Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Quản lý và sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của quản trị sản xuất và kinh doanh trong doanh nghiệp. Việc
tạo ra vốn để sản xuất đã khó, khi có vốn để sử dụng còn là nhiệm vụ khó
khăn hơn rất nhiều. Sử dụng có hiệu quả chi phí để hạ thấp giá thành và tạo
ra lợi thế cạnh tranh to lớn về giá cho doanh nghiệp. Đối với nhiều doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chưa chú trọng hay có chăng thì cũng mới chỉ
quan tâm ở mức đơn giản đến vấn đề này mà họ chưa quan tâm sâu sắc thực
sự. Điều này khiến cho chi phí, giá thành sản xuất ở các doanh nghiệp Việt
Nam so với nước ngoài vẫn rất cao và sức cạnh tranh thấp kém hơn nhiều.
Điều này càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết khi nền kinh tế Việt Nam
đứng trước xu thế hội nhập toàn cầu hoá.
Trong thời gian thực tập tìm hiểu thực tế tại nhà máy da giầy Thái Bình
( chi nhánh của công ty cổ phần giầy Thăng Long ) em quyết định đi sâu
nghiên cứu về lĩnh vực này nhằm tìm hiểu nguyên nhân và thực trạng về việc
sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh tại nhà máy nói riêng và ngành da giầy
cũng như các ngành kinh tế nói chung, đồng thời nhằm tìm ra những biện
pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh với đề tài: “
Một số biện pháp làm giảm chi phí sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu
quả kinh doanh tại nhà máy da giầy Thái Bình”.
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY DA GIẦY THÁI BÌNH
1. Quá trình ra đời và phát triển của nhà máy da giầy Thái
năng qua bảng sơ đồ hình 1.1.
Đứng đầu trong bộ máy ban lãnh đạo là giám đốc , sau là các phó giám
đốc chỉ đạo theo hướng từ trên xuống dưới , cơ cấu tổ chức quản lý của xí
nghiệp được thiết lập thêo mô hình kiểu trực tuyến .
+ Giám đốc là người chịu trách nhiệm cao nhất tại nhà máy , đối với ban
quản trị , hội đồng cổ đông của công ty cổ phần giầy Thăng Long .
+ Một phó giám đốc : Là người chịu trách nhiệm về công tác kỹ thuật chất
lượng sản phẩm , quy trình công nghệ sản xuất giầy .
+ Một phó giám đốc : Là người chịu trách nhiệm về công tác sản xuất , cân
đối kế hoạch , lập kế hoạch sản xuất , kế hoạch tiêu thụ , kế hoạch nguyên vật
liệu đầu vào .
*Dưới các phó giám đốc là các phòng ban chức năng :
+ Phòng tài vụ - tổ chức công tác hoạch toán kế toán đảm bảo đúng pháp
lệnh kế toán thống kê tham mưu giúp ban giám đốc kiểm tra , giám sát và
quản lý chặt chẽ về vật tư , tiền vốn , lao động một cách có hiệu quả nhất.
+ Phòng tổ chức hành chính - bảo vệ :
- Tổ chức mọi hoạt động về công tác hành chính như : Khánh tiết , tiếp
dân , tổ chức các chuyến đi công tác của giám đốc , phó giám đốc và
cán bộ công nhân viên .
- Tổ chức công tác văn thư , bảo mật tài liệu đi , đến . Tiếp nhận và lưu
giữ hồ sơ của cán bộ công nhân viên trong toàn nhà máy .
- Bảo vệ an toàn về con người và tài sản cho nhà máy .
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chăm sóc sức khoẻ cho công nhân viên như : nhà ăn , y tế , vệ sinh
công nghiệp .
Hình 1.1.Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà máy giầy Thái Bình.
+ Phòng kỹ thuật :
xuất
Phân
xưởng
may 2
Phân
xưởng
cao su
Phân
xưởng
giầy 1
Phân
xưởng
cơ
điện
Phân
xưởng
giầy 2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Từng phân xưởng thực hiện các nhiệm vụ của mình và tạo thành một ê
kíp dây chuyền sau :
+ Phân xưởng chuẩn bị sản xuất có nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện vật
liệu , bán thành phẩm cho các phân xưởng như gò , may .
+ Hai phân xưởng may có nhiệm vụ lắp ráp các chi tiết của đôi giầy mà
phân xưởng chuẩn bị sản xuất đã chặt dao cho ra thành đôi giầy .
+ Phân xưởng cao su có nhiệm vụ đảm bảo phần đế giầy , các pooc sinh
cho đôi giầy thêm cứng cáp .
+ Hai phân xưởng giầy hoàn thành bán thành phẩm của phân xưởng chuẩn
bị sản xuất và phân xưởng may lắp ráp với nhau sau đó đưa lên dàn sấy hoàn
chỉnh vệ sinh và đóng gói .
Nhìn chung với bộ máy cơ cấu tổ chức như vậy ở nhà máy giầy Thái Bình
DT hàng xuất
khẩu ( 1.000 )
12.831.96
2
20.399.01
0
29.817.28
1
41.740.15
4
53.991.454
Tốc độ tăng DT
hàng XK (%)
... 59 46,17 40 29,35
Tổng DT/ DT
hàng XK (%)
80,27 78,5 79,65 81,45 82
Sản phẩm chủ yếu là hàng xuất khẩu , yêu cầu chất lượng phải cao cho lên
chi phí giá thành cũng rất cao , giá vốn hàng hoá chiếm từ 85% đến 90%
doanh thu của sản phẩm . Các loại chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
được tập hợp trực tiếp vào chi phí sản xuất .
Đây là ngành cũng mang tính đặc thù , cho lên sản phẩm cũng mang tính
mùa vụ . Thông thường vào các quý 1 và quý 4 thì công việc sản xuất và tiêu
thụ diễn ra cao hơn do khách hàng đặt nhiều đơn hàng vào mùa rét , còn vào
các quý 2 và 3 là mùa nóng nên có ít hợp đồng hơn . Đây cũng là bài toán lớn
đặt ra cho ban quản trị nhà máy vì vào vụ sản xuất chính nhiều công việc, hợp
đồng mà có khi nhà máy không đáp ứng nổi , lúc thì lo ngại giải quyết việc
làm và dư thừa công suất máy móc ....
Qua bảng số liệu cho thấy tốc độ tăng của doanh thu hàng xuất khẩu đồng
thời tương ứng với tốc độ tăng tổng doanh thu của nhà máy. Chỉ 2 năm gần
này tương đối hợp lý bởi đặc thù của ngành nên cần sử dụng nhiều lao động
nữ, đối với lao động nam chủ yếu cần cho bộ phận làm công việc cán luyện
cao su, chặt cắt, bốc vác và các công việc nặng nhọc khác. Nhìn chung toàn
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bộ nhân lực trong nhà máy chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ văn hoá
trung bình. Chỉ cán bộ quản lý và những nhân viên kỹ thuật là đã qua qua đào
tạo cơ bản tại trường đại học và cao đẳng. Toàn bộ nhân lực bao gồm: Số
người qua đại học và cao đẳng là 17 người, trung cấp 21 người, lớp 12/12 là
220 người, lớp 9/12 là 322 người. Lao động chủ yếu được đào tạo tại nhà máy
qua một thời gian ngắn và làm việc ngay vì đối tượng lao động này không yêu
cầu quá cao, công việc cũng không quá phức tạp, công việc được chia thành
nhiều khâu, nhiều công việc và những người lao động chỉ đảm nhiệm một
công việc chuyên môn cụ thể và hoàn thành tốt công việc đó là được.
Cán bộ ở các phòng ban tổ chức và lãnh đạo sau cổ phần hoá gần như đều
được giữ nguyên mà không có gì thay đổi, trong đó bà Lương Thị Bắc giữ
cương vị là giám đốc và bà Nguyễn Thị Châm là phó giám đốc kế hoạch và
sản xuất đồng thời là những cổ đông sáng lập của công ty cổ phần giầy
Thăng Long.
Chi phí cho nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng trong quản trị
chi phí. Đối với ngành da giầy nói chung và nhà máy da giầy Thái Bình nói
riêng thì chi phí nhân lực lại có vai trò càng quan trọng, đặc biệt là chi phí
giành cho nhân công trực tiếp sản xuất vì lực lượng lao động này chiếm tỷ lệ
rất lớn trong nhà máy. Tuy nhiên trong nhà máy, số lượng công nhân bậc 1
và bậc 2 chiếm đến 70% số lượng công nhân trực tiếp sản xuất. Điều đó có
nghĩa phần lớn lao động trong nhà máy trình độ là thấp kém, phổ thông, họ
được đào tạo thiếu cơ bản. Điều này sẽ khiến cho năng suất lao động kém
hiệu quả, hơn nữa nhà máy phải bỏ ra chi phí không phải là nhỏ để đào tạo
số lượng công nhân này chưa được qua đào tạo. Đối với đội ngũ cán bộ nhân
Máy móc thiết bị là tài sản lớn, công việc chọn mua và sử dụng những
máy móc nào cho thích hợp với điều kiện kinh doanh của nhà máy, điều kiện
cho sản xuất có vai trò rất quan trọng, vì máy móc là nhân tố ảnh hưởng rất
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
Số
TT
Tên tài sản
Số
lượng
(chiếc )
Nguyên
giá
(1.000 )
Giá trị
còn lại
(1.000 )
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Máy gò mũi ( Đài Loan )
Máy gò gót ( Đài Loan )
Máy gò mang ( Đài Loan )
Máy ép đế ( Đài Loan )
Máy ép bím ( Đài Loan )
Máy vệ sinh giầy ( Việt Nam )
Máy quét keo chân gò ( Hàn Quốc )
Hệ thống băng truyền sản xuất giầy
Nồi hấp giầy 5800C ( Việt Nam )
15
85
36
21
2
1
10
2
4
1
7
1
2
2
1
1
1
2
2
2
2
4.000
54.000
1.508.00
0
362.000
4.530.000
60.000
752.000
290.000
225.000
35.000
7.000
90.000
13.000
92.000
253.000
259.000
41.000
23.000
271.000
59.000
123.000
33.000
395.000
152.000
47.000
79.000
103.000
2.000
35.000
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hình 1.5. Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm.
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
12
Kho nguyên liệu
phần mũ giầy
Gia công cán
ép
Hoá chất + keo
Dán ép đế
Bán thành
phẩm đế
Gia công
chi tiết
Chặt + cắt
Cán , bồi vải
Kho nguyên liệu
phần đế
Mẫu đối
(đơn hàng)
Gò ráp mũ
với đế giầy
Kế hoạch
(lệnh sản xuất)
Vệ sinh + KCS
Máy mũ giầy
Sản phẩm hoàn
thành
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được bố trí sắp xếp theo từng loại và khu vực , các loại vật liệu chính và vật
liệu phụ . Kho vật tư được chia thành nhiều khu vực , mỗi khu vực sắp xếp
một loại vật tư và được bố trí khá hợp lý : vật tư hay sử dụng để bên ngoài ,
loại nào ít sử dụng để bên trong , loại có giá trị cao để bên dưới , loại có giá
trị thấp để bên trên .
Tuy nhiên nhìn chung nhà máy chỉ chủ động thu mua những nguyên vật
liệu phụ, ít giá trị, còn những nguyên vật liệu chính chủ yếu là do chính khách
hàng cung cấp. Vì vậy công tác thu mua và tính toán chi phí nguyên vật liệu
của nhà máy không quá phức tạp.
3.5. Đặc điểm về tình hình tài chính nhà máy da giầy Thái Bình
Khi nhà máy giầy Thái Bình là một doanh nghiệp nhà nước độc lập thì vốn
góp ban đầu chính là vốn nhà nước . Sau đó liên kết với công ty giầy Thăng
Long và là một nhà máy trực thuộc của công ty giầy Thăng Long . Ngày
14/10/2005 , công ty giầy Thăng Long chuyển đổi cổ phần hoá thì nhà máy
giầy Thái Bình cũng tiến hành cổ phần hoá và vốn do các cổ đông đóng góp
là yếu tố quyết định để hình thành công ty . Khi cổ phần hoá thì nhà máy giầy
Thái Bình chính thức là một chi nhánh của công ty cổ phần giầy Thăng Long ,
do vậy mà nguồn tài chính hay tất cả các nghiệp vụ kinh tế của nhà máy đều
dưới sự kiểm soát của cơ quan chủ quản là công ty giầy Thăng Long . Mọi thu
chi của nhà máy đều thông qua công ty cổ phần giầy giầy Thăng Long : khi
có kế hoạch thu hay chi , ban giám đốc báo cáo lên công ty mẹ và chờ phê
duyệt . Nhưng nhà máy cũng có thể tự chủ động hợp tác , ký kết hợp đồng với
các bạn hàng mà có thể thông qua sự chấp nhận của công ty mệ . Nhà máy tự
chủ trong việc thu chi , tuy nhiên tất cả đều phải thông qua ban lãnh đạo của
công ty cổ phần giầy Thăng Long . Sự phụ thuộc ấy được thể hiện qua sơ đồ
hình 1.6.
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hình 1.6. Sơ đồ thông tin, báo cáo của nhà máy.
nữa , và nhà máy luôn phải chịu một chi phí rất cao cho các khoản nợ này .
Hơn nữa đối với nợ ngắn hạn luôn duy trì ở mức cao hơn rất nhiều so với nợ
dài hạn , điều này khiến cho tình hình tài chính của nhà máy luôn ở tình trạng
khó khăn , và thường xuyên phải đối mặt với những khó khăn về tài chính , về
những khoản nợ đến hạn phải trả . Nguyên nhân chính của vấn đề này là do
khi nhà máy kí hợp đồng với các đối tác thì sau khi nhà máy sản xuất và bán
hàng mới trả tiền cho khách hàng , hay sau một thời gian nào đó theo kí kết
chứ ít khi phải trả ngay cho khách hàng . Riêng đối với năm 2005, nguồn vốn
chủ sở hữu là thấp nhất trong 5 năm trở lại đây , nguyên nhân của vấn đề này
chính là do sự thay đổi cổ phần hoá của nhà máy và nó được tính dựa trên vốn
điều lệ ban đầu của các cổ đông .
Hình 1.7. Bảng tổng nợ của nhà máy qua một số năm:
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2003 2004 2005 2006 2007
Nợ ngắn hạn 1.000 57.485.000 61.769.000 61.008.000 61.543.001 47.273.000
Tốc độ tăng NGH % ... 7,45 - 1,13 0,88 - 23,19
Nợ dài hạn 1.000 18.265.001 16.372.000 17.552.000 17.564.001 16.122.000
Tốc độ tăng NDH % ... - 10,36 7,21 0,1 - 8,21
Nguồn vốn CSH 1.000 4.247.000 5.785.000 983.000 1.630.000 3.907.000
Tốc độ tăng NV
CSH
% ... 36,21 - 83 65,82 139,69
Tổng nợ/ NV CSH lần 17,84 13,5 83,75 48,53 16,23
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng nợ của nhà máy lúc nào cũng trên 70 tỷ đồng , riêng năm 2007 con
số có vẻ khả quan hơn . Tuy nhiên đó vẫn là mức nợ rất cao , hàng năm nhà
50.265.94
2
60.724.561
Lợi nhuận 1000 55.000 70.000 857.748 980.410 1.518.675
Nộpngân
sách
1000 45.000 80.000 95.000 100.000 105.000
Thu nhập bq đ/ng/thg 450.000 560.000 700.000 1.000.000 1.125.000
Có thể thấy trong 2 năm trở lại đây sản lượng cũng như các chỉ tiêu cho
thấy nhà máy đã có sự phát triển vượt bậc. Tuy vậy lợi nhuận hàng năm của
nhà máy vẫn không cao. Nguyên nhân của vấn đề này chính là do chi phí vẫn
quá cao. Chí phí cho các đầu vào là rất cao, điều này là do nhà máy sản xuất
giầy xuất khẩu, đòi hỏi chất lượng cao, cho lên chi phí cho nguyên liệu đầu
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vào cũng cao. Hơn nữa có thể thấy riêng năm 2007, lợi nhuận của nhà máy
cao hơn những năm trước rất nhiều. Điều này là do chính sách của nhà nước
khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại WTO, đã giảm bớt được rất
nhiều thuế xuất nhập khẩu, hàng năm nhà máy đã phải chi phí cho vấn đề này
rất lớn vì sản phẩm của nhà máy chủ yếu là xuất khẩu sang nước ngoài, và
nguyên vật liệu thì lại chủ yếu là nhập khẩu từ nước ngoài về.
Nộp ngân sách hàng năm của nhà máy cũng gia tăng nhưng thấp, điều
này cũng cho thấy hiệu quả kinh doanh của nhà máy chưa cao, chưa xứng với
tiềm năng có thể đạt được. Qua bảng trên có thể thấy được các chỉ số : lợi
nhuận/doanh thu, lợi nhuận/ chi phí hay doanh thu/ chi phí là rất thấp. Điều
này lại khẳng định rằng hiệu quả kinh doanh của nhà máy là rất thấp. Điểm
mấu chốt vẫn chính là chí phí của nhà máy quá lớn so với doanh thu.
Có thể thấy đời sống của cán bộ công nhân viên cũng đã được thay đổi,
cải thiện qua mức thu nhập bình quân của 1 người lao động. Nhưng so với các
Làm cơ sở để tính giá thành và cung cấp thông tin cần thiết để xây dựng
và đánh giá chính sách giá cả. Thông tin chi phí kinh doanh cho biết trong các
điều kiện thị trường xác định mức giá cả tối thiểu phải là bao nhiêu nếu doanh
nghiệp không muốn bị lỗ vốn và có thể chấp nhận được hay không? Đồng
thời xác định giới hạn trên của giá mua vào sao cho giảm thiểu chi phí kinh
doanh khi sử dụng các yếu tố đầu vào, cung cấp thông tin cần thiết để đưa ra
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính sách giá mua đầu vào, giá tính toán cho bán thành phẩm, sản phẩm dở
dang, công cụ tự chế, đây là cơ sở để lựa chọn quyết định tự sản xuất hay mua
ngoài,...
Làm cơ sở để kiểm tra tính hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn doanh
nghiệp, của từng bộ phận và cá nhân. Qua đó tìm cách phát triển, nâng cao
chất lượng của hoạt đọng sản xuất ở từng điểm chi phí.
Người ta có thể sử dụng nhiều cách phân loại và tính chi phí kinh doanh
cho doanh nghiệp của mình: Tính theo hao phí tự nhiên, theo phương pháp
tính, theo mức độ hoạt động, theo thời gian,... để phù hợp với mục đích và
thuận tiện cho việc phân loại, tập hợp và tính toán của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, ở nhà máy da giầy Thái Bình cũng như hầu hết các doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp đều tính chi phí kinh doanh
của doanh nghiệp mình bằng cách phân chia các loại chi phí kinh doanh phát
sinh trong doanh nghiệp thành ba nội dung chính hình thành lên giá thành sản
phẩm đó là:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung.
Tuy nhiên đối với phần nguyên vật liệu trực tiếp không được tính vào giá
thành sản phẩm của nhà máy, vì thực tế nhà máy hầu như không có quá trình
thu mua, cung ứng nguyên vật liệu, mà nguyên vật liệu được nhận, cấp phát,
doanh nghiệp da giầy có vị quan trọng, hơn nữa trong xu thế cạnh tranh về cả
các nguồn lực khan hiếm thì nó trở lên quan trọng hơn bao giờ hết. Do
nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong giá thành cho lên hoạt động
cung ứng nguyên vật liệu có hiệu quả sẽ góp phần rất quan trọng vào tăng
hiệu quả kinh doanh. Vì vậy hoạt động cung ứng nguyên vật liệu phải luôn
đảm bảo cung ứng đầy đủ, đúng chủng loại, số lượng và chất lượng các loại
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nguyên vật liệu ( hàng hoá ) cần thiết cho quá trình sản xuất ( tiêu thụ ) với
chi phí kinh doanh tối thiểu và làm thế nào để có thể dự trữ mọi loại nguyên
vật liệu cần thiết cho sản phẩm ở mức dự trữ tối ưu.
1.1.2. Hoạt động sử dụng nguyên vật liệu tại nhà máy.
Do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy thường chủ yếu
sản xuất theo đơn đặt hàng xuất khẩu và gia công, có thể nhận nguồn cung
ứng nguyên vật liệu từ chính bạn hàng cung cấp, từ công ty cổ phần giầy
Thăng Long cấp phát và nhà máy tự chủ thu mua. Tuy nhiên, chỉ ít những đơn
hàng sản xuất mà nhà máy phải cung ứng nguyên vật liệu, mà thường thì
khách hàng sẽ tự bỏ nguyên vật liệu ra, còn nhà máy chỉ cung ứng một số
nguyên vật liệu phụ, dễ thu mua. Do vậy hoạt động quản trị cung ứng nguyên
vật liệu của nhà máy cũng không quá phức tạp mà đơn giản hơn rất nhiều so
với các doanh nghiệp sản xuất trong ngành. Thường thì mỗi khi có đơn hàng
nhà máy mới tiến hành thu mua nguyên vật liệu về sản xuất chứ không có dự
trữ, bởi nhà máy chỉ sản xuất theo đơn hàng, sản xuất xong là xuất cho khách
hàng ngay. Vì thế, trong phần này, em chỉ trình bày cách tính và sử dụng
nguyên vật liệu của nhà máy để phục vụ cho sản xuất chứ không trình bày về
chi phí. Bởi thực tế, hầu hết các đơn hàng sản xuất của nhà máy thì nguyên
vật liệu chính để sản xuất đều do chính khách hàng cung cấp và trực tiếp quản
lý, giám sát cho lên trong giá thành mà nhà máy được tính không bao gồm
những chi phí nguyên vật liệu đó. Nhà máy chỉ phải chi phí những nguyên vật
vào định mức và hạn mức theo kế hoạch đã định. Đầu kỳ hàng tháng phải đối
chiếu song song giữa thủ kho và kế toán. Thủ kho trực tiếp phát theo yêu cầu
sản xuất cho từng phân xưởng.
Ngô Quang Dũng Lớp: Kinh doanh tổng hợp 46A
23