51
Bảng 3.6: Phân vùng xuất phát 54
Bảng 3.7: Số lượt tham quan của mỗi vùng 56
Bảng 3.8: Tỷ lệ tham quan/1000dân/năm 57
Bảng 3.9: Chi phí ăn, ở của mỗi vùng 60
Bảng 3.10: Chi phí đi lại của du khách 61
Bảng 3.11: Chi phí cơ hội 63
Bảng 3.12: Tổng hợp các chi phí 63
Trong quan điểm hiện nay người ta cho rằng hệ thống kinh tế được gắn kết
với hệ thống tự nhiên thông qua hai dòng vật chất cơ bản: các yếu tố đầu vào
dưới dạng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường và các yếu tố đầu ra
dưới dạng chất thải, việc lượng hóa được đầu vào và đầu ra của các sản phẩm tức
là chúng ta đã lượng hóa được các chi phí và lợi ích của tài nguyên và môi
trường, điều này có nghĩa chúng ta đã khắc phục được những thất bại của thị
trường.
Nhìn nhận mang tính chất toàn diện thì môi trường có 3 vai trò chính đó là:
cung cấp tài nguyên thiên nhiên, chứa chất thải, dịch vụ sinh thái và cung cấp
thông tin. Từ vai trò của môi trường con người đã biết vận dụng những quy luật
tự nhiên để đưa ra các vấn đề như vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học ở những vùng
nhiệt đới có đa dạng sinh học cao.
Việt Nam là một nước nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa có độ ẩm và
nền nhiệt cao có những điều kiện thuận lợi để phát triển rừng cùng hệ đa dạng
sinh học cao. Đó là những tiềm năng cho phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch
sinh thái, du lịch vườn, một trong những ngành vừa mang lại giá trị kinh tế cao
lại gìn giữ được cảnh quan tự nhiên nếu có những biện pháp và chính sách đúng
đắn.
Vườn quốc gia Cát Bà là một trong sáu khu sinh thái Việt Nam được
Unesco công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới (Cần Giờ, Cát Tiên, Đồng
bằng sông Hồng, Cát Bà, Kiên Giang và Tây Nghệ An). Cho đến ngày nay, Cát
4
Bà đã trở thành địa chỉ du lịch quen thuộc với nhiều người, nhất là với khách
thích đi du lịch sinh thái.
Đây là một điểm du lịch hấp dẫn du khách bởi có chất lượng môi trường
tốt, số lượng du khách đến nơi này hàng năm là tương đối lớn.Chính vì vậy tôi
quyết định chọn đề tài của mình là: “Áp dụng phương pháp chi phí du lịch để
đánh giá giá trị cảnh quan vườn quốc gia Cát Bà, Hải Phòng”.
2. Mục tiêu
- Áp dụng phương pháp chi phí du lịch vào một địa điểm cụ thể để làm
kinh tế môi trường trong việc xây dựng, thiết kế bảng hỏi, phương
pháp phỏng vấn khách du lịch cũng như việc xây dựng các mô
hình tính toán trong đề tài này.
6
Phương pháp xử lý số liệu bằng các phần mềm Excel: Các số liệu
điều tra sẽ được tổng hợp và tính toán bằng các hàm cơ bản trên
Excel ví dụ như min, max, average…hàm cầu du lịch được hồi
quy bằng công cụ Regression Analysis trong excel.
Phương pháp lượng giá gía trị cảnh quan: Để lượng giá giá trị
cảnh quan của địa điểm nghiên cứu, trong đề tài này tôi sử dụng
phương pháp chi phí du lịch theo vùng (ZTCM).
5. Cấu trúc chuyên đề
Chương I. Phương pháp TCM cho đánh giá hàng hóa chất lượng môi
trường
Chương II. Tổng quan về VQG Cát Bà
Chương III. Áp dụng phương pháp TCM để lượng giá giá trị kinh tế VQG
Cát Bà
CHƯƠNG I. PHƯƠNG PHÁP TCM CHO ĐÁNH GIÁ HÀNG HÓA CHẤT
LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
1.1. Hàng hóa môi trường
1.1.1. Khái niệm
Hàng hoá môi trường là một loại hàng hoá mà người ta mơi đưa vào trong
kinh tế học môi trường để xem xét giá trị của nó mà trong định nghĩa người ta
cho rằng chất lượng môi trường là hàng hoá nên nó có giá trị và giá trị sử dụng.
7
Khi xem xét về hàng hoá môi trường cho đến nay thì các nhà kinh tế môi
trường đều thống nhất cho rằng muốn nghiên cứu nó thì phải nhìn nhận trên góc
độ tổng giá trị kinh tế.
1.1.2. Tổng giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường
Hiện nay các nhà kinh tế môi trường cho rằng để đánh giá một hệ sinh thái
thưởng thức nguồn tài nguyên bằng cách tiêu dùng nó. Ví dụ: giá trị
cảnh quan của một công viên hay một khu rừng.
IUV (Indirect use values): Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị
chủ yếu dựa trên chức năng của hệ sinh thái và môi trường, hay nói
cách khác đây là các chức năng môi trường cơ bản gián tiếp hỗ trợ
cho các hoạt động kinh tế và lợi ích của mọi người. Ví dụ một khu
vực bảo vệ lưu vực sông hay tầng ôzôn bảo vệ trái đất khỏi tia cực
tím. Tuy nhiên sự khác nhau giữa giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị
sử dụng gián tiếp chỉ mang tính chất tương đối.
OV (Option values): Giá trị tuỳ chọn là lượng mà mỗi cá nhân sẵn
sàng chi trả để bảo tồn. Đây là giá trị do nhận thức của con người
đặt ra trong hệ sinh thái. Giá trị này không có tính thống nhất chung
và cũng phải được tính về mặt tiền tệ theo tínn chất lựa chọn của nó.
Ví dụ bảo tồn một khu vực tự nhiên là một lựa chọn cho chúng ta
khả năng biến đổi nó trong tương lai hay giữ lại nó dựa vào những
thông tin thu thập về giá trị tương đối của khu vực tự nhiên.
NUV (Non use values): Giá trị phi sử dụng thể hiện các giá trị phi
phưong tiện nằm trong bản chất của sự vật, không liên quan đến việc
sử dụng thực tế hoặc thậm chí việc lựa chọn sự vật này. Tuy nhiên
thay vào đó những giá trị này thường liên quan nhiều về mặt lợi ích
của con người. Gía trị phi sử dụng bao gồm:
BV (Bequest values): Giá trị tuỳ thuộc hay giá trị để lại phụ thuộc
vào nhiều yếu tố trong một hàm nhiều biến và có thể có sự thay đổi
trên cơ sở phát hiện của khoa học cũng như nhận thức của con
10
người. Một số người cho rằng giá trị tuỳ thuộc là giá trị của việc để
lại các giá trị sử dụng và phi sử dụng cho con cháu.
EXV (Existen values): Giá trị tồn tại xuất phát từ nhận thức của con
người về tài nguyên và môi trường mà người ta cho rằng sự tồn tại
của một cá thể hay một giống loài nào đó có ý nghĩa về mặt kinh tế
môi trường phục vụ cho việc hoạch định chính sách duy trì, bảo tồn đầu tư phát
triển, đảm bảo tính bền vững.
1.2. Định giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường
1.2.1. Sự cần thiết phải định giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường khi mà tất cả các loại
hàng hóa đều được đem lên cân, đong, đo đếm và được định giá thông qua cung
cầu trên thị trường thì hàng hóa chất lượng môi trường cũng ngày càng khẳng
định vai trò cuả nó trong hệ thống nền kinh tế. Và việc định giá nó là cần thiết
bởi các lý do sau:
Chất lượng môi trường trước hết nó là một loại hàng hóa bởi nó có hai
thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Như chúng ta đã biết các nhu cầu thiết yếu
để duy trì sự sống của con người đó là: ăn, mặc, ở. Hàng hóa chất lượng môi
trường thỏa mãn không chỉ những nhu cầu thiết yếu đó mà còn thỏa mãn vô số
những nhu cầu khác của con người thông qua việc cung cấp không gian sống,
12
các điều kiện sống, cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho các
hoạt động sản xuất và sinh hoạt (giá trị)…Đồng thời việc phục hồi chất lượng
môi trường là do lao động sản xuất của con người (hao phí lao động xã hội)- giá
trị sử dụng. Như vậy cần định giá hàng hóa chất lượng môi trường để tránh gây
ra thất bại trên thị trường.
Trong quá khứ người ta thường chưa chú trọng đến nguồn tài nguyên thiên
nhiên vì người ta cho rằng tài nguyên thiên nhiên là thứ “thiên nhiên ban tặng”
nên trong quá trình khai thác và sử dụng người ta không tính toán lượng sử dụng
và cũng không quan tâm đến thiệt hại trong quá trình khai thác gây ra như việc
cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm hay lượng thải phát sinh sau đó. Việc định giá
môi trường là một cách nhắc nhở con người quan tâm và bảo vệ môi trường.
Đồng thời qua định giá cũng đo được tốc độ sử dụng hết nguồn tài nguyên và dự
báo cho con người mức độ khan hiếm nguồn tài nguyên càng gia tăng trong
tương lai.
Khi đánh giá được chất lượng môi trường cũng như những thiệt hại của
xuất
Phương pháp chi phí cơ hội
Phương pháp đánh giá có sử
dụng hàm cầu
Phương pháp chi phí du lịch
(TCM)
Phương pháp định giá ngẫu
nhiên (CVM)
14
Được hiểu là phương pháp dựa trên cơ sở của những điểm du lịch có sức
hấp dẫn đối với du khách, thường là những điểm có chất lượng môi trường tốt.
Và để đánh giá chất lượng môi trường đó người ta dựa vào chi phí du lịch để
đánh giá. Chính vì vậy về nguyên tắc đối với phương pháp này thì nhu cầu về
giải trí bằng nhu cầu về chất lượng môi trường tại khu vực cần đánh giá. Đây là
phương pháp đánh giá gián tiếp. Trong đó đặc biệt chú ý đến nguyên tắc của
phương pháp:
Là phương pháp phổ biến nhất trên thế giới trong lượng giá giá trị cảnh
quan.
Được xây dựng trên giả định chi phí mà người tiêu dùng phải bỏ ra để
được tiêu dùng một loại hàng hóa được xem là sự thay thế cho giá trị của hàng
hóa đó.
Chi phí bỏ ra bao gồm: chi phí đi lại, chi phí thời gian, chi phí cơ hội,…
1.2.2.2. Các cách tiếp cận
ITCM (Phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân): Cách tiếp cận này xác
định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch hàng năm của một cá nhân
với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra
V
i
= f (TC
lần đến địa điểm du lịch của một cá nhân hàng năm để ước lượng ra hàm cầu”.
Vì vậy, cách tiếp cân ITCM sẽ gặp phải khó khăn khi sự dao động là quá nhỏ
hoặc khi các cá nhân không đi đến địa điểm du lịch một vài lần trong năm. Do
đó nếu mọi du khách đến địa điểm du lịch chỉ một lần trong năm thì khó có thể
chạy hàm hồi quy.
Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân chỉ phù hợp cho
các khu du lịch mà du khách đến nhiều lần trong năm như công viên hay vườn
Bách Thảo…
ZTCM (Phương pháp chi phí du lịch theo vùng): Cách tiếp cận này xác
định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát tới vị trí nghiên
cứu với tổng chi phí du lịch của vùng xuất phát
V
i
= V(TC
i
, POP
i,
S
i
)
Trong đó:
- V
i
là số lần viếng thăm từ vùng i tới điểm du lịch
- POP
i
là dân số vùng i
- S
i
là các biến kinh tế - xã hội, ví dụ: thu nhập trung bình của mỗi vùng
- Hàng năm khách du lịch thường lui tới vị trí đánh giá bao nhiêu lần.
Phiếu điều tra cần các thông tin sau:
18
Họ từ đâu tới (thành phố nào, nước nào).
Số khách trên một phương tiện chuyên chở tới (ô tô, máy bay, xe máy).
Thời gian đi đến và ở tại địa điểm.
Tần suất du lịch, thời gian của chuyến đi.
Thu nhập của khách.
Chi phí du lịch trực tiếp (ăn, ở, đi lại).
Mục đích đi du lịch và sở thích du lịch của khách.
Bước 3: Phân loại những người thường đi tới vị trí đánh gía. Việc phân
loại này về cơ bản chúng ta căn cứ vào yếu tố khoảng cách, và đương
nhiên phải chia theo vùng và những người cùng khoảng cách thì ta ghép
vào một nhóm.
Bước 4: Việc ước tính chi phí đi lại và số lần đi tới khu vực nghiên cứu
của từng nhóm trên cơ sở đã phân nhóm ở bước 3.
Chi phí của mỗi chuyến đi
P = e + f + ac + OC + ct
e (entrance fee): phí vào cổng
f (food and drink): chi phí ăn uống
ac (accommodation): chi phí nghỉ ngơi
OC (opportunity cost): chi phí cơ hội hay chi phí thời gian
ct (cost of transport): chi phí phương tiện giao thông
19
Trong đó việc xác định chi phí cơ hội hay chi phí phương tiện giao thông là khó
khăn hơn so với các loại chi phi khác.
Tính tỷ lệ tham quan trên 1000 dân ở mỗi vùng, là tổng lượt tham
quan mỗi năm từ mỗi vùng chia cho dân số của vùng với đơn vị nghìn.
Bước 5: Xác định mối quan hệ giữa các chi phí đi lại và số lần lui tới vị
trí đánh giá, đây là cơ sở để chúng ta xây dựng hàm cầu.
vấn đề mà người làm đánh giá phải có cách xử lý phù hợp nếu không thì kết quả
trong phần chi phí sẽ phản ánh sai hoặc không chính xác, dẫn đến việc đánh giá
chất lượng môi trường sẽ không đúng.
- Các cảnh quan thay thế: Trong nhiều trường hợp việc ta xác định điểm
đánh giá mà chất lượng môi trường có thể thay thế bằng các cảnh quan khác thay
vì cảnh quan mà chúng ta cần đánh gía đối với lựa chọn của khách. Trong trường
hợp đó cách xử lý của các nhà đánh giá như thế nào để đảm bảo nguyên giá trị:
- Quyết định mua nhà: trong thực tế có nhiều trường hợp thay vì phải
thường xuyên đi lại đến thưởng ngoạn về chất lượng môi trường, người ta quyết
21
định phương án: không đi thường xuyên mà mua nhà hẳn ở đó, trong trường hợp
này thì sử dụng phương pháp TCM là không phù hợp.
- Trường hợp không chi phí: Có nghĩa người khách du lịch đến vị trí đánh
giá không mất tổn phí, ví dụ như những người ở gần trong trường hợp này
phương pháp TCM cũng không phù hợp mặc dù vẫn phỏng vấn khách du lịch.
Tiểu kết
Đo lường giá trị cảnh quan môi trường là công việc khó khăn. Cái mà
người ta muốn đo lường là sự thay đổi chất lượng môi trường tại một địa điểm.
Phương pháp chi phí du lịch hạn chế trong việc phân tích chi phí lợi ích. Tuy
nhiên nó lại rất hữu dụng trong việc tính giá trị kinh tế của một khu rừng, vườn
quốc gia hay hệ sinh thái.
Tiếp theo tôi xin đề cập đến những thông tin liên quan đến VQG Cát Bà.
Là địa điểm tôi chọn để nghiên cứu trong đề tài này.
22
CHƯƠNG II. GIỚI THIỆU VỀ VQG CÁT BÀ – HẢI PHÒNG
2.1. Đặc điểm tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý VQG Cát Bà
23
Nguồn: Trang web http:// www.otofun.com
trăm người).
2.1.2. Địa chất, địa hình
Hình 2.2: Bản đồ du lịch VQG Cát Bà
25