SKKN Nâng cao hiệu quả tiết dạy nói tiếng anh cho học sinh lớp 8 và 9 - Pdf 24



Trang 1
Tên Đề Tài: “ Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Dạy Nói Tiếng Anh Cho
Học Sinh Lớp 8,9 ”
A-MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển vượt bậc trên
nhiều lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật, và nhất là điều
kiện hội nhập kinh tế thế giới. Cùng với sự phát triển ấy, quan hệ quốc tế được
mở rộng, tiếng Anh đóng vai trò hết sức quan trọng, và việc sử dụng thành
thạo tiếng Anh trở thành một nhu cầu rất cần thiết cho mọi người.
Trong những năm gần đây môn Tiếng Anh đã trở thành một môn học
bắt buộc ở các trường phổ thông. Ở trường học sinh được luyện tập kết hợp cả
4 kỹ năng: Nghe – Nói - Đọc –Viết, nhằm đạt mục đích cuối cùng là biết sử
dụng thành thạo các hệ thống cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm …trong
giao tiếp với người khác ở mức độ cơ bản nhất. Để đáp ứng được mục tiêu
giáo dục nêu trên, việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu giúp cho học sinh luyện
tập hiệu quả kỹ năng nói tiếng Anh trong nhà trường nói chung và học sinh
hai khối 8,9 nói riêng là hết sức cần thiết. Điều này không những giúp cho các
em được dễ dàng trong những chương trình học cao hơn mà còn hình thành
thói quen tự nhiên, tự tin khi sử dụng tiếng Anh giao tiếp trong công việc và
cuộc sống hiện đại .
Xuất phát từ nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng nói, và một số
kinh nghiệm đúc kết của bản thân trong thời gian giảng dạy qua, tôi mạnh dạn
viết sáng kiến có tên gọi “ Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Dạy Nói Tiếng Anh Cho
Học Sinh Lớp 8,9” nhằm góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất
lượng giảng dạy.
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới:
Qua thực tế giảng dạy và nhiều tiết dự giờ đồng nghiệp, bản thân tôi
gặp phải một số thuận lợi và khó khăn lớn khi giảng dạy tiết Speaking cho học

học sinh tâm lí chủ quan, không nhiệt tình đối với giờ học nói.
- Vốn từ vựng còn hạn chế nên gặp khó khăn khi diễn đạt, cùng với tâm
lí ngại nói, sợ người khác biết lỗi sai của mình nên không phát biểu. Trang 3
- Các em sống ở vùng nông thôn, điều kiện tiếp xúc với các phương tiện
hiện đại cũng như giao tiếp với người nói tiếng Anh không nhiều nên khi
luyện nói các em còn gặp lúng túng về kiến thức xã hội liên quan đến chủ đề.
1.2.2. Về phía giáo viên:
- Một số giờ dạy nói đôi khi chưa hiệu quả là do giáo viên còn chủ quan
không đầu tư, chưa khai thác rõ trọng tâm bài, làm cho nội dung luyện tập còn
trừu tượng, gây cho học sinh khó hiểu bài.
- Nhiều giáo viên còn ngại khó không sử dụng đồ dùng dạy học hoặc
chưa phát huy hết hiệu quả của đồ dùng dạy học, không ứng dụng công nghệ
thông tin, ít sử dụng các kỹ thuật dạy học mới, thiết kế các hoạt động cho học
sinh thực hành một cách áp đặt, hoặc quá đơn điệu không lôi cuốn được học
sinh tham gia.
- Một số giáo viên còn quá nghiêm khắc, tạo cho học sinh tâm lí sợ, tiết
học căng thẳng, học sinh không yêu thích môn học, tiết học.
1.2.3. Về phía chƣơng trình, nội dung:
- Hầu hết chương trình tiếng Anh lớp 8,9 phần Speaking và Listening
được ghép dạy trong một tiết nên nội dung kiến thức rất dài và nặng cho học
sinh. Trong tiết này nếu người giáo viên không có sự chuẩn bị kỹ, không thiết
kế các hoạt động dạy học một cách khoa học thì sẽ khó khắc sâu kiến thức cho
học sinh, hoặc sẽ không đủ thời gian để thực hiện hết các nội dung yêu cầu .
- Bên cạnh nhiều tiết Speaking có nội dung phù hợp, gần gủi với cuộc
sống hằng ngày, thì còn một số bài nội dung khó, các bài tập luyện nói chưa
phù hợp với trình độ học sinh, đòi hỏi người giáo viên cần có những bổ sung,
hoặc thiết kế lại các bài tập giúp học sinh luyện tập dễ dàng hơn và thành công

ra những con người có khả năng nói tiếng Anh tốt, việc giảng dạy môn Tiếng
Anh có nhiều đổi mới đáng kể về nội dung và phương pháp giảng dạy. Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo biên soạn sách giáo khoa theo chiều hướng
giao tiếp, rèn luyện phối hợp cả 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh.
Trong đó kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp được coi là một trong những kỹ năng
quan trọng nhất.
- Để có được tiết dạy kỹ năng nói thành công bên cạnh người giáo viên Trang 5
chịu khó đầu tư nghiên cứu, tích cực đổi mới phương pháp, vận dụng các thủ
thuật dạy học mới, phát huy tính ưu việt của đồ dùng dạy học, ứng dụng công
nghệ thông tin, thiết kế các hoạt động phù hợp với trình độ học sinh …thì đòi
hỏi người học sinh cần có nhận thức đúng đắn đối với môn học. Người học
sinh đóng vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động, nên cần phải tự giác tham gia
hoạt động tích cực trong giờ học như chú ý nghe giảng, thảo luận nhóm, cặp
sôi nổi, phát biểu xây dựng bài, mạnh dạn, tự tin và sáng tạo đưa ra ý tưởng
của mình chứ không thụ động ngồi chờ kết quả từ người khác. Bên cạnh đó
các em phải biết kiên nhẫn luyện nói tiếng Anh thường xuyên không những
trong tiết Speaking mà có thể trong các tiết học khác trong lớp, hay trong các
hoạt động vui chơi sau giờ học để tạo nên môi trường giao tiếp tiếng Anh.
Điều này giúp cho học sinh phát triển kỹ năng nói một cách tự nhiên, và lưu
loát khi giao tiếp.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
-Tuy nhiên bộ môn Tiếng Anh là một bộ môn tương đối mới và khó cho
học sinh trong việc tiếp thu kiến thức, nhất là biết cách sử dụng hệ thống từ
vựng, ngữ pháp, ngữ âm…để nói một cách lưu loát. Vì thế trong tiết học nói,
học sinh thường bị động, không tham gia, lớp học rất trầm, việc luyện nói
chưa đạt được hiệu quả.
- Từ những thực tế nêu trên, bản thân tôi luôn trăn trở suy nghĩ để tìm ra
Trang 7
B. NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU
Việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường là nhằm mục đích cuối
cùng giúp học sinh có thể dùng tiếng Anh để giao tiếp tốt với người khác. Vì
vậy việc dạy hiệu quả tiết Speaking cho học sinh nói chung và học sinh khối
8,9 nói riêng là nhiệm vụ quan tâm hàng đầu của người giáo viên nhằm cung
cấp cho các em có được những kiến thức và những kỹ năng cơ nhất trong quá
trình giao tiếp.
Nhiệm vụ chính của đề tài này là đưa ra một số giải pháp cụ thể giúp
cho tiết dạy nói tiếng Anh lớp 8,9 được thực hiện một cách dễ dàng hơn, sinh
động hơn, lôi cuốn nhiều đối tượng học sinh tham gia sôi nổi và đạt hiệu quả
cao hơn. Tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Phân tích thực trạng việc dạy tiết Speaking trước khi vận dụng đề tài.
- Phân tích những điểm mới, điểm sáng của giải pháp mới có thể áp
dụng thay thế cho phương pháp cũ thông qua những ví dụ và nhận xét về
những công việc giáo viên cần :
+ Nghiên cứu chuẩn bị trước khi dạy.
+ Thực hiện tốt các bước dạy của tiết Speaking trên lớp.

được thiết kế theo từng tiết dạy kỹ năng riêng rất cụ thể. Tuy nhiên còn có một
số bài tập trong phần Speaking nội dung chưa thực sự phù hợp, còn khó. Nếu
giáo viên không chịu khó đầu tư, bỏ ra công sức để điều chỉnh, hoặc thiết kế
lại, mà cứng nhắc vận dụng theo sách giáo khoa, thì hiệu quả tiết dạy không
cao.
* MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA:
Ví dụ 1: (Unit 2, English 9) Phần Speaking sách giáo khoa yêu cầu 3 bài tập:
Bài tập a) Match the phrases to the pictures.
1. a colorful T-shirt. 4. a short-sleeved blouse. 7. baggy pants.
2. a plaid skirt . 5. a sleeveless sweater. 8. faded jeans.
3. a plain suit. 6. a striped shirt. 9. blue shorts. Trang 9

a b
c
d
g
f
e
h
i

Bài tập b) Work in small groups. Write two more questions for the last section
of this survey about students’wear. Then interview members of another group.
The words in section a) may help you.

Casual clothes : What do you usually wear on the weekend?
Why do you wear these clothes?

m/ a polka dot skirt
n/ a waistcoat
o/ tracksuit bottoms
p/ a dress
+ Đồng thời để học sinh trả lời câu hỏi Why trong bài tập b dễ dàng
hơn, trước khi yêu cầu học sinh làm bài tập b tôi thêm hoạt động sau:
Cho học sinh thảo luận theo cặp và tìm ra các tính từ phù hợp cho mỗi
loại trang phục trên.
Ví dụ: Jeans are modern/ strong/ fashionable/ beautiful…
A colorful T-shirt is simple/ cheap/comfortable/ convenient…
+ Ngoài ra tôi thiết kế lại bài tập b trong sách giáo khoa đơn giản hơn:
Work in small groups. Ask and answer following questions. Then
interview members of another group. The words in section a may help
you. Trang 11
1.What do you usually wear on the weekend/ on Tet holidays/ at the party/
at the wedding ? Why?
2.What is your school uniform? Do you like it? Why or why not?
3.What kinds of clothes do you like best? Why?
Nhận xét: - Việc thiết kế lại kênh hình, bổ sung những danh từ về các loại
trang phục thường gặp như trên giúp học sinh có vốn từ vựng phong phú để
luyện nói.
- Hoạt động tìm ra các tính từ liên quan đến các loại trang phục trước
khi luyện nói giúp học sinh có nhiều lí do để trả lời câu hỏi Why.
- Bảng câu hỏi được thiết kế lại gọn về cấu trúc giúp học sinh dễ nhớ,
dễ vận dụng.
Ví dụ 2: (Unit 7-English 8) Phần Speaking sách giáo khoa gồm 2 bài tập:
Bài 1 : Practice the dialogue with a partner.


Trang 12
Surface mail
Airmail
Item
Weight
Charges(VND)
Item
Weight
Charges(VND)
Letter
20g
800
Letter
15g
1,200
Postcard
25g
800
Postcard
15g
1,200
Parcel
5kg
19,200
Parcel
2kg
13,000

- Đối với bài tập này, sau khi giới thiệu từ vựng, cấu trúc ,và hội thoại
Trang 13
Item
Destination
Weight
Surface mail
Charges(VND)
Airmail
Charges(VND)
Letter
Kon Tum
20g
800

Postcard
Ho Chi Minh
15g

1,200
Parcel
Ca Mau
2kg

13,000
Parcel
Buon Ma Thuột
5kg
19,200


Ca Mau
2kg
7,680
13,000
Parcel
Buon MaThuột
5kg
19,200
32,500
Nhận xét: Cách thiết kế 1 có nội dung ngắn gọn, dễ nhớ không đòi hỏi khả
năng tư duy cao, phù hợp cho lớp dạy có nhiều đối tượng học sinh trung bình,
yếu. Trong khi đó cách thiết kế 2 tuy nội dung rõ ràng cụ thể dễ áp dụng
nhưng dài, đòi hỏi khả năng nhớ và tư duy cao hơn nên tôi đã áp dụng trong
lớp có nhiều học sinh khá giỏi và đạt được những thành công sau:
Clerk : Next, please!
Mrs.Kim: I want to send this parcel to Quy Nhon.
Clerk : Do you want to send it airmail or surface mail?
Mrs.Kim: I’m not sure. How much is airmail?
Clerk : I’ll have to weigh the parcel first.
Mmm. Five kilograms. That’ll be 32,500dong.
Mrs.Kim: Oh! That’s expensive. How much is surface mail ?
Clerk : It’s only 19,200 dong.
Mrs.Kim: That’s better. I’ll send it surface.
Clerk : All right.

Trang 14
- Bài tập số 2 được giảm độ khó đáng kể.

+ Sau khi ôn lại cấu trúc so sánh hơn của tính từ, tôi yêu cầu học sinh
chuyển các tính từ cần luyện tập sang hình thức so sánh hơn.
Ngắn vần: Adj ngắn +er / Dài vần: more +Adj dài
Tính từ hai vần tận cùng bằng y ier
Tall - taller
Fresh - fresher
Busy - busier
Noisy - noisier
Beautiful - more beautiful
Modern - more modern
Expensive - more expensive .
+ Thiết kế lại bài tập 1 bằng cách bổ sung thêm cột danh từ vào bài tập
giúp học sinh dễ thực hành .
Bài 1: Work with a partner. Look at the two pictures and use nouns and
adjectives in the box suitablely to talk about the changes of the town as
examples

Nouns Adjectives
Means of transport expensive
Buildings tall
Town beautiful
Streets noisy
Food busy
Houses fresh
Air modern Trang 16
Ex : The town is becoming/getting busier.
Nhận xét: - Hoạt động ghép các cụm từ với từng tranh được thêm vào nhằm

US$2,000
Seattle School of English - USA
*Stay with Vietnamese friends.
*experience Western culture
* Seven weeks

Approximately
US$1,700
Brisbane Institute of
English - Australia
* Stay with an Australia
family.
*quite close to Viet Nam
* Beautiful scenery
* Seven weeks

Approximately
US$1,200 Trang 17
Ex:

- Đối với bài tập này nếu chúng ta chỉ giới thiệu từ vựng, cấu trúc và ví
dụ mẫu rồi qua bước Controlled-practice thì học sinh sẽ gặp phải những khó
khăn sau:
+ Hạn chế về kiến thức xã hội liên quan đến 3 trường trên.

advantages
disadvantages
* Live in a
dormitory on
campus.
* School has
excellent
reputation
* Six weeks

Approximately
US$2,000
*expensive
*have no
chance to
know much
about native
family.
* Stay with
Vietnamese
friends.
* experience
Western
culture
*Seven weeks

Approximately
US$1,700
*can’t
practice

A: I think we should go to the Seattle School of English in the USA. We
can stay with Vietnamese friends.
B: That’s a good idea. And if we go there, we can learn a lot about
Western culture.
Mẫu 2: (Disagree).
A: I think we should go to the Seattle School of English in the USA. We
can stay with Vietnamese friends.
B: I disagree with you because we can’t practice speaking English with
native speakers. Why don’t we go to the Brisbane Institute of English in the
Australia? We can live with an Australian family.
A:…………………………………
Nhận xét: Khi thiết kế bài tập như trên tôi đạt được những thành công sau: Trang 19
- Học sinh dễ luyện tập các mẫu câu đề nghị.
- Có thêm thông tin để đưa ra lí do của mình và làm cho ý tưởng có
tính thuyết phục cao hơn.
- Luyện tập theo cặp giúp học sinh tập trung và thực hiện dễ dàng hơn.
1.1.2. Học sinh.
- Cần có thái độ đúng đắng đối với việc học, coi học tập là nhiệm vụ
hàng đầu của người học sinh.
- Cần có thời gian biểu học ở nhà rõ ràng, cần thực hiện theo câu nói
“ chưa thuộc bài chưa đi ngủ, chưa làm bài cũ chưa đến lớp”.
- Sau khi hoàn thành nhiệm vụ của bài cũ, để tham gia hoạt động hiệu
quả cho tiết học hôm sau đòi hỏi người học sinh phải soạn bài, chuẩn bị bài
mới bằng các việc làm cụ thể như: tra từ mới, đọc trước bài học, tìm tòi một
số tranh ảnh, hoạt động , tham khảo tài liệu trên mạng …có liên quan đến bài
sắp học. Đồng thời nếu đọc trong bài mới có liên quan đến kiến thức cũ đã
học thì học sinh phải biết tự ôn lại để trau dồi kiến thức cho mình.

khéo léo đưa học sinh hướng về đề tài cần dạy thông qua một số trò chơi hay
các hoạt động dạy học như: crosswords, asking questions, using pictures,
guessing games, Kim’s game, networks, jumbled words, wordsquare, miming,
Bingo, hoặc kỹ thuật dạy học mới mindmap …
- Đặc biệt giáo viên cần chú ý chủ động hướng học sinh về đề tài một
cách nhanh gọn, và hoạt động mà giáo viên đưa ra trong phần Lead in cần có
mối liên quan giữa kiến thức cũ đã học và kiến thức chuẩn bị học.
- Giáo viên cần đa dạng hóa các hoạt động vào bài ở những tiết khác
nhau để cuốn hút sự chú ý của học sinh cũng như tránh sự nhàm chán.
* MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA CHO BƢỚC LEAD IN:
Ví dụ 1: (Unit 3- English 9): Tôi thực hiện bước Lead in vào tiết Speaking
với chủ đề làm một số lời đề nghị về cách tiết kiệm năng lượng bằng hoạt
động crosswords như sau:
+ Chia lớp làm 2 đội, thi giải ô chữ như hình vẽ.
+ Đại diện mỗi đội lần lượt chọn 1 số tương ứng với 1 từ. Khi học sinh
chọn số, giáo viên trình chiếu tranh tương ứng lên bảng (có thể dùng bảng phụ Trang 21
hoặc ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện trò chơi này)

A B
1

3

4



7


10 A B 3
T
E
L
E
V
I
S
I
O
N
4
E
L
E
C

I
R
C
O
N
D
I
T
I
O
N
E
R
7
M
O
T
O
R
B
I
K
E


T 10
B
I
C
Y
C
L
E


+ Cho học sinh treo sản phẩm lên bảng và cử đại diện lên thuyết trình.
+ Nhóm nào vẽ đẹp, chính xác, thuyết trình hay thì nhóm đó thắng. Trang 23 + Cuối cùng tôi trình chiếu từng nhánh 1 của sơ đồ gợi ý hoàn chỉnh.
1.2.2. Bƣớc Pre-practice :
Sau khi đã lôi cuốn được tất cả các đối tượng học sinh vào chủ đề cần
học, trong bước Pre-practice này người giáo viên cần thực hiện tốt các công
việc sau:
+ Tổ chức các trò chơi, các hoạt động dạy theo phương pháp mới hoặc
áp dụng các kỹ thuật dạy học mới để giúp học sinh ôn lại từ và có thể dùng
tranh ảnh, vật thật để cung cấp thêm vốn từ vựng, cấu trúc ngữ pháp cần thiết
liên quan trong bài để các em luyện nói .
+ Làm ví dụ mẫu, hoặc giới thiệu hội thoại mẫu trong sách giáo khoa,
hay bài tập đã được mình thiết kế lại để cho học sinh chuẩn bị luyện tập.
+ Tùy theo từng nội dung tiết dạy và hướng khai thác bài mà giáo viên
đã chuẩn bị như đã nêu trên, trong phần này giáo viên có thể chẻ nhỏ vấn đề
thành nhiều bước để dễ thực hiện. Trang 24
+ Đưa ra các yêu cầu một cách cụ thể, rõ ràng và chú ý kèm theo thời
gian yêu cầu các em kết thúc hoạt động.
Ví dụ: Unit 3-English 8. Để học sinh luyện nói mô tả vị trí của đồ vật trong
nhà bếp như hình vẽ SGK trang 28, tôi thực hiện bước Pre-practice như sau:
+ Giúp học sinh ôn lại các danh từ chỉ đồ vật ở nhà bếp thông qua trò
chơi Kim’s Games. Cho học sinh quan sát tranh, yêu cầu các em cố gắng nhớ

chúng ta có thể tổ chức cho các em thảo luận, luyện nói theo cặp hoặc nhóm
cho phù hợp. Thông thường giáo viên tiến hành hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Cho học sinh tự luyện nói theo cặp, nhóm hoặc đi phỏng
vấn các bạn khác nhóm. Giáo viên quan sát, đôn đốc, giúp đỡ…
+ Giai đoạn 2: Yêu cầu học sinh luyện nói trước lớp, có kiểm soát sửa
sai của giáo viên.
- Trong quá trình tổ chức cho học sinh luyện nói giáo viên cần lưu ý:
+ Bao quát tất cả các đối tượng học sinh tham gia, tránh trường hợp chỉ
học sinh khá giỏi làm việc, còn học sinh yếu kém không tham gia.
+ Động viên khuyến khích các nhóm sử dụng tiếng Anh, chú ý ngữ
điệu, và tránh lạm dụng tiếng mẹ đẻ.
+ Khi cho học sinh thực hành trước lớp nên cho học sinh khá giỏi thực
hành trước làm mẫu để các nhóm còn lại có cơ hội học hỏi .
+ Không nên quá nghiêm khắc khi học sinh gây ra lỗi, mà nên coi đây
là cơ hội để sửa sai, cung cấp thêm kiến thức cho học sinh. Khi có một số từ
khó các em có thể nói bằng tiếng Việt sau đó giáo viên giúp đỡ.
+ Khi học sinh mắc lỗi sai, giáo viên không nên ngắt lời ngay để sửa
mà cần chờ các em nói xong mới sửa, vì ngắt lời sẽ khiến học sinh mất tự tin,
ngại nói và mất tập trung vào ý tưởng câu nói.
+ Khi đối tượng học sinh yếu kém gặp khó khăn lúc nói, giáo viên cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status