nghiên cứu đề xuất giải pháp ứng phó với hạn hán xâm nhập mặn nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống tưới, áp dụng cho hệ thống tưới bắc thái bình - Pdf 22


LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các thông tin trích
dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 25 tháng 02 năm 2013
TÁC GIẢ

Đặng Thị Hà Giang
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay luận văn thạc sĩ kinh tế tài
nguyên thiên nhiên và môi trường về đề tài “ Nghiên cứu đề xuất giải pháp ứng phó
với hạn hán xâm nhập mặn nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống tưới, áp dụng cho
hệ thống tưới Bắc Thái Bình” tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo
động viên của các thầy cô giáo, gia đình và các đồng nghiệp.
Trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Vũ Thế Hải và thầy
Nguyễn Xuân Phú là người hướng dẫn giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại
học Thủy lợi và tập thể bạn bè học viên lớp cao học 19KT21 đã giúp đỡ, chia sẻ khó
khăn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa học.
Cảm ơn Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường – Viện Khoa học Thủy lợi Việt

ĐCN
Điểm công nghiệp
XNKTCTTL
Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi
PTNT
Phát triển nông thôn
HTX
Hợp tác xã
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Sơ đồ quá trình hạn 2
Hình 2.1. Vị trí địa lý hệ thống tưới Bắc Thái Bình 17
Hình 2.2. Bản đồ hiện trạng hệ thống tưới Bắc Thái Bình 41
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Bảng thống kê diện tích theo cao độ của hệ thống 16
Bảng 2.2. Thống kê diện tích và phân bố diện tích 27
Bảng 2.3. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 28
Bảng 2.4. Cơ cấu giống và thời vụ gieo cấy các loại cây trồng chính 28
Bảng 2.5. Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh đến năm 2010, 2020 33
Bảng 2.6. Kế hoạch sản xuất năm 2012 của các huyện trong hệ thống 34
Bảng 2.7. Trạm bơm điện 35
Bảng 2.8. Cống đập 36
Bảng2.9. Sông trục 36
Bảng 2.10. Thống kê các công trình khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
trên sông Luộc 37

Kết luận chương 1 15
Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN
CỨU 16
2.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 16
2.1.1. Vị trí địa lý 16
2.1.2. Đặc điểm địa hình địa mạo 18
2.1.3. Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 18
2.1.4. Đặc điểm khí hậu, thủy văn 20

2.1.5. Đặc điểm thủy văn dòng chảy ở ngoài các sông lớn 23
2.2. Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu 25
2.2.1. Dân sinh 25
2.2.2. Nông nghiệp 26
2.2.3. Hiện trạng sản xuất công nghiệp 29
2.2.4. Các ngành khác 31
2.3. Tình hình văn hóa – xã hội khu vực nghiên cứu 32
2.3.1. Thông tin liên lạc 32
2.3.2. Hệ thống Y tế 32
2.3.3. Về giáo dục 32
2.4. Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 32
2.4.1. Phương hướng phát triển nông nghiệp 32
2.4.2. Phương hướng phát triển ngành công nghiệp 34
2.5. Hiện trạng hệ thống tưới Bắc Thái Bình 35
2.5.1. Công trình khai thác 35
2.5.2. Hiện trạng tổ chức quản lý vận hành 42
Kết luận chương 2: 50
Chương 3: TÌNH HÌNH HẠN XÂM NHẬP MẶN, CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ

3
/s. Mạng lưới sông trục dẫn
nước tưới tiêu dày đặc với chiều dài trên 2820 km ; 1953 cống đập nội đồng và hệ
thống bờ vùng bờ thửa.
- Hệ thống Bắc Thái Bình nằm ở phía Bắc giới hạn bởi sông Hóa, sông Luộc,
sông Hồng, sông Trà lý và Biển. Gồm các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông
Hưng, Thái Thuỵ và phần phía Bắc của thành phố Thái Bình
.
- Hệ thống Nam Thái Bình nằm ở phía Nam giới hạn bởi sông Hồng, sông Trà
Lý và Biển, gồm các huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và phía Nam thành phố
Thái Bình.
Hai hệ thống có chung hình thức lấy nước tưới bằng các cống dưới đê trữ
vào sông trục nội đồng và các sông trục cấp I, II để tưới tự chảy một phần, còn chủ
yếu tưới tạo nguồn cho các trạm bơm tưới. Các khu thủy lợi nằm ở hạ du vùng ven
biển đồng bằng sông Hồng, vì vậy nguồn nước tưới phụ thuộc vào lưu lượng nước
thượng nguồn và còn chịu ảnh hưởng thủy triều và xâm nhập mặn, hàng năm hạn
hán thường xảy ra, những năm điển hình có tới 60% diện tích đất nông nghiệp bị
hạn, đã làm thiệt hại đến 30% giá trị sản xuất Nông – Lâm – Thủy sản do năng suất
giảm và chi phí điện năng và quản lý khai thác tăng lên gấp 2 lần.
Tuy nhiên do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và ứng dụng khoa học công
nghệ với nền nông nghiệp hiện đại làm cho nhu cầu dùng nước ngày càng gia tăng.
Sự suy giảm nguồn nước, vận hành không hợp lý của các hồ chứa thượng lưu và các
hệ thống tưới ở hạ lưu dẫn đến thiếu hụt nguồn nước cấp là nguyên nhân chính xảy
ra hạn hán, xâm nhập mặn diễn biến thường xuyên hàng năm và ngày càng
nghiêm trọng.
Để giải quyết một phần vấn đề trên tác giả luận văn chọn đề tài: “ Nghiên
cứu đề xuất giải pháp ứng phó với hạn hán xâm nhập mặn nhằm nâng cao hiệu

đánh giá kết quả nghiên cứu trên nhiều mặt khác nhau và mối liên hệ giữa chúng.
IV.1.2. Tiếp cận thực tiễn vùng nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu dựa trên những điều kiện cụ thể đặc trưng của vùng
như: Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế, từ đó đưa ra những kết quả nghiên cứu
chính xác và hợp nhất đối với vùng nghiên cứu.
IV.1.3. Tiếp cận kế thừa các kết quả nghiên cứu và tiếp thu khoa học công nghệ
Trong điều kiện trình độ khoa học và công nghệ quản lý trên lĩnh vực tài
nguyên nước cho các hệ thống thủy lợi ở nước ta còn khá thấp so với các nước tiên
tiến trên thế giới, do đó cần phải kế thừa tối đa các kết quả nghiên cứu có liên quan
ở trong và ngoài nước.
IV.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu đề tài này là:
IV.2.1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa, tổng hợp tài liệu
- Điều tra về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế, lấy ý kiến dân địa phương, ý
kiến của các cơ quan liên quan khi xây dựng phương án;
- Khảo sát, thu thập các số liệu về địa hình, thủy văn, dòng chảy. Tác động của
dòng chảy về mùa kiệt trong những năm gần đây đến tình hình hạn hán và xâm
nhập mặn tại hệ thống tưới Bắc Thái Bình.
IV.2.2. Phương pháp phân tích thống kê
Kế thừa các tài liệu thống kê diện tích bị hạn hán, tình hình hạn hán xâm
nhập mặn và các đánh giá thiệt hại của các ngành kinh tế trong khu vực nghiên cứu
của các cơ quan chuyên môn đã thực hiện trong những năm gần đây.
V. Bố cục của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về hạn hán, xâm nhập mặn và các tác động đối với sản xuất
và đời sống
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

xảy ra khi lượng nước sẵn có trong tự nhiên thấp dưới mức trung bình trong một
thời gian dài. Khác với các loại thiên tai khác điểm đặc trưng của hạn hán là thường
tích lũy một cách chậm chạp trong một khoảng thời gian dài và có thể kéo dài trong
nhiều năm khi đợt hạn kết thúc, bởi vậy việc xác định thời gian bắt đầu và kết thúc
đợt hạn rất khó khăn. Cũng do sự diễn biến tích lũy chậm, tác động của hạn hán
thường khó nhận biết hơn và khi nhận biết thì sự thiệt hại đã đáng kể. Hạn hán xảy
ra ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới có thể giống hoặc khác nhau. Tuy
nhiên sơ đồ phát sinh và diễn biến hạn hán có thể khái quát theo sơ đồ hình 1.1.
Theo đó hạn khí tượng xảy ra trước tiên do thiếu hụt lượng mưa hoặc mưa
không đáng kể trong thời gian dài, đồng thời những yếu tố khí tượng đi kèm cùng
với sự thiếu hụt mưa gây bốc thoát hơi nước gia tăng dẫn đến sự suy giảm/suy kiệt
độ ẩm – hạn đất và hạn nông nghiệp ở vùng không được tưới xảy ra. Sự suy giảm
đồng thời cả dòng mặt và dòng ngầm dẫn đến hạn thủy văn. Khi hạn khí tượng và
hạn thủy văn xảy ra, tùy theo khả năng điều tiết nhân tạo và yêu cầu dùng nước
trong lưu vực, hạn nông nghiệp ở cả những diện tích được tướ
i và hạn dân sinh kinh
tế (thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước cho các ngành sản xuất và dịch vụ dẫn đến
giảm thu nhập và phát sinh các vấn đề xã hội khác nhau) có thể xảy ra với mức độ
nặng nhẹ khác nhau.
2


Thiếu hụt
mưa
Bốc hơi và thoát hơi nước gia
tăng
Thiếu hụt độ
ẩm
Cây thiếu nước, bị giảm
sinh khối và sản lượng
Suy giảm bổ cập
nước ngầm
Thiếu hụt dòng
chảy
Hạ thấp mực nước và lượng
nước ngầm
Hạn khí
tượng
Hạn đất
(độ ẩm đất
suy giảm)
Hạn thủy
văn
3
Tác động của hạn hán tới tất cả các thành phần trong chu trình thủy văn, từ
hiện tượng làm giảm lượng mưa dẫn đến làm giảm độ ẩm trong đất, giảm lượng
nước bổ cập và trữ lượng nước của các tầng nước dưới đất, và cuối cùng làm giảm
lưu lượng hoặc làm khô cạn sông suối. Hậu quả hạn hán ảnh hưởng về các mặt kinh
tế- xã hội mà còn tác động rất lớn đến môi trường. Trong đó khi hạn hán xảy ra thì

vùng ven biển đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và sông Đồng Nai. Trong đó
ở Bắc Bộ những năm xảy ra hạn hán nặng vào vụ đông xuân là 1959, 1961, 1970,
1984, 1986, 1989, 1993, 1998, 2003, 2005, 2006, 2009. Các nguyên nhân, tác động
và hậu quả của những năm hạn hán điển hình xảy ra tại tại Việt Nam như sau:
- Thiên tai hạn hán do thiếu nước năm 1992-1993 là do lượng mưa vào cuối
năm 1992, trong đó ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thiếu hụt mưa so với trung bình
nhiều năm (TBNN) lên tới 30-70%, có nơi 100% từ tháng 8-11/1992 và tới 40-60%
trong những tháng đầu năm 1993 (7 tháng đầu năm 1993, mưa bằng 25-40%
TBNN), đã gây hạn hán ngay vụ mùa năm 1992. Đầu năm 1993, dự trữ nguồn nước
trong đất, sông suối và ở các hồ chứa rất ít. Hạn hán nghiêm trọng trong vụ đông
xuân 1992-1993, hè thu 1993, ở hầu hết các vùng. Tổng diện tích lúa đông xuân bị
hạn trên 176.000 ha (bị chết trên 22.000 ha). Mực nước trên các sông đều thấp hơn
TBNN từ 0,1-0,5m. Mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông từ 10-20km, có lúc tới
30km.
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay trên hệ thống sông Hồng – sông Thái
Bình, nguồn nước về mùa kiệt ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng. Mực nước trên
sông Hồng tại Hà Nội từ tháng 12 đến tháng 5 thấp hơn trung bình nhiều năm từ 0,5
đến 1,1 (m). Chưa có số liệu đầy đủ để đánh giá tác động và thiệt hại của các đợt
hán hán xảy ra ở khu vực Bắc Bộ.
Những tác động hạn hán làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới 4 tỉnh ven biển
Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, và Ninh Bình có diện tích mặt nước và diện tích
lúa cả năm chiếm tới 42% tổng diện tích diện tích mặt nước và diện tích lúa cả năm
của cả vùng đồng bằng Bắc bộ. T
ừ năm 1998 trở lại đây đã có tới 9 năm xảy hạn
hán với quy mô và cường độ ngày càng gia tăng . Sự suy gi ảm nguồn nước và xây
dựng, vận hành không hợp lý của các hồ chứa thư ợng nguồn, sự tăng lên của nhu
cầu nước dẫn đến vùng h ạ du luôn trong tình trạng thiếu nước . Trong khi đó nhu
cầu sử dụng nước cho sinh hoạt , công nghiệp, tưới tiêu của khu vực ĐBSH vẫn
nước trong lưu vực, công tác quản lý vận hành và đặc biệt là sự phối hợp giữa các
ngành sử dụng nước phục vụ đa mục tiêu chưa chặt chẽ dẫn đến tranh chấp nguồn
6
nước trên hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình. Đặc biệt là nhu cầu nước cho phát
điện với sản xuất nông nghiệp, giao thông thủy và môi trường trong lưu vực.
1.2. Tác động của hạn hán và xâm nhập mặn đối với sản xuất và đời sống
1.2.1. Trên thế giới [1]
Hạn hán có tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sức
khe con người. Nó là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật và tình trạng lạc
hậu, chậm phát triển ở nhiều nơi trên thế giới. Hạn hán tác động đến môi trường
như hủy hoại các loài thực vật, các loài động vật, quần cư hoang dã, làm giảm chất
lượng không khí, nước, làm cháy rừng, xói lở đất. Các tác động này có thể kéo dài
và không khôi phục được. Như vậy, những ảnh hưởng của hạn hán có thể xếp vào
ba nhóm (i) kinh tế, (ii) môi trường và (iii) xã hội.
(i) Hạn hán tác động xấu đến kinh tế thông qua nhiều lĩnh vực khác nhau,
trong đó rõ nét nhất là lĩnh vực nông nghiệp, đối tượng dùng nước nhiều trong số
các ngành sản xuất, như giảm năng suất cây trồng, giảm diện tích gieo trồng, giảm
sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực. Làm tăng chi phí sản
xuất và làm giảm thu nhập của lao động nông nghiệp từ đó làm tăng giá thành sản
xuất vì thế cũng làm tăng giá cả lương thực trên thị trường. Bên cạnh đó, tổng giá trị
sản phẩm chăn nuôi sẽ bị suy giảm và các lĩnh vực khác cũng gặp khó khăn do
những ảnh hưởng dây chuyền, ví dụ các nhà máy thủy điện sẽ thiếu nước để chạy
hết công suất thiết kế khiến nguồn thu ngân sách của nhà nước giảm.
(ii) Những thiệt hại về môi trường là kết quả của sự tàn phá đối với các loài
động vật, thực vật cũng như chất lượng nước và không khí; nạn cháy rừng và đồng
c chăn nuôi; suy giảm cảnh quan thiên nhiên, tổn hại tính đa dạng sinh học và làm
xói mòn đất. Có một số ảnh hưởng mang tính chất nhất thời và điều kiện tự nhiên

hóa. Theo tính toán của Liên hợp quốc, đến năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích đất canh
tác ở châu Phi, 1/3 diện tích đất canh tác ở châu Á và 1/5 diện tích đất canh tác ở
Nam Mỹ không còn sử dụng được do sa mạc hóa. Hàng chục triệu người ở Châu
Phi, đặc biệt là các nước Kenya, Tanzania, Angola đang bị ảnh hưởng trực tiếp bởi
hạn hán. Ở Tây Ban Nha, 31% diện tích có nguy cơ biến thành sa mạc, trong khi ở
Trung Quốc có khoảng 27% diện tích đất đã bị sa mạc hóa. Theo Tổ chức Nông
nghiệp và Lương thực của Liên hiệp quốc (FAO), tháng 1/2011 giá lương thực trên
thế giới đã lên đến đỉnh điểm trong lịch sử, hạn hán là một trong những nguyên
8
nhân dẫn đến tình trạng tăng giá này.
1.2.2. Hạn hán đối với đời sống trong nước
Hạn hán gây ảnh hưởng tới diện tích cây trồng hàng năm ở nước ta vào
khoảng 300.000 ha – 500.000 ha, giảm từ 20 – 30% năng suất cây trồng, giảm từ
1,5 – 2% sản lượng lương thực. Chi phí chống hạn thường rất tốn kém do phải đầu
tư xây dựng hồ chứa, trạm bơm với mức trung bình từ 40-50 triệu đồng/ha đất canh
tác. Không những thế, hạn hán còn làm nảy sinh tình trạng sa mạc hóa, mà điển
hình là ở các tỉnh ven biển miền Trung, vùng cực Nam Trung Bộ, vùng đất dốc khô
hạn triền miên thuộc Trung Du và miền núi phía Bắc [1].
Đợt hạn từ cuối năm 1998 đến tháng 4 năm 1999 xảy ra vào vụ đông xuân ở
Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại đáng kể về nông nghiệp trong cả
nước. Tại khu vực Bắc Bộ diện tích bị hạn là 86.140 ha, trong đó diện tích bị chết
17.077 ha. Rau màu và các loại cây trồng khác là 10.930 ha [1]
Tại tỉnh Thái Bình hạn hán thường xảy ra vào vụ lúa xuân, thời vụ tập trung
gieo cấy ngắn trong 2 tháng là thời kỳ mùa kiệt, nước mặn xâm nhập sâu vào sông.
Mực nước sông xuống thấp làm cho hệ thống cống lấy nước tưới không khai thác
được theo năng lực thiết kế. Các sông trục trong đồng chưa được nạo vét hoàn chỉnh
làm cho việc tích nước tưới vụ đông phục vụ sản xuất nông nghiệp không được chủ

3
nước cao ); hỗ trợ cộng đồng giảm thiểu thiệt hại do hạn hán.
Đối với hệ thống tưới đã có công trình thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, vấn đề
nâng cao hiệu quả quản lý vận hành hệ thống nhằm sử dụng tối ưu nguồn nước
trong điều kiện hạn hán là giải pháp hiệu quả nhất để giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán
gây ra. Viện Quản lý nước qu
ốc tế (IWMI) đưa ra một số nguyên tắc xây dựng
chiến lược đối phó với hạn hán cho các đơn vị phụ trách quản lý vận hành hệ thống
công trình thủy lợi như sau:
- Cần xây dựng một kế hoạch phân phối nước trong đó có những biện pháp
dự phòng để đối phó với các mức độ hạn hán khác nhau;
- Cần xây dựng phương án vận hành công trình trong điều kiện bình thường
và trong điều kiện hạn hán, các phương án này phải được phổ biến tới người sử
dụng nước;
- Liên tục cập nhật các số liệu mới nhất về khí tượng, nguồn nước cũng như
nhu cầu dùng nước;
10
- Cần có hệ thống cảnh báo sớm hạn hán để có kế hoạch và các biện pháp đối
phó kịp thời;
- Cần khuyến khích nông dân áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước như tưới
tiết kiệm nước, canh tác không làm đất nhằm sử dụng hiệu quả lượng nước tưới
trong điều kiện hạn hán. Tương tự, Ủy ban Môi trường bang Texas (2004) xuất bản
sổ tay hướng dẫn phương pháp lập kế hoạch đối phó với hạn hán cho các cơ quan
quản lý hệ thống tưới. Phương pháp này bao gồm 5 bước:
+ Huy động sự tham gia của người sử dụng nước trong quá trình lập kế
hoạch;
+ Đánh giá ảnh hưởng của hạn hán đến hoạt động của hệ thống và xây dựng

Sử dụng hiệu quả nước tưới đã trở thành một nhân tố quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp tại các vùng khô hạn và bán khô hạn, trong những năm gần đây,
các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu phát triển các chế độ tưới
mới như tưới hụt (Regulated Defecit Irrigation – RDI), tưới luân chuyển một phần
bộ rễ (Controlled Alternate Partial Root-zone Irrigation - CAPRI) nhằm làm tăng
hiệu quả sử dụng nước mặt ruộng cũng như hiệu quả sử dụng nước của cây trồng.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng để cây trồng thiếu nước trong giai đoạn quả đang
phát triển chậm và sau khi thu hoạch có thể khống chế sự phát triển của cành lá
trong khi vẫn duy trì năng suất và trong một số trường hợp còn làm tăng năng suất.
Các nước Mỹ, Ôxtralia, Trung Quốc và một số nước châu Âu là những nước đi đầu
trong việc nghiên cứu và ứng dụng chế độ tưới mới này. Kết quả nghiên cứu của
McCarthy (2000) trong việc áp dụng chế độ tưới hụt cho nho tại miền nam Ôxtralia
cho thấy có thể giảm một nửa lượng nước so với biện pháp tưới thông thường. C.
Kirda (2000) đã phân tích mối quan hệ giữa năng suất và chế độ tưới hụt của một số
loại cây trồng chính như bông, ngô, khoai tây, mía, đậu nành, lúa mì Năng suất
cây trồng dưới các mức độ tưới hụt khác nhau được đưa vào hàm năng suất của
Stewartetal. (1977). Kết quả cho thấy bông, ngô, lúa mì, củ cải đường, khoai tây rất
phù hợp với tưới hụt trong suốt giai đoạn sinh trưởng. Một số cây trồng khác như
đậu nành, lạc, mía thích hợp với tưới hụt trong mộ
t số thời đoạn sinh trưởng. Với
mức tưới hụt là 25%, hiệu quả sử dụng nước tăng lên 1,2 lần. Kang S. và Zhang J.
(2001) phát triển chế độ tưới mới với tên gọi “tưới luân chuyển một phần bộ rễ”
(CAPRI). Áp dụng chế độ tưới này cho cây ngô trong 4 năm (1997-2000) tại vùng
12
Tây Bắc Trung Quốc cho thấy lượng nước tưới giảm đi một nửa trong khi năng suất
ngô được duy trì.
Trong những năm qua, để đối phó với căng thẳng về nước, các kỹ thuật tưới

13
hạn hán tới việc áp dụng kỹ thuật tưới của nông dân. Kết quả cho thấy điều kiện hạn
hán làm gia tăng đáng kể số lượng trang trại sử dụng các kỹ thuật tưới tiết kiệm
nước thay cho tưới trọng lực.
Như vậy, để đối phó với hạn hán cần phải sử dụng tổng hợp nhiều giải pháp
– từ vĩ mô tới vi mô, từ kỹ thuật – công nghệ tới cơ chế chính sách, từ đầu tư tài
chính đến đào tạo và tăng cường năng lực cộng đồng. Mỗi giải pháp là một mắt xích
quan trọng góp phần làm giảm thiểu tác động và rủi ro do hạn hán gây ra.
1.3.2. Các giải pháp ứng phó với hạn hán xâm nhập mặn ở Việt Nam [1]
1.3.2.1. Áp dụng các giải pháp sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm
+ Phân phối nước trên hệ thống
Trên cở sở nhiệm vụ của hệ thống, các đơn vị khai thác công trình thủy lợi
phải xây dựng các quy trình vận hành hệ thống để đảm bảo phục vụ các yêu cầu
dùng nước trong hệ thống với thứ tự ưu tiên quy định.
Vào những năm hạn hán (công trình tưới có mức đảm bảo thiết kế 75%),
phải có sự thống nhất thời gian lấy nước, mực nước phải giữ ở các công trình điều
tiết, phương thức tưới luân phiên Với những vùng không đủ nước cho toàn vụ nên
chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ sử dụng nhiều nước sang sử dụng ít nước.
+ Quản lý nước trên mặt ruộng
Quản lý nước trên mặt ruộng là khâu rất quan trọng trong quản lý nước. Việc
đưa nước và giữ một lượng nước phù hợp với nhu cầu sinh trưởng theo từng giai
đoạn của mỗi cây trồng vừa đảm bảo cho năng suất cao lại tiết kiệm nước. Vì vậy,
phải tổ chức đào tạo, hướng dẫn công nghệ và kỹ thuật tưới cho bà con nông dân,
các tổ chức hợp tác dùng nước và kiên cố hóa kênh mương để hạn chế tối đa thất
thoát nước.
+ Bảo vệ nguồn nước
Việc bảo vệ, chống cạn kiệt nguồn nước đặc biệt quan trọng với các hệ thống
có công trình đầu mối là hồ chứa đập dâng. Bảo vệ các khu rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ, đảm bảo các công trình đầu mối an toàn làm việc đủ công suất thiết kế.


làm có kết quả tốt như Tuyên Quang, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An thực chất là
các địa phương tổ chức lại công tác thủy lợi cơ sở thay thế các tổ, đội thủy nông của
15
các hợp tác xã nông nghiệp trước đây. Một số nơi có điều kiện thuận lợi (Thanh
Hóa, Nghệ An) đã chuyển giao để nông dân tự quản cả công trình liên xã. Việc
chuyển giao cho nông dân quản lý các công trình thủy lợi vẫn còn đòi hi sự quan
tâm của nhà nước trong hoạch định các thể chế, sự giám sát giúp đỡ, đặc biệt là sự
hỗ trợ về tài chính trong những trường hợp cần thiết. Cùng với việc chuyển giao
nông dân tự quản lý phần thủy lợi cơ sở, nhà nước cần có những chính sách cụ thể
hơn để thu hút được những thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào công
tác thủy lợi.

Kết luận chương 1
Kết quả nghiên cứu, đánh giá tổng quan tình hình hạn hán, hạn hán còn gây
ra xâm nhập mặn ở các vùng cửa sông ven biển. Ảnh hưởng của hạn hán đến sản
xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn và môi trường trong và ngoài nước. Tác giả
đã phân tích các nguyên nhân gây ra hạn hán và những đặc điểm khác biệt của loại
thiên tai này.
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều phương pháp giải quyết
ứng phó với hạn hán khác nhau, đối với những bài toán hàm mục tiêu hay hàm ràng
buộc khác nhau, sử dụng các công cụ để quản lý hiệu quả nguồn nước và sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên này.
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay công tác điều tiết nước cho hồ chứa cũng như
hệ thống tưới đã có kế hoạch sử dụng nguồn nước kết hợp với kế hoạch phát triển
nông nghiệp, nhưng hiện chưa có đánh giá hiệu quả phòng tránh hạn tổng thể. Vì
vậy trong lưu vực, hay hệ thống đã xảy ra sự tranh chấp của các ngành dùng nước,
nhất là trong những năm có hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status