Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh
I. LỜI NÓI ĐẦU
Giáo dục thể chất là bộ phận quan trọng trong chương trình giáo dục ở
mọi quốc gia. Giáo dục thể chất góp phần làm phong phú các kỹ năng vận
động, hình thành kỹ xảo vận động cho học sinh. Nói cách khác giáo dục thể
chất trong trường học góp phần phát triển các tố chất vận động ( sức nhanh,
sức mạnh, sức bền, khéo léo, mền dẻo) và trang bị cho học sinh kỹ thuật của
các môn thể thao .
Tuy nhiên hiện nay do yêu cầu của việc đổi mới chương trình, khối lượng
các kỹ thuật thể thao cần trang bị cho học sinh rất nhiều, trong khi đó thời
lượng dành cho môn học lại rất hạn chế. Bên cạnh đó là sự khó khăn về cơ sở
vật chất thiết bị dạy học, thời tiết khí hậu làm cho việc hoàn thành nhiệm vụ
giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh môn học thể dục không đạt
kết quả mong muốn.
Với thời gian học 1 buổi/ tuần , khoảng cách giữa 2 buổi học là khá xa
( 7 ngày) thì việc học sinh quên các kỹ thuật đã học trong buổi học trước diễn
ra phổ biến. Khi trao đổi với các giáo viên bộ môn thể dục trường THPT Phú
Quốc tất cả đếu cho rằng nguyên nhân học sinh quên các kỹ thuật đã học là
do khoảng cách giữa 2 buổi học quá xa nhau, và học sinh không chịu ôn bài
trước khi đến lớp.
Như vậy giải pháp để khắc phục tình trạng trên chúng ta có thể tách riêng
2 tiết học thể dục thành 02 buổi khác nhau trong tuần. Tuy nhiên trong điều
kiện của trường để thực hiện điều đó là không đơn giản. Mặt khắc phục thứ
hai đó là nâng cao tính tự giác ôn tập bài ở nhà, ở mặt này khó khăn gặp phải
là những hiểu biết về kỹ thuật cũng như các bài tập của học sinh còn hạn chế
dẫn đến các em không biết tự ôn ra sao, các em không đánh giá được mức độ
hoàn thiện kỹ thuật của mình.
Câu hỏi đặt ra ở đây là: Làm thế nào để các em học sinh có thể tự ôn tập
các kỹ thuật thể thao tại nhà một cách có hệ thống đảm bảo tập đúng kỹ
thuật. Có một số hình thức để hướng dẫn các em tự tập luyện ở nhà đó là:
1
2
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh
Đối tượng ngiên cứu: Học sinh lớp 10 trường THPT Phú Quốc năm học
2008-2009 ( 2 lớp 10 A10 và 10 A 11).
Nội dung phạm vi ngiên cứu: Ngiên cứu việc học tập môn nhảy cao của HS
lớp 10.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận :
Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật thể thao, luôn tồn tại hai nhiệm vụ song
song đó là nhiệm vụ tổ chức tập luyện các kỹ thuật thể thao và nhiệm vụ
trang bị những kiến thức về kỹ thuật đó. Việc trang bị kiến thức của kỹ thuật
thể thao cho người tập giúp quá trình trình tập luyện hình thành kỹ thuật thể
thao diễn ra thuận lợi hơn. Khi người tập có những hiểu biết đúng đắn về kỹ
thuật thì trong quá trình tập luyện có thể tự điều chỉnh các hành vi vận động
cho phù hợp. Theo V. Plovsky “ Việc trang bị kiến thức thể thao cho vận
động viên trẻ là việc được làm trước và trong quá trình tập luyện kỹ thuật
đó”. Cũng theo V. Plovsky “ Cách thức để vận động viện nắm vững kiến
thức về kỹ thuật thể thao nhanh và bền vững nhất là làm cho họ có khả năng
tự đánh giá mức độ thực hiện kỹ thuật thông qua việc so sánh hiệu quả của
động tác đúng và động tác sai” ( Huấn luyện thể thao trẻ - tác giả V. Plovsky
– Nhà xuất bản thể dục thể thao – năm 1993)
Từ những phân tích trên tôi nhận thấy việc hướng dẫn các em học sinh tự ôn
tập theo hình thức tự tập các phần của động tác kỹ thuật theo hai cách thức :
cách thức chuẩn và cách thức sai lầm để các em tự so sách đánh giá rút ra kỹ
thuật đúng là việc làm cần thiết. Đó cúng chính là cơ sở lý luận của đề tài
SKKN của tôi.
2. Thực trạng tình hình giảng dạy môn nhảy cao lớp 10 ở trường THPT
Phú Quốc:
Môn nhảy cao có thời lượng 8 tiết ( 4 buổi) học kỹ thuật nhảy cao nằm
nghiêng. Đây là kỹ thuật các em HS lớp 10 bắt đầu học, có một số đặc điểm
đó phần lớn phụ thuộc vào kết quả học tại lớp.
cao của cơ thể khi qua xà.
Để có cơ sở khẳng định nhận xét trên tôi tiến hành thăm dò ý kiến của học
sinh về việc tự ôn tập các nội dung môn thể dục tại nhà đối với HS 4 lớp A1.
A2, A3. A4 năm học 2007-2008, nội dung phiếu thăm dò như sau:
4
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh
Trong học kỳ II năm học này việc ôn tập ở nhà các nội dung môn thể dục của
em như thế nào? Em hãy đánh dấu X vào ô tương ứng trong bảng sau:
Phiếu số 1:
Mật độ ôn tập
Thường
xuyên
Tập không
đều
Tập ít Không tập
Nhảy cao
Thể dục nhịp điệu
Đẩy tạ
Chạy bền
Đá cầu
Sau khi thống kê phiếu số 1 kết quả được trình bày ở bảng 2:
Bảng 2: Kết quả thăm dó ý kiến về việc tự ôn tập các nội dung môn thể dục
tại nhà đối với HS lớp 10 năm học 2007-2008. n=168
Mật độ ôn tập
Thường
xuyên
Tập không
đều
Tập ít Không tập
III. GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ
Từ những thực trạng và khó khăn trên để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn
nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh khối 10, biện pháp đưa ra phải nâng cao
hiệu quả ôn tập tại nhà của HS.
Thời lượng học môn nhảy cao khối 10 được giảng dạy trong 4 tuần ( 8 tiết)
- Tuần 1 : Học các động tác bổ trợ giậm nhảy , đá lăng
- Tuần 2 : Học kỹ thuật chạy đà, kết hợp giậm nhảy, đà lăng
- Tuần 3: Học kỹ thuật qua xà, tiếp nệm, phối hợp các giai đoạn
- Tuần 4 : Hoàn thiện kỹ thuật và kiểm tra
Dựa trên phân phối nội dung giảng dạy trên tôi đã đưa ra các phiếu hỏi có
nội dung phù hợp cho từng tuần. Các phiếu hỏi được phát cho học sinh 02
lớp A9 và A11 trường THPT Phú Quốc năm học 2008-2009 n =75 ( nữ 29,
nam 46) tôi gọi là đối tượng thực nghiệm ( NTN). Để có cơ sở so sánh tôi
lấy HS 02 lớp A8. A10 làm đối tượng đối chiếu (NĐC) có n =77 ( nữ 28 ,
nam 49 )
6
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh
Để đảm bảo tính khách quan tơi tiến hành kiểm tra ban đầu 02 nhóm thực
nghiệm và đối chiếu nội dung nhảy cao bước qua ( học ở cấp THCS) và điểm
TBHKI mơn thể dục năm 2008-2009. Kết quả được trình bày ở bảng 3
Bảng 3: Kết quả so sánh 2 nhóm thực nhiệm và đối chiếu:
NỘI
Nhóm Nhóm Thực Nghiệm (n=75) Nhóm Đối Chiếu (n=77)
Mức
độ
Đạt kỹ
thuật A
Đạt kỹ
thuật
B
86.8
%
0% 0% 18.
3%
81.7
%
ĐTB
HKI
6.67 6,54
Từ kết quả bảng 3 cho thấy khơng có sự khác biệt giữa 2 nhóm thực nghiệm
và đối chiếu: Cụ thể kỹ thuật nhảy cao:
KTA: NTN = 0 , NĐC=0
KTB : NTN = 16, NĐC=17
KTC : NTN = 17, NĐC=21
KTD : NTN = 42, NĐC=39
Điểm TB học kỳ I là NTN=6,67 và NĐC=6,54 ( NTN=101,8 % NĐC)
Sau khi kiểm tra kết quả ban đầu của 2 nhóm TN và ĐC tơi tiến hành phát
phiếu hỏi cho đối tượng nhóm thực nghiệm. Các phiếu hỏi được phát ra căn
cứ vào nội dung từng buổi học trước và sau đó, và căn cứ vào những sai sót
thường gặp của HS. Thời điểm phát phiếu hỏi vào cuối các buổi học – thời
lượng 7-10 phút ( phần củng cố dặn dò), thời điểm thu phiếu vào đầu các tiết
học sau đó thời lượng 10-15 phút ( phần trả bài). Tiến trình thực nghiệm như
sau:
7
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh
* Sau buổi học thứ nhất ( học các động tác bổ trợ chạy đà, bổ trợ giậm
nhảy, bổ trợ đá lăng): Tôi tiến hành phát phiếu 1:
Phiếu 1: Em hãy đặt 1 vật thấp từ 30-50cm và chạy 4-6 bước đà và nhảy
qua. Em hãy thực hiện theo 2 cách:
- Cách 1: Chạy nhanh ngay từ đầu và nhảy qua
Thực hiện như trên giúp cơ thể vươn cao hơn không đánh lăng
Thực hiện như trên làm cơ thể tụt thấp hơn không đánh lăng
Phiếu 3 : Định hướng cho học sinh thói quen khi giậm nhảy phải kết hợp đá
lăng và lăng tay tích cực.
Vào đầu tiết học 4 tôi tiến hành thu phiếu. sau khi tổng hợp phiếu kết quả có
66/72 phiếu trả lời phương án 1 (phương án đúng) chiếm 86%.)
Tôi cũng tiến hành kiểm tra thực tế 10 HS thực hiện động tác trên kết quả đạt
điểm TB= 6,7
Cũng vào đầu tiết học này tôi phát phiếu 4
Phiếu 4 : Sau Khi giậm nhảy em hãy chủ động giữ cho đầu thẳng mắt
nhìn cao. Em rút ra nhận xét nào sau đây:
Thực hiện như trên giúp thân không xaoy quá sớm
Thực hiện như trên làm cơ thể xoay sớm
Phiếu 4 hướng dẫn cho các em biện pháp khắc phục sai lầm xoay thân sớm
sau giậm nhảy.
Vào đầu tiết học 4 tôi tiến hành thu phiếu. sau khi tổng hợp phiếu kết quả có
74/74 phiếu trả lời phương án 1 (phương án đúng) chiếm 100%.)
Để có cách nhìn tổng quát tôi đã tổng hợp kết quả phát phiếu phiếu hỏi:
9
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh
Bảng 4. Kết quả tổng hợp q trình phát phiếu hỏi
Tổng số phiếu
phát ra
Tổng số phiếu thu
vào
Tổng số phiếu lựa
chọn phương án
đúng
Điểm kiểm tra
thực hiện các kỹ
thuật
A
Đạt
kỹ
thuật
B
Đạt
kỹ
thuật
C
Đạt
kỹ
thuật
D
Số
lượng
36 31 7 1 19 37 11 10
Tỉ lệ
48% 41,3
%
9,3
%
1,4
%
25,7% 47,6
%
14.3
%
12,4
%
x
∑
1,27 m
1,25m
10
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh
Nữ
Mức độ
>
1,10
m
>
1,0m
>
0.9m
<
0.9m
>
1,10
m
>
1,0m
>
0.9m
<
0.9m
Số lượng 7 16 5 1 5 12 9 2
TB
x
δ
2
=
n
1
∑
(x-
x
)
2
Sự khác biệt
A =
δ
B
n
x
A
-
δ
A
n
x
B
NTN
(n=75)
7,25 0,24
0.41
p<0.05
NĐC
(n=77)