TRƯỜNG..........................
KHOA……………………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI
Một số biện pháp đẩy mạnh
hoạt động sản xuất kinh
doanh ở Công ty Hoá Chất -
Bộ Thương Mại
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
2
LỜI MỞ ĐẦU
Theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nền kinh tế
nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trong
điều kiện mới của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cần phải năng
động, nhạy bén mới có thể tồn tại và phát triển. Doanh nghiệp kinh doanh
tồn tại hay không là kết quả của hệ thống các chiến lược kinh doanh, chính
sách, biện pháp với các hoạt động cụ thể như: mua, bán, tồn kho, dự trữ, tổ
chức lao động, sử dụng vốn...
Chính vì vậy tôi chọn đề tài "Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động
sản xuất kinh doanh ở Công ty Hoá Chất - Bộ Thương Mại".Trong đề tài
này tôi xin trình bày một số vấn đề sau:
+ Kinh doanh hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại trong nền kinh
cỏc khon chi phớ kinh doanh khụng cn thit. Nn kinh t ngy nay l nn
kinh t th trng do vy khụng cú c quyn bỏn cng nh c quyn mua,
chớnh vỡ vy m cỏc doanh nghip phi cnh tranh vi nhau tiờu th c
hng hoỏ. Trong iu kin cnh tranh trờn th trng, vic thu hỳt khỏch
hng khụng phi l cụng vic cú th thc hin trong ớt ngy m nú l mt
cụng vic lõu di v bn b. Doanh nghip phi kinh doanh loi hng hoỏ
phự hp vi nhu cu v th hiu ca ngi tiờu dựng c khỏch hng
chp nhn. Mun lm c iu ny, doanh nghip phi khụng ngng nõng
cao cht lng sn phm, i mi mu mó cng nh tng cng cụng tỏc
bỏn hng. Li nhun v s kỡ vng vo nú ph thuc vo loi hng hoỏ v
cht lng hng hoỏ m doanh nghip kinh doanh. Ngoi ra, khi lng v
giỏ c hng hoỏ bỏn c, cung cu hng hoỏ trờn th trng, chi phớ v tc
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
4
độ tăng giảm chi phí kinh doanh,...cũng là những nhân tố quan trọng quyết
định đến sự thành bại của doanh nghiệp.
Công việc kinh doanh chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan, vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi, do vậy an toàn là mục tiêu
thứ hai mà doanh nghiệp cần quan tâm. Thị trường kinh doanh luôn có nhiều
biến động có thể gây rủi ro cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp, vì
vậy vấn đề bảo toàn nguồn vốn và duy trì hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải
có sự an toàn thông qua việc đa dạng hoá kinh doanh “trứng không cho hết
vào một giỏ”. Các quyết định kinh doanh phải được đưa ra nhanh, nhạy và
kịp thời nếu không cơ hội sẽ trôi qua nhưng các quyết định đó cũng cần phải
được cân nhắc mặt lợi, mặt hại. Chính vì vậy, bản lĩnh và khả năng nhìn xa
trông rộng của người lãn đạo hết sức quan trọng đối với sự sống còn của
doanh nghiệp.
Ngày nay, nền kinh tế thị trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Chính vì
điều đó mà các doanh nghiệp cần phải hoạch định chiến lược cho đúng đắn.
+ Quy luật “mua của người chán, bán cho người cần”. Nếu doanh nghiệp
thực hiện được điều này thì sẽ thu được lợi nhuận cao hơn vì người bán vì
muốn bán hàng nhanh sẽ chịu bán với giá thấp hơn còn người mua thì do
muốn có hàng hoá đó nên sẵn sàng trả cao hơn lúc bình thường.
2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
2.1 Doanh nghiệp thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường.
a) Doanh nghiệp thương mại và chức năng của nó.
Doanh nghiệp thương mại.
Quá trình phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất
đã nảy sinh nền sản xuất hàng hoá. Quá trìng sản xuất bao gồm: sản xuất,
trao đổi và tiêu dùng. Tiền tệ ra đời đã làm cho quá trình trao đổi mang hình
thái mới là lưu thông hàng hoá với hai thái cực là mua và bán. Thực hiện
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
6
chức năng lưu thông hàng hoá này là những thương nhân và như vậy thương
mại trở thầnh một lĩnh vực kinh doanh. Quy luật chi phối của hoạt động
thương mại là quy luật mua rẻ bán đắt. Tiền được dùng để mua hàng hoá rồi
sau đó bán lại với giá cao hơn, lợi nhuận chính là phần chênh lệch giữa giá
mua và giá bán.
Giữa thương mại và sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Doanh
nghiệp thương mại tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp sản xuất và doanh
nghiệp sản xuất sẽ nhường lại một phần lợi nhuận cho doanh nghiệp thương
mại.
Như vậy doanh nghiệp thương mại là một đơn vị kinh doanh được thành
lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực lưu thông hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận.
Chức năng của doanh nghiệp thương mại.
Doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá
nên có một số đặc điểm sau:
các nhiệm vụ sau:
- Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển sản phẩm trong nền kinh tế quốc dân, tổ
chức tốt khâu mua bán và đặc biệt giảm bớt khâu trung gian.
- Giảm chi phí kinh doanh và tăng lợi nhuận, đáp ứng tốt nhất mọi nhu
cầu của khách hàng.
- Đẩy mạnh phát triển các dịch vụ thương mại, thực hiện các hoạt động
tiếp tục sản xuất trong lưu thông như: vận tải, bảo quản, đóng gói, bao bì....
- Không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý kinh doanh.
- Thực hiện các ngiã vụ đối với nhà nước, xã hội và người lao động, có
trách nhiệm bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội trên phạm vi doanh nghiệp
và thực hiện tôt các vấn đề bảo vệ môi trường.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
8
2.2 Các hình thức kinh doanh thương mại.
a) Kinh doanh chuyên môn hoá.
Kinh doanh chuyên môn hóa tức là doanh nghiệp chỉ chuyên môn kinh
doanh một mặt hàng hay một nhóm hàng hóa nhất điịnh. Ví dụ như: xăng
dầu, lương thực.
Loại hình kinh doanh chuyên môn hóa có các ưu điểm sau:
- Nắm chắc được thông tin về người mua, ngưòi bán, giá cả,thị trường,
tình hình hàng hóa và dịch vụ nên có thể làm chủ được thị truờng để vưon
lên thành độc quyền trong kinh doanh.
- Trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao, có điều kiện để hiện đại hóa
các cơ sở vật chất kĩ thuật, đặc biệt là hệ thống cơ sở vật chất chuyên dùng
tạo lợi thế lớn trong cạnh tranh.
- Có khả năng đào tạo được những cán bộ quản lý,các chuyên gia và
nhân viên kinh doanh giỏi về cả chuyên môn và nghiệp vụ.
Bên cạnh những ưu điểm đó thì loại hình kinh doanh này cũng tồn tại
những nhược điểm sau:
nghiệp thương mại.
1. Xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh ở doanh nghiệp thương
mại.
a)Chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại
Một nhà doanh nghiệp kinh doanh thương mại có những đức tính cần
thiết và những am hiểu về kĩ năng quản trị kinh doanh vẫn chưa thể đưa
doanh nghiệp của mình dến với thành công nếu chưa đề ra được chiến lược
kinh doanh đúng đắn. Chiến lược kinh doanh thể hiện nội dung hoạt động,
mục tiêu và các giải pháp ứng xử của doanh nghiệp trên thị trường. Chiến
lược kinh doanh bao gồm một số nội dung chủ yếu sau:
+)Chiến lược quy mô kinh doanh và tích lũy tài sản vô hình.
Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp phải được xác định hợp lí trên cơ sở
tính toán đúng dung lượng thị trường, tiềm lực kinh doanh. Doanh nghiệp
phải xác định được điểm hòa vốn để tối ưu hóa quy mô kinh doanh.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
10
Mỗi doanh nghiệp đề có hai loại tài sản là: tài sản hữu hình và tài sản vô
hình.
Tài sản vô hình: tài sản vô hình đó là lòng tin của khách hàng với doanh
nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp, là hình ảnh quen thuộc và nổi tiếng
của nhãn hiệu, là các hiểu biết về thông tin khoa học kĩ thuật, là bầu không
khí làm việc trong nội bộ doanh nghiệp, là kĩ năng quản lí của ban lãnh đạo
doanh nghiệp.
Tài sản hữu hình: Tài sản hữu hình đó là những yếu tố vật chất có tính
định lượng như: nhà xưởng, vật tư, máy móc thiết bị.
Nhìn chung cả hai loại hình tài sản trên đều quan trọng đối với doanh nghiệp
và nếu xét về lâu dài thì tài sản vô hình có phần quan trọng hơn. Tài sản vô
hình là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại của doanh nghiệp trên thị trường. Nó
vụ của marketing trong doanh nghiệp thương mại là làm cho kinh doanh phù
hợp với nhu cầu tiêu dùng của thị trường và thông qua đó doanh nghiệp bán
được nhiều sản phẩm và thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Marketing thương mại trong các doanh nghiệp có vai trò hỗ trợ cho quá
trình kinh doanh, là vũ khí của nhà kinh doanh, làm cho công việc tiêu thụ
hàng hoá của doanh nghiệp dễ dàng hơn. Doanh nghiệp không chỉ bán được
nhiều hàng hoá hơn mà còn có thể mở rộng thị trường. Nhu cầu của khách
hàng được đáp ứng tốt hơn vì doanh nghiệp thông qua các biện pháp thăm
dò, khuyến mại, tìm hiểu sở thích người tiêu dùng để cải tiến chất lượng
hàng hoá, dịch vụ tốt hơn.
b) Kế hoạch kinh doanh hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại.
Trong doanh nghiệp thương mại, kế hoạch kinh doanh chính là kế hoạch
lưu chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
Lưu chuyển hàng hoá có những loại sau:
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
12
- Lưu chuyển hàng hoá là những tư liệu sản xuất, yếu tố đầu vào của các
doanh nghiệp sản xuất. Loại lưu chuyển này do các doanh nghiệp thương
mại vật tư đảm nhiệm.
- Lưu chuyển hàng hoá là nông sản do hệ thống các doanh nghiệp kinh
doanh lương thực đảm nhiệm.
- Lưu chuyển hàng hoá là các tư liệu tiêu dùng cá nhân do các doanh
nghiệp thương mại hàng tiêu dùng thực hiện.
- Lưu chuyển hàng hoá là các sản phẩm xuất nhập khẩu tham gia vào
thương mại quốc tế do các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đảm nhiệm.
Nhiệm vụ chủ yếu của hoạch định lưu chuyển hàng hoá:
- Đáp ứng kịp thời, tốt nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng,
chủng loại và thời gian giao hàng, tạo điều kiện phân phối hợp lí hàng hoá
và các kênh tiêu thụ.
Doanh nghiệp tính tổng mức bán hàng hóa theo công thức sau:
T
=
P
+ (
D
đk
–
D
ck
)
Trong đó:
T
: là tổng doanh số bán
P
: là lượng hàng hoá thu gom
D
đk
: là dự trữ hàng hoá đầu kì
D
ck
: là dự trữ hàng hoá cuối kì
Sau khi xác địng doanh số bán doanh nghiệp cần tính lượng hàng hoá
lưu chuyển thẳng. Lượng hàng hoá lưu chuyển thẳng tính bằng lượng hàng
hoá thu gom thẳng.
2. Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
thương mại.
động. Trong nền kinh tế thị trường nước ta, do tồn tại nhiều thành phần kinh
tế nên tồn tại nhiều hệ thống lợi ích khác nhau. Thực chất của việc huy động
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
15
sử dụng các thành phần kinh tế khác nhau chính là sự kết hợp hài hoà các lợi
ích. Nguyên tắc các bên cùng có lợi sẽ chi phối sự kết hợp hay chia rẽ hoạt
động kinh doanh giữa các doanh nghiệp.
Sử dụng đòn bẩy kinh tế là nội dung của phương pháp kinh tế. Các đòn
bẩy kinh tế như: tiền lương, tiền thưởng, giá cả, lợi nhuận, chi phí ...có tác
động rất lớn đến người lao động. Nó kích thích hay hạn chế động lực làm
việc của mỗi người. Các đòn bẩy kinh tế phải được sử dụng đồng bộ, bên
cạnh đó cần sử dụng các biện pháp hành chính như xử phạt và các trách
nhiệm về vất chất khác.
2.3 Phương pháp tuyên truyền giáo dục.
Phương pháp tuyên truyền giáo dục là các cáh tác đọng đén tinh thần và
năng lực chuyên môn của người lao động để nâng cao ý thức và hiệu quả
công tác.
Phương pháp tuyên truyền giáo dục bao gồm những nội dung chủ yếu
sau:
+ Tác động thông qua hệ thống thông tin đa chiều tới toàn bộ hệ thống
quản lí và người lao động. Hệ thống thông tin đa chiều có định hướng, chính
xác và tác động kịp thời sẽ có tác động kích thích chủ thể theo khuynh
hướng dự kiến. Qua hệ thống thông tin tác động đến tư tưởng người lao
động, nắm bắt và sửa chữa, uốn nắn các tư tưởng sai lạc, thiếu lành mạnh,
phát huy tinh thần trách nhiệm của người lao động.
+ Phương pháp tuyên truyền giáo dục thể hiện sự khen, chê rõ ràng, nêu
gương trước tập thể là cách quan trọng tác động gây sự chú ý và thuyết phục
người khác làm theo, xử phạt nghiêm minh để giữ vững kỉ cương và ngăn
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
17
Để có thể vạch ra những kế hoạch nhập hàng phù hợp với nhu cầu thị
trường thì ngườ lập kế hoạch phải hiểu rõ tình hình thị trường đầu ra và thị
trường đầu vào. Cần phải làm rõ quy luật lưu thông hàng hoá, đặc điểm mới
của xu thế tiêu dùng và tình hình biến động của cung và cầu trên thị trường.
Để thành công trong nhập hàng thì chúng ta phải lên kế hoạch nhập hàng
dựa trên các cơ sở khoa học gồm những nội dung sau:
- Nguyên tắc thu gom được, bán được và đảm bảo có lãi.
- Cơ cấu thu mua phải phù hợp với nhu cầu tiêu dùng như: mẫu mã,
chủng loại, kiểu dáng, quy cách...đồng thời phải chú ý đến hàng hoá
chủ lực theo nguyên tắc 8.2 trong kinh doanh (tức là đảm bảo thu
được 80% doanh thu từ 20% mặt hàng chủ lực). Vì vậy khi lập kế
hoạch mua hàng bao giờ cũng phải xác định hàng hoá chủ lực là
những hàng hoá nào.
- Số lượng hàng hoá thu gom: Về nguyên tắc thì số lượng hàng hoá thu
gom bao giờ cũng lớn hơn hoặc bằng số lượng hang hoá tiêu thụ theo
kế hoạch. Cụ thể là:
* Nếu nhập hàng theo lô, phải dưa trên cơ sở lượng hàng hoá có nhu cầu
trong thời gian nhất định. Căn cứ vào một số đặc điểm ta có thể xác định
được số lượng hàng hoá tối ưu cần nhập vào.
Nếu gọi C là tổng chi phí.
C1: là tổng chi phí mua hàng hoá một lần.
C2: là chi phí bảo quản một đơn vị hàng hoa trong một thời gian nhất
định.
D: là số lượng hàng hoá cần trong một đơn vị thời gian.
Q: là số lượng hàng hoá thu mua một lần.
Giả thiết rằng Q không thay đổi và số lượng hàng hoá lưu kho luôn bằng
Q/2 thì ta có:
*Bán hàng trong cơ chế thị trường
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
19
Trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh tồn tại trong hai khâu
mua và bán. Lợi nhuận trong thương mại được tạo ra do mua vào với giá
thấp và bán ra với giá cao. Hoạt động bán hàng trong thương mại tốt có thể
làm tăng tiền bán hàng hoá còn hoạt động mua hàng tốt thì có thể làm giảm
tiền mua hàng tức là làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Bán hàng là sự chuyển dịch hình thái gía trị của hàng hoá thành tiền
(H-T) nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị sử dụng nhất
định của hàng hoá.
Trong cơ chế thị trường, hoạt động bán hàng văn minh bao gồm những
nội dung sau:
+ Khối lượng và chất lượng hàng hoá dịch vụ tiêu thụ phải đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng.
+ Phải không ngừng cải tiến, thiết kế quầy hàng và các cơ sở kinh doanh.
Đối với các loại thiết bị công cụ bảo quản, trưng bày để bán, đảm bảo cho
khách hàng bao giờ cũng được phục vụ một cách tốt nhất, kết hợp bán hàng
với quảng cáo thúc đẩy việc bán hàng và tạo điều kiện cạnh tranh trên thị
trường.
+ Tổ chức tốt lao động bán hàng sao cho thời gian làm việc của nhân
viên bán hàng đạt hiệu quả cao.
+ Xây dựng thái độ bán hàng văn minh, lịch sự, tất cả vì khách hàng với
phương châm “Khách hàng là thượng đế”.
+ Nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp trong kinh doanh.
* Chuẩn bị và bổ xung hàng hoá
Hàng hoá trước khi đem bán phải được chuẩn bị kĩ lưỡng. Có như vậy
thì uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng ngày càng được nâng cao và
góp phần đẩy mạnh tốc độ bán hàng.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Th¬ng M¹i
21
+ Thăm dò giá của các đối thủ cạnh tranh để tránh tình trạng giá của
doanh nghiệp mình cao hơn nhiều so với giá của các doanh nghiệp khác.
+ Thăm dò khách hàng để biết mức giá mà khách hàng dễ chấp nhận.
Đối với kinh doanh thương mại thì giá bán là rất quan trọng vì nó quyết
định lượng hàng hoá bán được và qua đó quyết định doanh thu của doanh
nghiệp. Doanh thu bán hàng bao gồm ba phần:
+ Chi phí trực tiếp là chi phí cho việc bán toàn bộ hàng hoá, kể cả chi
phí vận tải.
+ Chi phí gián tiếp là chio phí để vận hành điểm kinh doanh như: lương,
thuế, điện thoại...
+ Lãi dự tính của doanh nghiệp.
Công ty Hoá Chất-Bộ Thương Mại tiến hành tính giá theo quy trình sau:
Giá bán = Giá mua + Thuế NK(nếu có) + Chi phí khác
Lãi bán hàng thường được xác đinh bằng % so với giá bán, việc tính lãi
bán hàng bình quân như sau:
Lãi bán hàng bình quân = Tiền bán hàng(chi phí trực tiếp)/Giá bán
Quy trình bán hàng:
Đây là hệ thống các thao tác kĩ thuật và các công việc phục vụ có liên
quan đến nhau trong quá trình bán hàng, được sắp xếp theo một trình tự nhất
định tuỳ thuộc vào sự khác nhau về phương thức bán, về đặc điểm nhu cầu
khách hàng.
Các thao tác kĩ thuật và các công việc phục vụ gồm có từ khâu tiếp
khách, tìm hiểu nhu cầu, giới thiệu hàng hoá đến thu tiền và giao hàng cho
23
Sau khi xác định được tổng lợi nhuận thì doanh nghiệp cần xác định tỉ
suất lợi nhuận để phân tích hiêụ quả kinh doanh.
Có ba cách tính tỉ suất lợi nhuận như sau:
Cách 1:
P1 = Tổng lợi nhuận * 100 / Vốn kinh doanh
Cách tính này cho ta biết 1 đồng vốn kinh doanh đem lại cho chúng ta
bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Cách 2:P2 =Tổng lợi nhuận * 100 / doanh số bán được
Cách tính này cho ta biết mỗi đồng doanh số bán ra đem lại cho chúng ta
bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Cách 3:P3 = Tổng lợi nhuận * 100 / Tổng chi phí kinh doanh
Cách tính này phản ánh hiệu quả chi phí. Nó cho biết một đồng chi phí
bỏ ra đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
III. Đặc điểm chung của kinh doanh hoá chất.
1. Đặc điểm của mặt hàng hoá chất
Mặt hàng hoá chất là một mặt hàng quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Trong đời sống mặt hàng hoá chất xuất hiện ở mọi nơi và đây là thứ
không thể thiếu trong các nhà máy sản xuất công nghiệp. Hoá chất là mặt
Công ty Hoá Chất – Bộ Thương Mại có tên giao dịch quốc tế là
CHEMCO có nguồn gốc ban đầu là trạm hoá chất thuộc công ty Ngũ Kim –
Bộ nội thương được thành lập tháng 6 năm 1958. Công ty có mạng lưới kinh
doanh, quy mô lớn, thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập, tự chủ về
tài chính, có tài khoản tại ngân hàng, được sử dụng con dấu theo thể thức nhà
nước quy định, hoạt động theo hiến pháp và pháp luật của nhà nước Việt
Nam.
Công ty đã có hệ thống cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh, hình thành
một đội ngũ can bộ có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Công ty
đã đảm nhiệm cung ứng vật tư hoá chất cho các ngành sản xuất và nhu cầu
nhân sinh với khối lượng lớn và ngày càng gia tăng.
Đến năm 1963 Công ty thuộc quyền quản lý của Cục bách hoá Ngũ Kim-
Bộ Nội Thương. Năm 1968 Cục Điện Máy Hoá Chất trực tiếp quản lý công
ty.
Ngày 22 tháng 12 năm 1971 theo quyết định số 81-số 821 VT/QĐ thành
lập Công ty Hoá Chất trực thuộc Tổng Công ty Hoá Chất Vật Liệu Điện Và
Dụng Cụ Cơ Khí. Sự chuyển đổi này là một bước ngoặt quan trọng, bắt đầu
từ đây Công ty có điều kiện thống nhất quản lý do cung ứng vật tư theo kế
hoạch cho các nhu cầu quốc phòng sản xuất, xây dựng cơ bản, nghiên cứu
khoa học kĩ thuật các khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Từ tháng 7 năm 1985 dến 30 tháng 10 năm 1990 sau khi giải thể tổ chức
liên hiệp Công ty Hoá Chất thuộc Tổng Công ty Hoá Chất Vật Liệu Điện
Và Dụng Cụ Cơ Khí – Bộ Vật Tư.
Tháng 9 năm 1991 đến tháng 9 năm 1994 Công ty Hoá Chất trực thuộc
Tổng Công ty Hoá Chất Vật Liệu Điện Và Dụng Cụ Cơ Khí-Bộ Thương
Mại. Từ tháng 10 năm 1994 đến nay, Công ty Hoá Chất trực thuộc Bộ
Thương Mại. Giai đoạn này công cuộc đổi mới đất nuớc diễn ra sôi động và