LUẬN VĂN:
Một số biện pháp làm giảm chi phí sản xuất
kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh tại nhà máy da giầy Thái Bình MỞ ĐẦU
Quản lý và sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của quản trị sản xuất và kinh doanh trong doanh nghiệp. Việc tạo ra vốn để sản
xuất đã khó, khi có vốn để sử dụng còn là nhiệm vụ khó khăn hơn rất nhiều. Sử dụng có
hiệu quả chi phí để hạ thấp giá thành và tạo ra lợi thế cạnh tranh to lớn về giá cho
doanh nghiệp. Đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chưa chú trọng hay
có chăng thì cũng mới chỉ quan tâm ở mức đơn giản đến vấn đề này mà họ chưa quan
tâm sâu sắc thực sự. Điều này khiến cho chi phí, giá thành sản xuất ở các doanh nghiệp
Việt Nam so với nước ngoài vẫn rất cao và sức cạnh tranh thấp kém hơn nhiều. Điều
này càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết khi nền kinh tế Việt Nam đứng trước xu thế
xuất giầy vải và giầy thể thao và may gia công thuê khi có đơn đặt hàng.
Trụ sở hoạt động của nhà máy tại Km 4+500 đường 10, phường Phú Khánh , thành phố
Thái Bình với tổng diện tích khoảng 15000m2.
Số điện thoại: 036838542, Fax: 036838704.
2. Cơ cấu tổ chức của nhà máy da giầy Thái Bình.
Bộ máy quản trị của nhà máy được phân chia thành các phòng ban chức năng qua bảng
sơ đồ hình 1.1.
Đứng đầu trong bộ máy ban lãnh đạo là giám đốc , sau là các phó giám đốc chỉ đạo theo
hướng từ trên xuống dưới , cơ cấu tổ chức quản lý của xí nghiệp được thiết lập thêo mô
hình kiểu trực tuyến .
+ Giám đốc là người chịu trách nhiệm cao nhất tại nhà máy , đối với ban quản trị , hội
đồng cổ đông của công ty cổ phần giầy Thăng Long .
+ Một phó giám đốc : Là người chịu trách nhiệm về công tác kỹ thuật chất lượng sản
phẩm , quy trình công nghệ sản xuất giầy .
+ Một phó giám đốc : Là người chịu trách nhiệm về công tác sản xuất , cân đối kế hoạch
, lập kế hoạch sản xuất , kế hoạch tiêu thụ , kế hoạch nguyên vật liệu đầu vào .
*Dưới các phó giám đốc là các phòng ban chức năng :
+ Phòng tài vụ - tổ chức công tác hoạch toán kế toán đảm bảo đúng pháp lệnh kế toán
thống kê tham mưu giúp ban giám đốc kiểm tra , giám sát và quản lý chặt chẽ về vật tư ,
tiền vốn , lao động một cách có hiệu quả nhất.
+ Phòng tổ chức hành chính - bảo vệ :
- Tổ chức mọi hoạt động về công tác hành chính như : Khánh tiết , tiếp dân , tổ
chức các chuyến đi công tác của giám đốc , phó giám đốc và cán bộ công nhân viên .
- Tổ chức công tác văn thư , bảo mật tài liệu đi , đến . Tiếp nhận và lưu giữ hồ sơ
của cán bộ công nhân viên trong toàn nhà máy .
- Bảo vệ an toàn về con người và tài sản cho nhà máy .
- Chăm sóc sức khoẻ cho công nhân viên như : nhà ăn , y tế , vệ sinh công nghiệp .
Hình 1.1.Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà máy giầy Thái Bình.
+ Phòng kỹ thuật :
- Tham mưu giúp giám đốc về kỹ thuật và công nghệ , thiết kế mẫu mã sản phẩm .
- Chế tạo ra sản phẩm mới để chào hàng , để làm mẫu đối .
- Xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật , nhằm quản lý vật tư nguyên vật liệu.
- Quản lý chất lượng và kiểm tra chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu
dùng.
* Từng phân xưởng thực hiện các nhiệm vụ của mình và tạo thành một ê kíp dây chuyền
sau :
+ Phân xưởng chuẩn bị sản xuất có nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện vật liệu , bán thành
phẩm cho các phân xưởng như gò , may .
+ Hai phân xưởng may có nhiệm vụ lắp ráp các chi tiết của đôi giầy mà phân xưởng
chuẩn bị sản xuất đã chặt dao cho ra thành đôi giầy .
+ Phân xưởng cao su có nhiệm vụ đảm bảo phần đế giầy , các pooc sinh cho đôi giầy
thêm cứng cáp .
+ Hai phân xưởng giầy hoàn thành bán thành phẩm của phân xưởng chuẩn bị sản xuất
và phân xưởng may lắp ráp với nhau sau đó đưa lên dàn sấy hoàn chỉnh vệ sinh và đóng
gói .
Nhìn chung với bộ máy cơ cấu tổ chức như vậy ở nhà máy giầy Thái Bình là khá hoàn
chỉnh về hình thức bởi nhà máy chỉ là một chi nhánh của công ty cổ phần giầy Thăng
Long , và được kế thừa từ trước khi cổ phần hoá.
3. Các đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật của nhà máy.
3.1. Đặc điểm về sản phẩm của nhà máy.
Sản phẩm của nhà máy chủ yếu bao gồm 2 loại giầy đó là giầy vải và giầy thể thao . Nhà
máy chủ yếu sản xuất theo các đơn đặt hàng của khách hàng vì thế mà nhà máy không
lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hàng năm . Việc sản xuất hàng ngày sẽ dựa trên khối
lượng công việc để triển khai . Sản phẩm của nhà máy chủ yếu là hàng xuất khẩu , thị
trường chủ yếu là xuất khẩu sang các nước Trung Quốc , Hàn Quốc , Nhật , Mỹ và các
lo ngại giải quyết việc làm và dư thừa công suất máy móc
Qua bảng số liệu cho thấy tốc độ tăng của doanh thu hàng xuất khẩu đồng thời tương
ứng với tốc độ tăng tổng doanh thu của nhà máy. Chỉ 2 năm gần đây cơ cấu tăng đó có
chút thay đổi. Tốc độ tăng của doanh thu hàng xuất khẩu thay đổi theo chiều hướng tăng
nhanh hơn tổng doanh thu.
3.2. Đặc điểm về tình hình lao động tại nhà máy.
Bắt đầu từ ngày thành lập đến nay , nhà máy đã trải qua nhiều biến đổi to lớn . Những
ngày đầu thành lập , nhà máy chỉ có 120 cán bộ công nhân viên vào năm 1978 . Số
lượng cán bộ công nhân viên dần tăng lên cùng với sự lớn lên của nhà máy , mở rộng
sản xuất . Cho đến năm 2005 , nhà máy đã có tất cả hơn 1000 cán bộ công nhân viên ,
tuy nhiên đến cuối năm 2005 do sự cổ phần hoá và đổi mới , cùng với công ty giầy
Thăng Long , chi nhánh tại nhà máy giầy Thái Bình cũng tiến hành đổi mới và cắt giảm
lao động trong nhà máy , những lao động dôi dư được nhà máy giải quyết thoả đáng
theo nghị định 41/2002/NĐ – CP và theo bộ luật lao động .
Hiện nay lực lượng nhân lực của nhà máy là 580 người và được bố trí như sau:
+ Cán bộ quản lý : 15 người
+ Lao động phụ trợ, lái xe, thủ kho: 22 người
+ Công nhân trực tiếp sản xuất: 543 người
Bảng 1.3. Cơ cấu và cấp bậc nhân công trực tiếp sản xuất.
Đơn vị: Người
Lĩnh vực phân công sản xuất Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5 Bậc 6
Công nhân chuẩn bị sản xuất 50 14 7 12 9 5 3
Công nhân cán luyện cao su 32 5 8 8 7 2 2
Công nhân may 240 105 66 40 13 10 6
Công nhân gò 221 79 91 30 8 8 5
Tổng 543 203 172 90 37 25 16
Tỷ lệ cấp bậc công việc ( % ) 100 37,38 31,68 16,57 6,8 4,6 2,97
3.3. Đặc điểm về công nghệ và trang thiết bị.
3.3.1. Đặc điểm về trang thiết bị.
Máy móc và thiết bị của ngành giầy mang tính chuyên dùng cao , khác với nhiều ngành
công nghiệp khác , các máy dùng trong ngành giầy chỉ đảm nhiệm được một nhiệm vụ
sản xuất ra một yếu tố , bộ phận nào đó trên chiếc giầy . Do đặc điểm của xí nghiệp
chuyên sản xuất 2 loại giầy là giầy vải và giầy thể thao nên thiết bị cũng là những thiết
bị chuyên dùng cho ngành giầy và sản xuất 2 loại giầy này . Thiết bị chủ yếu được nhập
của Hàn Quốc , Đài Loan , Italia , Đức , Mỹ . Nhà máy hiện nay có 2 dây chuyền sản
xuất giầy vải và 2 dây chuyền sản xuất giầy thể thao . Thiết bị máy móc đã giảm nhẹ rất
nhiều lao động thủ công , tạo ra năng suất ngày càng cao , do đó nhà máy phải luôn
quan tâm đến công tác quản lý , giám sát rất chặt chẽ quá trình sử dụng và sản xuất .
Nhà máy có tất cả đến 26 loại máy móc thiết bị , trong đó các loại máy như : máy may
bàn , máy may trụ , máy may ziczăc , máy dập ôdê , máy bồi vải , máy chặt , máy cán ,
máy dẫy da , máy đùn bím , máy cắt , máy gò , máy ép là những loại máy có yếu tố
quan trọng trong quá trình sản xuất của nhà máy .
Bảng 1.4. Bảng thống kê thiết bị máy móc đang sử dụng của nhà máy.
Số
TT
Tên tài sản
Số lượng
(chiếc )
Nguyên
giá
(1.000 )
Giá trị
24
25
26
Tổng giá trị thiết bị tài sản
Máy may bàn 1 kim ( Đài Loan )
Máy may bàn 2 kim ( Hàn Quốc )
Máy may bàn 1 kim ( Hàn Quốc )
Máy may trụ 1 kim ( Hàn Quốc )
Máy may trụ 1 kim ( Nhật )
Máy may trụ 2 kim ( Nhật )
Máy may trụ 2kim ( Hàn Quốc )
Máy may ziczăc ( Hàn Quốc )
Máy dập ôdê (Đài Loan )
Máy bồi vải (Đài Loan )
Máy chặt vải ( Hàn Quốc )
Máy chặt JY ( Đài Loan )
Máy dẫy da ( Nhật )
Máy cán cao su ( Trung Quốc )
Máy chặt đế nhiệt ( Đài Loan )
Máy đùn bím 3 mầu ( Hàn Quốc )
Máy cắt vỉa IR ( Đài Loan )
Máy gò mũi ( Đài Loan )
Máy gò gót ( Đài Loan )
Máy gò mang ( Đài Loan )
Máy ép đế ( Đài Loan )
Máy ép bím ( Đài Loan )
Máy vệ sinh giầy ( Việt Nam )
Máy quét keo chân gò ( Hàn Quốc )
Hệ thống băng truyền sản xuất giầy
90.000
1.020.000
389.000
320.000
38.000
16.000
127.000
18.000
126.000
352.000
401.000
56.000
37.000
381.000
87.000
166.000
56.000
497.000
195.000
60.000
103.000
134.000
4.000
54.000
1.508.000
362.000
4.530.000
60.000
752.000
qua sử dụng hoặc có mua mới thì cũng là những công nghệ đã lạc hậu cho lên năng lực
sản xuất không cao, chi phí cho sửa chữa cũng khá tốn kém, việc tính cho khấu hao
cũng trở lên phức tạp.
3.3.2. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm .
Sơ đồ hình 1.5 là quy trình sản xuất sản phẩm của nhà máy . Quy trình sản xuất bắt đầu
từ khi có đơn hàng , ban giám đốc lên kế hoạch sản xuất , sau đó lệnh sản xuất được đưa
đến các phân xưởng . Các phân xưởng có nhiệm vụ thực hiện các công việc của mình
theo các kế hoạch đã được bàn giao .
Phân xưởng chuẩn bị sản xuất có nhiệm vụ chặt da , vải , xốp thành các chi tiết theo
mẫu đã được thiết kế tuỳ theo từng mã hàng . Sau đó giao cho phân xưởng may mũ giầy
. Ngoài ra còn phải in ấn các cỡ số , biểu tượng tem chất liệu trang trí trên đôi giầy theo
yêu cầu của khách hàng .
Hai phân xưởng may có nhiệm vụ lắp ráp các chi tiết của đôi giầy mà phân xưởng chuẩn
bị sản xuất đã chặt giao cho ra thành đôi mũ giầy .
Phân xưởng cao su có nhiệm vụ đảm bảo phần đế giầy , các pooc sinh cho đôi giầy thêm
cứng cáp .
Hai phân xưởng giầy hoàn thành nhận bán thành phẩm của phân xưởng chuẩn bị sản
xuất và xưởng may lắp ráp với nhau , sau đó sản phẩm được chuyển sang phân xưởng
cơ điện . Ở đây những đôi giầy được đưa lên dàn sấy , hoàn chỉnh vệ sinh và đóng gói ,
và kết thúc một quá trình sản xuất .
Tuy nhiên cần bố trí sao cho giữa các bộ phận , phân xưởng sản xuất cần có sự nhịp
nhàng đồng bộ , tránh sự ùn tắc , không đồng đều giữa các bộ phận với nhau, và cần xắp
xếp 1 cách thuận lợi để tạo ra năng suất cao nhất . Hình 1.5. Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm.
Hoá chất + keo
Dán ép đế
Bán thành
phẩm đế
Gia cô
ng
chi tiết
Chặt + cắt
Cán , bồi vải
Kho nguyên liệu
phần đế
Mẫu đối
(đơn hàng)
Gò ráp mũ
với đế giầy
Kế hoạch
(lệnh sản xuất)
Vệ sinh + KCS
Máy mũ giầy
Sản phẩm hoàn
thành
Hàng năm , cứ 6 tháng nhà máy lại tiến hành kiểm kê kho hàng , vật tư được bố trí sắp
xếp theo từng loại và khu vực , các loại vật liệu chính và vật liệu phụ . Kho vật tư được
chia thành nhiều khu vực , mỗi khu vực sắp xếp một loại vật tư và được bố trí khá hợp
lý : vật tư hay sử dụng để bên ngoài , loại nào ít sử dụng để bên trong , loại có giá trị cao
để bên dưới , loại có giá trị thấp để bên trên .
Tuy nhiên nhìn chung nhà máy chỉ chủ động thu mua những nguyên vật liệu phụ, ít giá
trị, còn những nguyên vật liệu chính chủ yếu là do chính khách hàng cung cấp. Vì vậy
công tác thu mua và tính toán chi phí nguyên vật liệu của nhà máy không quá phức tạp.
3.5. Đặc điểm về tình hình tài chính nhà máy da giầy Thái Bình
Khi nhà máy giầy Thái Bình là một doanh nghiệp nhà nước độc lập thì vốn góp ban đầu
chính là vốn nhà nước . Sau đó liên kết với công ty giầy Thăng Long và là một nhà máy
trực thuộc của công ty giầy Thăng Long . Ngày 14/10/2005 , công ty giầy Thăng Long
chuyển đổi cổ phần hoá thì nhà máy giầy Thái Bình cũng tiến hành cổ phần hoá và vốn
do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty . Khi cổ phần hoá
thì nhà máy giầy Thái Bình chính thức là một chi nhánh của công ty cổ phần giầy Thăng
Long , do vậy mà nguồn tài chính hay tất cả các nghiệp vụ kinh tế của nhà máy đều dưới
sự kiểm soát của cơ quan chủ quản là công ty giầy Thăng Long . Mọi thu chi của nhà
máy đều thông qua công ty cổ phần giầy giầy Thăng Long : khi có kế hoạch thu hay chi
, ban giám đốc báo cáo lên công ty mẹ và chờ phê duyệt . Nhưng nhà máy cũng có thể
tự chủ động hợp tác , ký kết hợp đồng với các bạn hàng mà có thể thông qua sự chấp
nhận của công ty mệ . Nhà máy tự chủ trong việc thu chi , tuy nhiên tất cả đều phải
thông qua ban lãnh đạo của công ty cổ phần giầy Thăng Long . Sự phụ thuộc ấy được
thể hiện qua sơ đồ hình 1.6.
Hình 1.6. Sơ đồ thông tin, báo cáo của nhà máy.
Báo cáo, kiến nghị
ty giầy Thăng Long
chi phí rất cao cho các khoản nợ này . Hơn nữa đối với nợ ngắn hạn luôn duy trì ở mức
cao hơn rất nhiều so với nợ dài hạn , điều này khiến cho tình hình tài chính của nhà máy
luôn ở tình trạng khó khăn , và thường xuyên phải đối mặt với những khó khăn về tài
chính , về những khoản nợ đến hạn phải trả . Nguyên nhân chính của vấn đề này là do
khi nhà máy kí hợp đồng với các đối tác thì sau khi nhà máy sản xuất và bán hàng mới
trả tiền cho khách hàng , hay sau một thời gian nào đó theo kí kết chứ ít khi phải trả
ngay cho khách hàng . Riêng đối với năm 2005, nguồn vốn chủ sở hữu là thấp nhất
trong 5 năm trở lại đây , nguyên nhân của vấn đề này chính là do sự thay đổi cổ phần
hoá của nhà máy và nó được tính dựa trên vốn điều lệ ban đầu của các cổ đông .
Hình 1.7. Bảng tổng nợ của nhà máy qua một số năm:
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2003 2004 2005 2006 2007
Nợ ngắn hạn 1.000 57.485.000 61.769.000 61.008.000 61.543.001 47.273.000
Tốc độ tăng NGH % 7,45 - 1,13 0,88 - 23,19
Nợ dài hạn 1.000 18.265.001 16.372.000 17.552.000 17.564.001 16.122.000
Tốc độ tăng NDH % - 10,36 7,21 0,1 - 8,21
Nguồn vốn CSH 1.000 4.247.000 5.785.000 983.000 1.630.000 3.907.000
Tốc độ tăng NV
CSH
% 36,21 - 83 65,82 139,69
Tổng nợ/ NV
CSH
lần 17,84 13,5 83,75 48,53 16,23
Tổng nợ của nhà máy lúc nào cũng trên 70 tỷ đồng , riêng năm 2007 con số có vẻ khả
quan hơn . Tuy nhiên đó vẫn là mức nợ rất cao , hàng năm nhà máy vẫn phải bỏ ra mức
Nộp ngân sách hàng năm của nhà máy cũng gia tăng nhưng thấp, điều này cũng cho
thấy hiệu quả kinh doanh của nhà máy chưa cao, chưa xứng với tiềm năng có thể đạt
được. Qua bảng trên có thể thấy được các chỉ số : lợi nhuận/doanh thu, lợi nhuận/ chi
phí hay doanh thu/ chi phí là rất thấp. Điều này lại khẳng định rằng hiệu quả kinh doanh
của nhà máy là rất thấp. Điểm mấu chốt vẫn chính là chí phí của nhà máy quá lớn so với
doanh thu.
Có thể thấy đời sống của cán bộ công nhân viên cũng đã được thay đổi, cải thiện qua
mức thu nhập bình quân của 1 người lao động. Nhưng so với các ngành khác thì đây vẫn
là mức thu nhập rất thấp, đời sống của người lao động vẫn chưa được đảm bảo. Thu
nhập lúc cao, lúc thấp, điều này do tính mùa vụ, về vụ sản xuất chính thì nhiều việc,
phải làm thêm ca, còn về mùa vụ có ít đơn đặt hàng thì người lao động lại nhàn rỗi
nhưng đồng nghĩa với việc không có lương. CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TẬP HỢP, QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI NHÀ MÁY DA GIẦY THÁI BÌNH
1. Thực trạng công tác tập hợp và quản lý chi phí sản xuất của nhà máy.
Chi phí sản xuất ( hay còn gọi là chi phí kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh ) là tất
cả những gì mà doanh nghiệp phải bỏ ra: Tiền vốn, trí tuệ, nhân lực, vật lực để phục vụ
trực tiếp cho quá trình sản xuất và để tạo ra sản phẩm cuối cùng và tiêu thụ. Chi phí sản
xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với nội dung kinh tế khác nhau, vào những
thời điểm, địa điểm khác nhau nhất định. Tuy nhiên cuối cùng đều được biểu hiện bằng
thước đo tiền tệ và mang ba đặc trưng cơ bản: Thứ nhất, phải là sự hao phí vật phẩm và
dịch vụ. Thứ hai, sự hao phí vật phẩm và dịch vụ phải gắn liền với kết quả. Thứ ba,
những vật phẩm và dịch vụ hao phí phải được đánh giá.
Tính chi phí kinh doanh có nhiệm vụ: Tạo ra cơ sở cần thiết để ra quyết định kinh
doanh phù hợp từ dài hạn đến trung hạn và ngắn hạn. Muốn vậy, phải dựa trên cơ sở các
Vì vậy trong phần này em xin chỉ trình bày về thực trạng tình hình sử dụng và cách tính.
Và do một số đặc điểm của nhà máy, em sẽ chia các nội dung tính và sử dụng chi phí
của nhà máy thành các nội dung như sau :
+ Sử dụng nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân lực
+ Các chi phí khác
Nguyên nhân em muốn phân chia nội dung tính chi phí thành chi phí nhân lực và các chi
phí còn lại khác là vì để tiện cho việc xem xét hiệu quả của việc sử dụng các nội dung
chi phí vào các đối tượng có liên quan cụ thể. Bởi vì đối với chi phí nhân lực còn có
nhiều các loại chi phí có liên quan ngoài chi phí cho nhân công trực tiếp sản xuất. Và
các chi phí khác lại bao gồm cả một số những chi phí về nguyên vật liệu phụ nhà máy
vẫn phải sử dụng mà đáng lẽ phải tính ở nội dụng của tính chi phí nguyên vật liệu trong
bài lại không thể trình bày.
Tình hình sử dụng nguyên vật liệu trực tiếp tại nhà máy.
1.1.1. Yêu cầu, vai trò cung ứng nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là phạm trù mô tả các đối tượng lao động được tác động vào để biến
thành sản phẩm ( dịch vụ ). Nguyên vật liệu là một trong các yếu tố sản xuất cơ bản,
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành sản phẩm. Hoạt động cung ứng nguyên vật liệu
ở mọi doanh nghiệp đều bao gồm ba nội dung chủ yếu là mua sắm, vận chuyển và bảo
quản nguyên vật liệu ( hàng hoá ) trong kho. Đặc điểm cơ bản của nguyên vật liệu là
nhiều chủng loại tham gia vào sản xuất với số lượng rất khác nhau. Đối với ngành sản
xuất da giầy thì điều này lại càng đúng hơn vì để phục vụ cho sản xuất, các doanh
nghiệp da giầy phải sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu hơn cả nhiều lĩnh vực kinh
doanh khác. Chính vì thế việc quản trị cung ứng nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
da giầy có vị quan trọng, hơn nữa trong xu thế cạnh tranh về cả các nguồn lực khan
hiếm thì nó trở lên quan trọng hơn bao giờ hết. Do nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng
lớn trong giá thành cho lên hoạt động cung ứng nguyên vật liệu có hiệu quả sẽ góp phần
rất quan trọng vào tăng hiệu quả kinh doanh. Vì vậy hoạt động cung ứng nguyên vật liệu
* Nhập kho vật tư:
Khi vật tư về tới nơi, thủ kho tiến hành kiểm tra toàn bộ lượng hàng bao gồm các công
việc: Kiểm tra danh mục vật tư, kiểm nhận chất lượng vật tư hàng hoá, xác định công
dụng ghi trong hoá đơn, sau đó ghi danh mục các loại vật tư, quy cách và phiếu kiểm
nghiệm vật tư đó. Vật tư nhập kho phải căn cứ vào số lượng thực tế, thủ kho lên kế
hoạch và chuyển giấy tờ cần thiết cho các bộ phận liên quan. Quy trình nhập kho vật tư
vào kho bao gồm các công đoạn và các việc cần làm :
+ Chuẩn bị nơi chứa vật tư cho phù hợp với từng loại vật tư hàng hoá cần nhập.
+ Chuẩn bị nhân lực bốc dỡ.
+ Chuẩn bị kiểm nghiệm, kiểm nhận đảm bảo vật tư
+ Chuẩn bị các giấy tờ và chứng từ cần thiết.
+ Tổ chức bố trí nơi giao nhận hàng một cách hợp lý.
* Cấp phát vật tư:
Vật tư trước khi xuất kho phải tiến hành kiểm tra phiếu lĩnh vật tư để biết trước số
lượng, chủng loại vật tư cấp phát cho các phân xưởng và phải căn cứ vào định mức và
hạn mức theo kế hoạch đã định. Đầu kỳ hàng tháng phải đối chiếu song song giữa thủ
kho và kế toán. Thủ kho trực tiếp phát theo yêu cầu sản xuất cho từng phân xưởng.
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp vật tư của đơn hàng Pan sawoo K70042 – B
Đơn hàng: Pan Sanwoo K70042 – B Lệnh sản xuất: 3/7/2007
Kiểu giầy: 203919T Số lượng : 15400 đôi
Số
TT
Tên vật tư
Quy cách
Mút 10 ly (độn cổ )
Bạt 3419 đen ( tẩy )
EVA 3,5 ly
Bìa Đài Loan
Chun đen cạnh 6cm
K1.1
K1.1
K1.1
K1.1
K1,2
K1.0m
K40’’
K1.2
K1.1m
K1.1*2,1
K1,55*0,93
6cm
m
m
m
m
m
m
m
m
m
tấm
tấm
m
0,088
318
753
376
492
1848
13
14
15
16
17
18
19
Phin đen ( viền lắc, viền pho )
Vải bồi 2 lớp ( pho mũi )
Tem cạnh “ Graceland )
Tem cô gái
Chỉ 20/2 mộc
Chỉ 20/2 đen
Xoải 5030
K0.75
K0.82 2000m/c
2000m/c
m
chiếc
chiếc