SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT 4 THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỚI TRONG KIỂM TRA,
ĐÁNH GIÁ HỌC SINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG
DẠY MÔN NGỮ VĂN 11 Ở TRƯỜNG THPT 4 THỌ XUÂN
Người thực hiện: Phạm Văn Tình
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT 4 Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2016
1
MỤC LỤC
Tran
g
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài......................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................1
1.4. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................2
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận.............................................................................................2
2.2. Thực trạng vấn đề....................................................................................4
2.3. Một số giải pháp và tổ chức thực hiện.....................................................5
khâu quan trọng nhất của quá trình dạy học làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm
(SKKN).
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.2.1. Về kiến thức:
- Nội dung và phương pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn 11
- Vận dụng kỹ thuật thiết kế đề kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn 11
1.2.2. Về kỹ năng:
- Thiết kế đề kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo năng lực học sinh
- Rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh
1.2.3. Về thái độ:
- Nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn
- Đổi mới quan niệm đánh giá học tập của học sinh gắn với tăng cường rèn
luyện kỹ năng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
3
Vận dụng một số giải pháp mới trong kiểm tra, đánh giá học sinh nhằm nâng cao
hiệu quả giảng dạy môn Ngữ văn 11 ở trường trung học phổ thông 4 Thọ Xuân.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn học Trung học phổ thông đã được ghi
rõ trong Chương trình giáo dục phổ thông của từng bộ môn ban hành kèm theo
Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng
thay thế những hình thức đánh giá đang dùng bằng các hình thức đánh giá hoàn
toàn mới lạ, mà là sử dụng linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau.
Thí dụ, căn cứ theo thời điểm đánh giá có thể sử dụng các hình thức như: đánh giá
đầu vào, đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ, đánh giá tổng kết. Căn cứ theo
tính chất đánh giá có các hình thức kiểm tra, đánh giá: viết, nói, làm (thực hành).
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập
của học sinh là một quá trình lâu dài, không thể ngày một ngày hai mà đông đảo
giáo viên từ bỏ được kiểu truyền thụ kiến thức, tiếp thu thụ động kiến thức của học
sinh. Việc phát triển các phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đó
quan trọng nhất là bồi dưỡng giáo viên có năng lực chuyên môn tốt, nắm bắt được
phương pháp dạy học mới để áp dụng vào việc đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh.
Nhưng cần lưu ý rằng: đổi mới kiểm tra, đánh giá theo mục tiêu môn học phải gắn
liền với hàng loạt vấn đề của chương trình, sách giáo khoa, với chuẩn kiến thức,
với đối tượng học sinh vùng miền.
Hiện nay có các thang nhận thức được ứng dụng cho việc xác định cấp độ tư
duy, ma trận đề kiểm tra của môn Ngữ văn là: Mức độ nhận biết và Mức độ thông
hiểu.
Mức độ nhận biết: Là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ nhận
biết. Thể hiện ở việc quan sát và nhớ lại thông tin, nhận biết được các ý chính, nắm
được chủ đề, nội dung. Động từ mô tả cần đạt: Nói lại được; Chỉ lại được; Kể lại
được; Liệt kê được, … HS xếp loại học lực yếu dễ đạt được điểm tối đa trong phần
này.
Mức độ thông hiểu: Là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ
thông hiểu. Thể hiện ở việc thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý nghĩa. Động từ
mô tả yêu cầu cần đạt: Diễn giải được; So sánh được; Phân biệt được; Tóm tắt
được. HS xếp loại học lực trung bình dễ đạt được điểm tối đa trong phần này.
5
diễn kịch, hội thảo hoặc thi sáng tác.
Trong quá trình thực hiện chương trình đổi mới, tôi đã có những nghiên cứu
đổi mới kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn 11, điều đó được thể hiện qua hệ
thống câu hỏi bài tập rất phong phú, đa dạng trong sách giáo khoa và trong những
6
bài kiểm tra kết quả học tập ở từng học kỳ cho học sinh. Các đề kiểm tra luôn có sự
cải tiến cả về nội dung và hình thức.
Đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh không chỉ nhằm cho điểm mà phải được
xem là căn cứ xác định mức độ phát triển và tiến bộ hay chưa tiến bộ, đạt được
những gì, làm căn cứ điều chỉnh nội dung và cách thức dạy học thích hợp. Công
việc này phải được tiến hành thường xuyên trong cả quá trình theo dõi kết quả học
tập của học sinh. Trong các cuộc họp nhóm chuyên môn, tổ chuyên môn tôi luôn
trao đổi, thảo luận đi đến thống nhất việc thiết kế đề kiểm tra, đánh giá môn Ngữ
văn 11 sao cho phù hợp với chương trình, sách giáo khoa và chuẩn kiến thức với
đối tượng học sinh từng lớp.
2.3. Một số giải pháp trong kiểm tra, đánh giá học sinh học môn Ngữ Văn 11
2.3.1. Giải pháp về nội dung kiến thức
* Năng lực đọc - hiểu và cảm thụ văn bản:
Những giá trị nội dung và nghệ thuật của một số tác phẩm (đoạn trích) tiêu biểu
cho kiểu văn bản tự sự (tự sự trung đại: Thượng kinh kí sự; tự sự hiện đại: Hai đứa
trẻ, Chữ người tử tù, Số đỏ, Chí phèo, Cha con nghĩa nặng, Vi hành, Tinh thần thể
dục; tự sự nước ngoài: Người trong bao, Người cầm quyền khôi phục uy quyền …)
Vẻ đẹp nhân văn và nghệ thuật trữ tình của thơ trung đại và một số bài thơ trữ
tình hiện đại Việt Nam và thơ trữ tình tiêu biểu thế giới của Puskin và Tago.
Giá trị nội dung và nghệ thuật của một số đoạn kịch được trích: Vĩnh biệt cửu
trùng đài; Tình yêu và thù hận…
Ý nghĩa và nội dung của thể loại văn tế, chiếu.
Hiểu ở mức độ cơ bản một số khái niệm lý luận văn học: đề tài, chủ đề, cốt
Nắm được mục đích yêu cầu của thao tác lập luận phân tích. Biết phân tích
một số vấn đề xã hội, văn học.
Hiểu rõ vai trò của thao tác lập luận so sánh; biết vận dụng thao tác lập luận
so sánh khi viết một đoạn văn, bài văn nghị luận.
Biết vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh trong bài văn
nghị luận.
Hiểu được mục đích và yêu cầu của lập luận bác bỏ; biết cách lập luận bác bỏ
trong bài nghị luận.
Hiểu được mục đích, yêu cầu và tầm quan trọng của thao tác lập luận bình
luận, những nguyên tắc và cách thức cơ bản của thao tác lập luận bình luận.
Vận dụng các thao tác lập luận đã học để viết được một văn bản nghị luận
ngắn về một hiện tượng gần gũi, quen thuộc trong đời sống hoặc trong văn học.
2.3.2. Giải pháp xây dựng bộ công cụ kiểm tra, đánh giá
2.3.2.1. Xây dựng bộ công cụ kiểm tra, đánh giá tự luận
- Phạm vi kiến thức và kỹ năng: Năng lực tạo lập văn bản.
- Yêu cầu:
+) Kiểm tra năng lực cảm thụ phân tích tác phẩm văn học, kỹ năng tư duy,
diễn đạt và huy động kiến thức, kỹ năng tóm tắt văn bản .
8
+) Không nên gò bó, cứng nhắc trong một kiểu khuôn mẫu mà đa dạng hoá
cách ra đề có tính mở để học sinh khó sao chép.
+) Tích hợp về nội dung và phương pháp biểu đạt.
+) Khuyến khích tính sáng tạo trong bài làm của học sinh.
+) Chú ý đến mức độ phù hợp với trình độ học sinh, từng lớp, từng trường.
- Các dạng đề tự luận:
+) Là một bài tự luận dài (90 phút).
+) Là một bài tự luận ngắn (45 phút) nhằm kiểm tra một phương diện kiến
thức kỹ năng nào đó.
* Về kỹ năng: Qua bài làm văn người dạy đánh giá được những kỹ năng gì ở
học sinh ?
* Về thái độ: Qua bài làm văn, học sinh sẽ có những thái độ gì đối với các
môn khoa học xã hội, trong đó có môn ngữ văn ?
2.3.3.2. Xây dựng ma trận đề cho bài làm văn (bước 2)
- Người ra đề căn cứ yêu cầu nội dung cần kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kỹ
năng trong phạm vi cần kiểm tra của chương trình GDPT để đưa vào ma trận đề.
- Căn cứ vào điểm số, thời gian kiểm tra để quyết định số lượng chuẩn
KTKN cho mỗi cấp độ. Số lượng chuẩn KTKN và thời gian phụ thuộc vào đối
tượng HS và chất lượng câu hỏi.
Trong mỗi một phương án kiểm tra người ra đề xây dựng được một khung
ma trận đề (theo các bảng dưới đây):
Bảng 1: Ma trận đề bài làm văn định kỳ (chương trình chuẩn 100% tự luận)
Cấp độ nhận thức
Hình thức
kiểm tra
NLXH
Dữ liệu
KT
Trọng tâm
Vấn đề 1
Nhận biết
Thông
Vận
Dữ liệu
Trọng tâm
Cấp độ nhận thức
10
kiểm tra
NLXH
Nhận
biết
KT
Thông
Vận
Vận dụng
hiểu
dụng
thấp
cao
Vấn đề 1
Vấn đề 2
Tự luận
Bài 1
Trọng tâm
NLXH
Theo Chuẩn KT
Theo Chuẩn KT
Theo Chuẩn KT
Theo Chuẩn KT
Cấp độ nhận thức
Nhận Thông
Vận
Vận dụng
biết
hiểu
dụng
thấp
cao
1 câu = 3 đ
1 câu
=
5đ
1 câu =
2đ
Bảng 4: Ma trận đề (dành cho học sinh thi lại 100% tự luận)
Cấp độ nhận thức
Hình thức
kiểm tra
Theo Chuẩn KT
Theo Chuẩn KT
1 câu = 6đ
11
Bảng 5: Ma trận đề kiểm tra định kỳ (học sinh làm bài ở nhà 100% tự luận)
Cấp độ nhận thức
Hình thức KT
Dữ liệu
KT
Vấn đề 1
Vấn đề 2
Bài 1
Tự luận
Bài 2
NLVH
Bài 3
Bài n
Trọng tâm
NLXH
Nhận Thông Vận dụng
biết
+ Nghị luận về một sự việc, một hiện tượng có thật trong đời sống ...
Ví dụ 1: Cảm xúc của anh (chị) khi mùa thu đến.
Ví dụ 3: Về một bài thơ mà anh (chị) yêu thích.
Ví dụ 4: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11)
2.3.3.4. Xây dựng hướng dẫn chấm cho bài làm văn (bước 4)
12
- Căn cứ vào đề và ma trận đề kiểm tra để xây dựng hướng dẫn chấm và biểu điểm.
- Thang điểm là 10 điểm cho toàn bài, mỗi ý có giá trị điểm nhỏ nhất là 0,25 điểm.
- Cần chú ý đến nguyên tắc làm tròn số khi cho điểm toàn bài. Thang đánh giá gồm
11 bậc: 0, 1, 2, …, 10 điểm.
2.3.3.5. Thẩm định, niêm phong đề và hướng dẫn chấm (bước 5)
Tùy theo tính chất và mục tiêu kiểm tra để tổ chức đọc hoặc thẩm định,
niêm phong đề kiểm tra, đáp án (thiếu phần này đề thi sẽ thiếu khoa học, thiếu
thuyết phục).
2.3.3.6. Thiết kế đề kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn 11
Tiết : 75
Bài viết số 5 (thời gian: 45 phút)
Đề bài:
Trước sự chăm sóc và tình thương yêu của Thị Nở, tâm trạng của Chí Phèo
diễn biến ra sao?
Đáp án:
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học. Nắm vững nội dung tác phẩm
Đây là những giây phút tươi đẹp nhất trong cuộc đời tăm tối dài dằng dặc của
Chí Phèo.
* Biểu điểm:
- Điểm 9- 10: Đáp ứng được tất cả các yêu cầu trên, diễn đạt lưu loát, văn
viết có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả.
- Điểm 7- 8: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, văn viết lưu loát, có cảm
xúc, mắc không quá 5 lỗi diễn đạt, lỗi chính tả.
- Điểm 5- 6: Tỏ ra hiểu đề nhưng phân tích chưa sâu, diễn đạt hơi vụng
nhưng câu văn rõ ý.
- Điểm 3- 4: Hiểu chưa đúng trọng tâm yêu cầu đề, phân tích sơ sài, mắc
nhiều lỗi diễn đạt.
- Điểm 1- 2: bài viết lạc đề
Tiết : 69 – 70
Bài kiểm tra học kỳ I (thời gian: 90 phút)
Đề bài
Câu 1: (4 điểm):
Sau khi ở tù ra, Chí Phèo đến nhà Bá Kiến mấy lần, nội dung của những lần
đến gặp đó ?
Câu 2 (6 điểm):
Phân tích vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” của
Nguyễn Tuân ?
Đáp án
Câu 1(4 điểm): Sau khi ở tù về Chí Phèo đến nhà Bá Kiến ba lần
- Lần 1: Chí Phèo đến dể báo thù vì Chí Phèo rất căm hận Bá Kiến và vẫn còn tỉnh
táo biết xác định đúng kẻ thù của mình. Kết quả: Bằng sự lọc lõi cáo già của mình
14
Bá Kiến trở thành kẻ bảo trợ cho Chí Phèo, biến Chí Phèo bước đầu trở thành tay
* Biểu điểm
Câu 1. Mỗi ý đúng 0.5 điểm
Câu 2.
15
* Điểm 9- 10: đáp ứng được tất cả các yêu cầu trên, diễn đạt lưu loát, văn viết có
cảm xúc, không mắc lỗi chính tả.
* Điểm 7- 8 :đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, văn viết lưu loát, có cảm xúc, mắc
không quá 5 lỗi diễn đạt, lỗi chính tả.
* Điểm 5- 6 : tỏ ra hiểu đề nhưng phân tích chưa sâu, diễn đạt hơi vụng nhưng câu
văn rõ ý.
* Điểm 3- 4 : hiểu chưa đúng trọng tâm yêu cầu đề, phân tích sơ sài, mắc nhiều lỗi
diễn đạt.
* Điểm 1- 2 : bài viết lạc đề
* Điểm 0: bỏ giấy trắng.
2.4. Hiệu quả áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.4.1. Tình trạng thực tế khi chưa áp dụng đề tài
Tiến hành khảo sát thực tế qua 3 lớp: 11A1, 11A3 và 11A4, tôi nhận thấy khả
năng làm bài của học sinh trong giờ kiểm tra còn rất hạn chế, số lượng học sinh đạt
điểm cao chưa nhiều. Hầu hết các em mới chỉ dừng lại ở việc kể lại nôi dung tác
phẩm (tức là chỉ nói lại được những gì trong tác phẩm có), còn cảm thụ và vận
dụng các kỹ năng làm bài chưa đạt. Học sinh chưa có khả năng suy nghĩ độc lập
nên gặp khó khăn khi phải trả lời các câu hỏi suy luận hay cảm thụ văn học. Trước
những vấn đề đặt ra cần phải bộc lộ quan điểm của mình thì học sinh thường dựa
vào đánh giá của người khác trong sách vở hoặc ở bài giảng của giáo viên. Trong
các tiết kiểm tra đánh giá học sinh qua các bài làm văn thì phần nội dung trình bày
rất sơ sài nên kết quả chưa cao.
2.4.2. Bảng ghi kết quả kiểm tra của học sinh trước khi áp dụng đề tài
Tiến hành khảo sát khả năng làm bài trong giờ kiểm tra viết của học sinh 3
45.45
52.38
HS làm
bài
tương
đối đạt
10
13
10
Tỉ lệ
(%)
25.0
29.54
23.8
HS làm Tỉ lệ
bài
(%)
chưa
đạt
14
35.0
11
25.1
10
23.82
3
11A1
11A3
11A4
40
44
42
31
33
30
77.5
75.0
71.4
6
7
8
15.0
15.9
19.0
HS làm
bài
chưa
đạt
Giáo viên phải có hồ sơ theo dõi từng cá nhân học sinh, hồ sơ phải bao gồm
cả kết quả, điểm số, đánh giá điểm mạnh và yếu, sự tiến bộ...của mỗi cá nhân trong
học tập.
2.4.5.2. Về phía học sinh
17
Phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo trong học tập.
Có phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Học sinh tự tìm ra kiến thức thông qua hành động của chính mình. Hợp tác
với bạn và học bạn.
- Tự kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh quy trình học tập của bản thân.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Những thay đổi về kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn11 nói riêng và
trong giáo dục nói chung đã làm chuyển đổi toàn bộ cách dạy và học trong nhà
trường. Nếu không tiếp cận và thay đổi nhận thức đánh giá, kiểm tra kết quả học
tập của học sinh sẽ theo một hướng khác và không phù hợp với yêu cầu, mục tiêu
đặt ra trong đổi mới.
Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải gắn với chương
trình, sách giáo khoa với chuẩn kiến thức được xác định trong từng môn học, từng
phân môn cũng như đối với mỗi bài học cụ thể.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh phải được diễn ra trong cả quá trình
dạy học. Các bài tập đánh giá phải gắn với thực trạng chất lượng của lớp nói chung
và cũng như đối với từng cá nhân. Kết quả đánh giá thường xuyên không nhằm qui
chụp điểm số mà có tác dụng điều chỉnh kế hoạch, cách thức dạy học, hỗ trợ học
sinh trong học tập.
3.2. Kiến nghị
Tổ chức hội thảo các chuyên đề về kiểm tra, đánh giá học sinh và xây dựng
hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho phù hợp với trình độ của học sinh.