nghiên cứu các nguyên lý của hệ sinh thái áp dụng cho quản lý vườn quốc gia cát bà, hải phòng - Pdf 24



s ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

NGHIÊN CỨU CÁC NGUYÊN LÝ CỦA HỆ SINH THÁI
ÁP DỤNG CHO QUẢN LÝ VƢỜN QUỐC GIA CÁT BÀ, HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội - 2013



NGHIÊN CỨU CÁC NGUYÊN LÝ CỦA HỆ SINH THÁI
ÁP DỤNG CHO QUẢN LÝ VƢỜN QUỐC GIA CÁT BÀ, HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ĐỨC MINH

Lê Đức Minh Hà Nội - 2013
LỜI CẢM ƠN
Qua bài luận văn này, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy, cô giáo
trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy
cô và cán bộ viên chức khoa Môi trường đã giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt hai
năm học tập tại trường.
Em xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Lê Đức Minh- Khoa Môi trường, Đại
học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội người đã tận tình hướng dẫn và đóng góp
những ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
của mình.
Để hoàn thành bài khoá luận này em đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình từ phía
ban quản lý và cán bộ công nhân viên tại VQG Cát Bà, Hải Phòng, chính quyền địa
phương và người dân sinh sống tại khu vực nghiên cứu, em xin chân thành cảm ơn.

1.2.2 Các nguyên lý của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái . 12
1.2.3 Các bước thực hiện khi áp dụng các nguyên lý của phương pháp
tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý hệ sinh thái. 17
1.3 Tổng quan các bài học kinh nghiệm áp dụng nguyên lý hệ sinh thái trong
quản lý vƣờn quốc gia và khu bảo tồn trên thế giới và Việt Nam. 20
1.3.1 Các bài học kinh nghiệm trên thế giới về việc áp dụng các nguyên
lý hệ sinh thái trong việc quản lý các hệ sinh thái. 20
1.3.2 Những nghiên cứu về áp dụng các nguyên lý của phương pháp
tiếp cận hệ sinh thái trong việc quản lý hệ sinh thái ở Việt Nam 26
1.4 Tổng quan về vƣờn quốc gia Cát Bà và khu vực vùng đệm 29
1.4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại VQG Cát Bà. 29
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu. 37
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 37
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu. 37
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu. 37
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. 39
3.1 Xem xét các bƣớc áp dụng các nguyên lý tiếp cận hệ sinh thái trong quản
lý VQG Cát Bà và khu vực vùng đệm. 39
3.1.1 Bước A: Xác định các bên liên quan và mối quan tâm, trách
nhiệm, quyền lợi của các bên liên quan. 39
3.1.2 Bước B: Xác định cấu trúc, chức năng, dịch vụ, sản phẩm của
các khu vực trong hệ sinh thái. Thiết lập cơ chế quản lý, giám sát. 43
3.1.3 Bước C: Phân tích các vấn đề kinh tế liên quan đến bảo tồn đa
dạng sinh học và sinh kế của người dân. 46
3.1.4 Bước D: Quản lý thích ứng về không gian 55
3.1.5 Bước E: Quản lý thích ứng về thời gian (xem xét những tác động

MỤC LỤC BẢNG
Bảng 3.1: Trách nhiệm quyền lợi của các bên liên quan trong quản VQG
Cát Bà và khu vực vùng đệm 39
Bảng 3.2: Nguồn thu từ hoạt động du lịch sinh thái của VQG Cát Bà 47
Bảng 3.3: Diễn biến nuôi cá lồng bè tại Cát Bà 49
Bảng 3.4: Ƣớc tính thiệt hại về nuôi trồng thủy sản do thủy triều đỏ 50
Bảng 3.5: Số liệu về diện tích rừng ngập giao khoán cho ngƣời dân 54
Bảng 3.6: Kịch bản biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng tại Hải Phòng 60
Bảng 3.7: Thống kê lƣợng khách du lịch đến Cát Bà 63

MỤC LỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức VQG Cát Bà 31
Hình 1.2: Bản đồ thảm thực vật và hiện trạng sử dụng đất VQG Cát Bà 32
Hình 1.3: Cơ cấu lao động trong các nghành của các xã vùng đệm 34
Hình 1.4: Cơ cấu lao động trong các ngành nông nghiệp, phi nông nghiệp
34
Hình 3.1: Bản đồ quy hoạch VQG Cát Bà,giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn
2020 45

UBND
Ủy ban nhân dân
VH TT&DL
Văn hóa Thể thao và Du lịch
VQG
Vườn quốc gia
1

MỞ ĐẦU

Trong những thập kỷ qua, cùng với phát triển kinh tế xã hội, loài người đã có
những tác động rất lớn đến thiên nhiên và chúng ta đang chịu những phản hồi từ tự
nhiên do chính những hoạt động của chúng ta tạo ra. Điều này thể hiện qua việc
hiện nay con người đã và đang phải đối mặt với những thách thức về sự suy giảm
chất lượng môi trường, suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh
học. Nhận thức được điều này rất nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang quan tâm
nhiều hơn đến việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học
nhằm tiến tới sự phát triển bền vững trong tương lai.

vực vùng đệm.
- Đề xuất các bước áp dụng và xem xét các vấn đề liên quan đến các nguyên lý
tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý VQG Cát Bà và khu vực vùng đệm.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn và khả năng thực thi khi áp dụng các
nguyên lý của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái cho công tác quản lý VQG
Cát Bà và khu vực vùng đệm.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi khi áp dụng các
nguyên lý của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái cho công tác quản lý VQG
Cát Bà và khu vực vùng đệm.

3

Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số phƣơng pháp quản lý đƣợc áp dụng trong quản lý VQG trên
thế giới và Việt Nam
1.1.1. Phương pháp quản lý dựa trên các chức năng và nhiệm vụ của VQG
Hiện nay nước ta có 30 vườn quốc gia, trong số 164 khu bảo tồn trên toàn
quốc, với tổng diện tích tự nhiên là 1.077.236,13 ha. VQG ngoài chức năng chính là
bảo tồn, duy trì tình trạng tự nhiên của các hệ sinh thái khỏi những tác động tiêu
cực, nó còn đảm nhiệm các chức năng khác như là chức năng bảo vệ môi trường,

quản lý dựa trên chức năng phòng hộ của VQG.
Cơ quan chủ quản có trách nhiệm chính là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn (NN&PT NT), mà trực tiếp là Tổng cục Lâm nghiệp. Các hoạt động điều tra,
khảo sát hay quản lý, bảo vệ đều do cán bộ của ngành lâm nghiệp thực hiện. Đồng
thời Bộ có trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng, chỉ đạo thực hiện các chính sách, thể
lệ và các biện pháp bảo vệ VQG. Ngoài ra có các cơ quan và tổ chức có liên quan
như Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), trong đó có Cục Bảo tồn Đa dạng
sinh học có trách nhiệm trong việc nghiên cứu, đưa ra các biện pháp bảo tồn về đa
dạng sinh học. Ngoài ra còn có các cơ quan trực thuộc khu vực, tỉnh, huyện, xã,
cộng đồng và các tổ chức quốc tế tham gia vào công tác bảo tồn [1].
Tiếp cận theo chức năng duy trì những giá trị về cảnh quan, văn hóa lịch sử,
nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo
Việc lập các kế hoạch quản lý VQG dựa trên chức năng này cần quan tâm đến
các vấn đề sau:
Thứ nhất là tìm hiểu các giá trị về cảnh quan, văn hóa lịch sử cũng như giá trị
về mặt nghiên cứu khoa học, giáo dục của mỗi VQG.
Thứ hai là xác định tầm quan trọng của những giá trị này đối với VQG và đối
với cộng đồng địa phương cũng như đối với toàn xã hội, và tìm hiểu những thách
thức trong việc bảo tồn, và duy trì và phát triển những giá trị đó cũng như xác định

5

các bên liên quan chính tới vấn đề này. Từ hai vấn đề trên, xây dựng những kế
hoạch, biện pháp quản lý cụ thể và có hiệu quả.
Các VQG thường mang một giá trị văn hóa lịch sử quan trọng đối với xã hội.
Trong đó chứa đựng các dấu ấn lịch sử, các di tích, gắn liền với quá trình tồn tại và
phát triển của xã hội. Vì vậy, quản lý cần đảm bảo duy trì các giá trị này thông qua
việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, không làm chúng bị mai một theo
thời gian.
Ngoài ra, các VQG là một địa bàn nghiên cứu khoa học rất tốt cho các lĩnh

rừng ở các khu di tích lịch sử. Vì vậy việc thành lập các kế hoạch quản lý cần phải
đạt được sự thống nhất giữa các bộ ngành và cơ quan có liên quan, tránh sự chồng
chéo, bỏ sót trách nhiệm. Ngoài ra, ban quản lý VQG cũng cần huy động sự trợ giúp
về tài chính, kiến thức, kinh nghiệm của các tổ chức, cá nhân khác [1].
Tiếp cận theo chức năng cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái như các giá trị về
kinh tế, du lịch
Các hoạt động liên quan đến khía cạnh này bao gồm việc xác định các dịch vụ
hệ sinh thái mà VQG có thể cung cấp, xây dựng các mô hình để phát triển có hiệu
quả các dịch vụ này mà không làm ảnh hưởng đến các chức năng bảo tồn cơ bản
của mỗi VQG. Trước đây có rất nhiều ý kiến chưa hoàn toàn ủng hộ việc hỗ trợ
phát triển VQG trong việc khai thác các dịch vụ môi trường như du lịch, giải trí, hay
các dịch vụ kinh tế khác. Tuy nhiên, hiện nay nhận thức về vấn đề này đã thay đổi.
Đa số đã cho rằng khu bảo tồn nói chung hay VQG nói riêng cũng có thể là một
hình thức dịch vụ xã hội, cũng như các dịch vụ y tế, giáo dục, quốc phòng.
Tại Hội nghị thượng đỉnh năm 1992, chính phủ các nước đã đồng ý cần có một
diễn đàn mới về phát triển bền vững. Diễn đàn mới này bao gồm cả Công ước quốc
tế về đa dạng sinh học (CBD). Từ đó các chính phủ đã công nhận các VQG là các
đơn vị kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, duy trì hệ sinh
thái và hỗ trợ môi trường sống của các cộng đồng trên thế giới. Quan điểm này đòi
hỏi phải có nhận thức đúng và hiểu rõ giá trị kinh tế của VQG. Và điều này có

7

nghĩa là VQG cũng có thể đem lại lợi nhuận và lợi ích kinh tế nhiều mặt chứ không
chỉ đơn thuần là nơi tiêu thụ ngân sách.
Các hàng hóa, dịch vụ và sản phẩm mà các VQG tạo ra có khả năng tái tạo
cao, chúng không bị mất đi mà ngược lại càng có giá trị cao hơn nếu biết khai thác
đúng. Do vậy các nhà quản lý VQG cần chuẩn bị tốt về kế hoạch kinh doanh vừa
đóng góp phát triển về kinh tế, vừa đem lại nguồn thu cho công tác bảo tồn của
vườn. Các hoạt động liên quan đến các dịch vụ này chủ yếu diễn ra ở vùng đệm, vì

hoặc UBND tỉnh không thành lập ban quản lý khu rừng, có trách nhiệm tổ
chức việc quản lý khu rừng được giao.
- Bộ NN&PT NT, UBND tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho
ban quản lý khu rừng theo quyền hạn của mình và theo quy định của pháp
luật.
Việc quy định trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan có liên quan trong
việc quản lý VQG là một quy trình cụ thể trong công tác quản lý để các bộ ngành
cũng như các cấp có thể phối hợp dễ dàng hơn với Bộ NN & PT NT trong việc quản
lý rừng đặc dụng nói chung và VQG nói riêng. Tuy nhiên còn tồn tại rất nhiều bất
cập đó là khó khăn trong việc xác định rõ ràng trách nhiệm, và quyền hạn của các
cơ quan trong việc quản lý, dẫn đến tình trạng chồng chéo hay bỏ sót trách nhiệm và
quyền hạn của các cơ quan, đặc biệt là các cơ quan tham mưu trong việc quản lý các
VQG.
1.2 Cơ sở khoa học của áp dụng các nguyên lý hệ sinh thái trong công tác
quản lý VQG và khu bảo tồn
1.2.1 Giới thiệu phương pháp tiếp cận hệ sinh thái áp dụng trong quản lý
VQG
Tại cuộc họp lần thứ hai, tổ chức tại Jakarta, tháng 11 năm 1995. Hội nghị các
bên COP (Conference of the Parties) của Công ước về Đa dạng sinh học CBD
(Convention on Biological Diversity) đã thông qua phương pháp tiếp cận hệ sinh
thái là khung cơ bản cho hành động của công ước Đa dạng sinh học. Tiếp đó tại

9

cuộc họp lần thứ tư tại Bratislava tháng 5 năm 1998, Hội nghị các bên thừa nhận sự
cần thiết của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, và yêu cầu Hội đồng hỗ trợ về tư
vấn khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Subsidary Body on Scientific, Technical and
Technological Advice SBSTTA) để phát triển các nguyên tắc và hướng dẫn khác về
phương pháp tiếp cận hệ sinh thái. Ngoài ra, phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đã
được công nhận bởi Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững, là một

nghiệp, ngư nghiệp được lợi từ việc triển khai các dự án và đào tạo về cách
thức quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên bền vững [26].
- Các nhà khoa học được hưởng lợi qua các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu
và liên ngành về các quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và truyền thống
văn hóa, từ đó xây dựng các giả thuyết mới cũng như xác định xu hướng
biến đổi khí hậu và môi trường [26].
- Các cán bộ lãnh đạo và cơ quan nhà nước được hưởng lợi từ các kết quả
nghiên cứu khoa học, trao đổi thông tin, nâng cao năng lực, được sự ủng hộ
của nhân dân trong quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên. Đây cũng là
điều mỗi quốc gia thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện các
công ước quốc tế [26].
- Cộng đồng thế giới có được thành quả về bảo tồn đa dạng sinh học, tạo điều
kiện phát triển giáo dục, văn hóa, giải trí và du lịch, tinh thần đoàn kết giữa
các dân tộc trên thế giới trong quản lí bền vững sinh quyển [26].
Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái cung cấp một khung tích hợp để thực hiện
các mục tiêu của Công ước về Đa dạng sinh học. Cách tiếp cận này kết hợp cân
nhắc ba vấn đề quan trọng:
- Quản lý các thành phần sống được thực hiện cùng với vấn đề kinh tế và xã
hội ở cấp độ hệ sinh thái, nó không chỉ đơn giản là tập trung vào việc quản
lý các loài và môi trường sống.
- Nếu muốn quản lý đất đai, nước và sinh vật sinh sống một cách bền vững,
những hợp phần này cần phải được tích hợp, thực hiện trong giới hạn tự
nhiên và sử dụng các chức năng tự nhiên của hệ sinh thái.

11

- Quản lý hệ sinh thái là một quá trình xã hội, có nhiều cộng đồng quan tâm.
Quy trình quản lý phải thông qua những mô hình và những quy trình có
hiệu quả cho việc ra quyết định và quản lý.
Cách tiếp cận này là một phương pháp tổng thể để hỗ trợ quyết định trong

nguyên thiên nhiên [12,17].
1.2.2 Các nguyên lý của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Nguyên lý1: Các mục tiêu quản lý tài nguyên đất, nước và đời sống là một vấn
đề của sự lựa chọn của xã hội.
Các lĩnh vực khác nhau của xã hội nhìn nhận hệ sinh thái theo điều kiện của
họ như kinh tế, văn hóa và xã hội. Người dân bản địa và cộng đồng địa phương
khác đang sinh sống trên đó là các bên liên quan quan trọng, và các quyền và lợi ích
của họ phải được công nhận. Đa dạng văn hóa và đa dạng sinh học đều là thành
phần trung tâm của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái. Lựa chọn xã hội cần được
thể hiện một cách rõ ràng nhất có thể. Các hệ sinh thái nên được quản lý vì các giá
trị nội tại của chúng và vì lợi ích hữu hình hoặc vô hình đối với con người, một cách
công bằng và hợp lý.
Để đạt được các mục tiêu trên, phương pháp tiếp cận hệ sinh thái cần phải
thông qua sự thương lượng, và đạt được sự cân bằng giữa các bên liên quan, những
người có nhận thức và mục đích sử dụng tài nguyên khác nhau. Phương pháp tiếp
cận hệ sinh thái cho phép cộng đồng đóng góp vào việc ra quyết định về việc quản
lý và sử dụng tài nguyên. Đây là hợp phần đóng vai trò rất quan trọng cho sự sống
còn của họ. Nó thúc đẩy sự đồng thuận, và giảm thiểu xung đột trong quy hoạch,
xây dựng và quản lý các khu bảo tồn nói chung và VQG nói riêng [11].
Nguyên lý 2: Phân cấp quản lý đến mức độ thích hợp thấp nhất.
Hệ thống phân cấp có thể dẫn đến hiệu quả và sự công bằng hơn. Quản lý phải
quan tâm đến lợi ích tất cả các bên liên quan và cân bằng lợi ích địa phương với lợi
ích chung của các cộng đồng lớn hơn. Quản lý các hệ sinh thái sẽ chặt chẽ hơn khi
có sự tham gia, sự chịu trách nhiệm và sử dụng các kiến thức địa phương.

13

Có rất nhiều bên quan tâm đến việc quản lý hệ sinh thái. Điều này có thể có lợi
nhưng cũng có rất nhiều mâu thuẫn xảy ra. Vì vậy việc phân chia cụ thể trách
nhiệm, chức năng quản lý và việc ra quyết định cho cơ quan thích hợp là rất cần

đánh giá thấp trong hệ thống kinh tế, ngay cả khi được định giá thì hầu hết nó chỉ
đuợc xem như “hàng hóa công” ít có giá trị kinh tế và rất khó kết hợp với thị
trường. Cũng như vậy rất khó để thay đổi hình thức sử dụng hệ sinh thái, ngay cả
khi sự thay đổi này đem lại lợi ích lớn hơn cho xã hội bởi vì hệ thống kinh tế và
những lợi ích mà nó mang lại có sức ảnh hưởng to lớn và nó chống lại sự thay đổi.
Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái cho phép tích hợp các vấn đề kinh tế vào
quản lý. Nó tạo ra sự tín nhiệm, xây dựng lòng tin, và tăng cường sự tuân thủ của
người sử dụng tài nguyên, thúc đẩy sự kiểm soát các nguồn tài nguyên và đảm bảo
rằng những người sử dụng hoặc tạo ra chị phí môi truờng phải trả tiền, do đó nâng
cao mức độ thành công trong lập kế hoạch và thiết lập các khu bảo tồn [11].
Nguyên lý 5: Bảo tồn cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, để duy trì các dịch vụ
hệ sinh thái, phải là một mục tiêu ưu tiên.
Hoạt động và khả năng phục hồi của hệ sinh thái phụ thuộc vào một mối quan
hệ linh hoạt giữa các cá thể trong một loài, giữa các loài với nhau, giữa các loài với
môi trường vô sinh của hệ sinh thái, cũng như sự tương tác vật lý và hóa học trong
môi trường đó. Phương pháp bảo tồn thích hợp là phục hồi những tương tác và các
quá trình trong hệ sinh thái, nó có ý nghĩa lớn trong việc duy trì sự lâu dài của đa
dạng sinh học [11].
Nguyên lý 6: Quản lý trong phạm vi chức năng của hệ sinh thái.
Trong việc xem xét khả năng để có thể dễ dàng đạt được các mục tiêu quản lý,
cần chú trọng đến điều kiện môi trường làm hạn chế năng suất tự nhiên, cấu trúc,
chức năng và sự đa dạng của hệ sinh thái.
Đặt giới hạn nhất định của một hệ sinh thái để duy trì tính toàn vẹn và khả
năng tiếp tục cung cấp hàng hóa dịch vụ cho con người một cách bền vững. Chẳng

15

hạn như giới hạn về khả năng đồng hóa, khả năng thích nghi đáp ứng lại những xáo
trộn từ các hoạt động quản lý gây ra. Tuy nhiên để có thể xác định một cách chính
xác giới hạn về khả năng phục hồi của một hệ sinh thái là điều không dễ dàng [11].

nên duy trì các quá trình tự nhiên. Cũng thừa nhận rằng sự thay đổi do những tác
động của con người là không thể tránh khỏi, quản lý thích ứng phải xem xét đến khả
năng đàn hồi của hệ sinh thái [11].
Nguyên lý 10: Tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và sự hòa nhập giữa việc bảo
tồn với sử dụng đa dạng sinh học.
Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm
và các dịch vụ hệ sinh thái khác mà con người chúng ta phải phụ thuộc vào nó.
Trước kia xu hướng để quản lý hệ sinh thái đó là bảo vệ nghiêm ngặt hoặc không
được sử dụng. Hiện nay xu hướng quản lý hệ sinh thái trở nên linh hoạt hơn, có sự
cân bằng giữa bảo tồn và sử dụng hệ sinh thái. Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
được thiết kế để hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các
thành phần của nó và chia sẻ lợi ích công bằng thu được từ sử dụng đa dạng sinh
học [11].
Nguyên lý 11: Xem xét tất cả các hình thức thông tin liên quan, bao gồm cả
kiến thức khoa học, kiến thức bản địa, và sự đổi mới trong thực tiễn.
Thông tin từ tất cả các nguồn là rất quan trọng để đi đến việc thiết lập các
chiến lược quản lý hệ sinh thái hiệu quả. Có một kiến thức đầy đủ về các chức năng
của hệ sinh thái và tác động đến hệ sinh thái là điều người sử dụng mong muốn. Vì
các hệ sinh thái được xem xét ở các phạm vi khác nhau và từ những quan điểm khác
nhau nên để quản lý tốt thì tất cả các thông tin từ bất kỳ lĩnh vực có liên quan nên
được chia sẻ với tất cả các bên liên quan và được xem xét trong việc ra các quyết
định [11].
Nguyên lý 12: Thu hút sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong xã hội
và khoa học chuyên ngành.

17

Hầu hết các vấn đề về quản lý đa dạng sinh học rất phức tạp, với nhiều sự
tương tác, và các tác động phụ, do đó sự tham gia của các nhà chuyên môn và các
bên liên quan là cần thiết ở các cấp địa phương, cấp quốc gia, khu vực và quốc tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status