MỤC LỤC
Nội dung
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................
2
1. Lí do chọn đề tài :.................................................................................
2
2. Mục đích nghiên cứu :...........................................................................
3
3. Đối tượng nghiên cứu:...........................................................................
3
4. Phương pháp nghiên cứu :.....................................................................
3
II. NỘI DUNG...........................................................................................
4
1. Cơ sở lí luận ..........................................................................................
Các
biện
pháp
nghị ...............................................................................................
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lí do chọn đề tài
Chương trình Tiếng Việt tiểu học phát huy bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Dạy học tiếng Việt trong trường Tiểu học nói chung và dạy phân môn Tập làm văn
nói riêng là một vấn đề vô cùng quan trọng. Tập làm văn là phân môn mang tính
chất tổng hợp, sáng tạo cao nhất của tất cả các phân môn Tiếng Việt khác ở bậc
Tiểu học: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu. Ở chương trình Tập làm
văn lớp 4, các loại bài làm văn đều gắn với các chủ điểm. Quá trình thực hiện các
kỹ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, cách sử dụng các hình ảnh trong khi viết văn
là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ điểm đã học.
Khi chấm bài Tập làm văn, tôi thấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả
thành văn kể, liệt kê một cách khô khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà, tối
nghĩa, câu văn chỉ mang tính chất thông báo chứ chưa có hình ảnh, chưa có cảm
xúc. Bởi ở lớp 3, việc viết văn đều dựa trên hệ thống câu hỏi gợi ý, số lượng câu
trong đoạn văn ít, mức độ chưa cao. Lên lớp 4, yêu cầu viết văn ở mức độ cao hơn:
không có hệ thống câu hỏi gợi ý, số lượng câu tăng, phải biết sắp xếp bố cục, dùng
từ, hiểu thế nào là văn miêu tả. Nắm được cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật, cây cối,
con vật (mở bài, thân bài, kết bài). Hiểu rõ vai trò của quan sát trong việc miêu tả
chi tiết của các bài văn. Biết quan sát bằng nhiều giác quan để phát hiện đặc điểm
4. Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Phương pháp thực hành giao tiếp.
4.2. Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
4.3. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.
4.4. phương pháp rèn luyện theo mẫu
4.5. Thu thập tài liệu, đọc sách và các tài liệu tham khảo. Nghiên cứu rút ra
kinh nghiệm từ thực tế của bản thân và học sinh thông qua cách dạy và cách học.
3
II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lí luận:
Văn miêu tả là một trong những thể loại văn rất quen thuộc và phổ biến trong
cuộc sống cũng như trong các tác phẩm văn học. Đây là loại văn có tác dụng rất lớn
trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và
khả năng nhận xét, đánh giá của con người. Với đặc trưng của mình, những bài văn
miêu tả làm cho tâm hồn, trí tuệ người đọc thêm phong phú, giúp ta cảm nhận được
văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn. Chính vì thế, văn miêu tả
được đưa vào nhà trường từ rất lâu và ngay từ bậc Tiểu học. Đề tài của văn miêu tả
với các em là những gì gần gũi, thân quen với thế giới trẻ thơ, các em có thể quan
sát được một cách dễ dàng, cụ thể như: chiếc cặp, cái bàn, những vườn cây ăn quả
mình yêu thích, những con vật nuôi trong nhà.
Bài văn miêu tả nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, góp
nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ.
Hơn nữa, bài văn miêu tả là thể loại văn bản mang tính chất nghệ thuật cao, mang
tính sáng tạo, tính cá thể của người viết. Ngôn ngữ trong văn miêu tả là ngôn ngữ
giàu sức gợi cảm và là ngôn ngữ của các biện pháp tu từ. Chương trình Tập làm
văn lớp 4 gồm 62 tiết, trong đó văn miêu tả chiếm 30 tiết ( 7 tiết học kì I và 23 tiết
học kì II). Trong đó bao gồm:
thụ văn học của học sinh. Mặt khác, giáo viên chưa tổ chức cho học sinh quan sát
thực tế để các em có thể được nhìn tận mắt, sờ tận tay sự vật miêu tả, phát hiện ra
những hình ảnh đẹp, những chi tiết cụ thể nổi bật của đối tượng cần tả vì vốn sống
thực tế sẽ giúp học sinh trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và sống
động.
2.2.
Đối với học sinh.
Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học ham chơi, khả năng tập
trung chú ý nhận thức các sự vật chưa đầy đủ, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa thật
phát triển. Số học sinh trong lớp là dân tộc Thái chiếm 96%, hoàn cảnh gia đình
khó khăn, bố mẹ đi làm ăn xa ở nhà với ông bà nên phần nhiều các em thiếu vốn
sống, vốn hiểu biết nên cách diễn đạt câu từ trong nói và viết còn nhiều hạn chế.
Tài liệu tham khảo cho môn Tập làm văn lại không có, các em chưa hiểu được bản
chất các khái niệm, chưa nắm vững được nội dung, yêu cầu của các kiểu bài miêu
tả trong chương trình nên khi làm bài các em miêu tả chung chung, không có sắc
thái riêng biệt của đối tượng cần tả.
5
Năm học 2016-2017, tôi được phân công phụ trách lớp 4A với 25 học sinh.
Sau khi nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 4, qua quá trình giảng dạy nhiều năm
và qua việc dự giờ, để trao đổi chuyên môn với các đồng nghiệp. Tôi nhận thấy
việc làm văn ở lớp 4 còn gặp nhiều khó khăn. Để biết rõ nhưng khó khăn vướng
mắc của học sinh tôi đã tổ chức khảo sát trực tiếp tại 2 lớp để nắm bắt kết quả làm
văn miêu tả của học sinh.
Đề bài: Em hãy tả cái bàn học của em.
Kết quả khảo sát như sau:
SL
%
SL
%
5
20%
14
56%
5
20%
4
28,57%
6
42,86%
4
3. Các biện pháp vận dụng:
Xuất phát từ thực trạng trên, đồng thời thấy rõ vai trò, nhiệm vụ của một giáo
viên đang đứng trên bục giảng, để nâng cao chất lượng làm văn cho học sinh, để
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực nhằm đem lại hiệu quả cao trong
tiết dạy Tập làm văn, bản thân tôi đã tìm tòi và thử nghiệm mạnh dạn đưa ra một số
biện pháp sau:
3.1. Giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng và đặc điểm cơ bản về thể
loại văn miêu tả:
a) Kiến thức:
* Các kiểu bài văn miêu tả trong chương trình lớp 4.
- Miêu tả đồ vật
- Miêu tả cây cối
- Miêu tả con vật
* Hiểu thế nào là miêu tả ?
- Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của
vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy.
* Cấu tạo chung của đoạn văn trong bài văn miêu tả.
- Cấu tạo bài văn miêu tả gồm có 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.
+ Mở bài: Giới thiệu đối tượng miêu tả, thể hiện tình cảm, quan hệ của người
miêu tả với đối tượng miêu tả.
7
+ Thân bài: Tái hiện, sao chụp chân dung của đối tượng miêu tả ở những góc
nhìn nhất định.
+ Kết luận: Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ trực tiếp của
người miêu tả và của mọi người nói chung đối với đối tượng miêu tả.
b) Kĩ năng:
* Kĩ năng định hướng hoạt động:
- Nhận diện loại văn bản.
sát bằng nhiều cách khác nhau (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi...). Hành trang
cho việc quan sát có hiệu quả là giấy ,bút cộng với tư duy sáng tạo.
- Tả theo trình tự không gian: Quan sát toàn bộ đối tượng (bao quát) đến quan
sát từng bộ phận (chi tiết), tả từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ trái qua phải,...
(hoặc ngược lại).
- Tả theo trình tự thời gian: Quan sát theo diễn biến của thời gian, cái gì xảy ra
trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau) thì miêu tả sau. Trình
tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả cảnh vật hay tả cảnh
sinh hoạt của người .
- Tả theo trình tự tâm lí: Khi quan sát nhận thấy những đặc điểm riêng, nổi bật
nhất, thu hút và gây cảm xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước,
các bộ phận khác tả sau. Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự
này nhưng chỉ nên tả những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiết
như nhau của đối tượng.
Ví dụ 1: Quan sát và lập dàn ý cho bài văn tả đồ vật.
Đề bài: Tả chiếc đồng hồ báo thức
Dàn ý:
1. Mở bài : Giới thiệu chiếc đồng hồ nhà em( Ai mua ? Vào lúc nào ? )
- Nhân dịp đầu năm học mới
- Mẹ mua cho em chiếc đồng hồ để báo thức
2. Thân bài :
a. Tả bao quát : hình dáng, màu sắc, chất liệu
- Hình dáng tròn, bằng chiếc đĩa đựng trái cây.
- Lóp vỏ bên ngoài làm bằng nhựa
9
- Màu hồng tươi, pha lẫn màu trắng hai bên.
- Chân đế bằng làm bằng sắt xi mạ bóng loáng.
b. Tả chi tiết : mặt số, kim đồng hồ, quả lắc, bộ máy, …..
- Sân trường em có rộng không? trồng những cây gì?
- Cây bàng nằm ở đâu? Nó ở đó bao lâu rồi?
2. Thân bài:
a. Miêu tả bao quát cây bàng :
- Cao khoảng bao nhiêu mét, tán lá có rộng không?
- Thân cây có sần sùi không?
b. Miêu tả cây bàng trong 4 mùa ;
+ Mùa hè - Bàng lặng lẽ, khoe những chiếc ta to tròn, đợi chờ HS đến,.....
+ Mùa thu - Lá dần chuyển dần màu đỏ, học trò thích nhặt những lá bàng, ....
+ Mùa đông - lá bàng rụng, chỉ còn trơ lại thân cây...
+ Mùa xuân – Những chồi non mới mọc xinh xinh, lá xanh nõn,...
3. Kết bài: Kỉ niệm với cây bàng .
- Em rất yêu quý cây bàng này, xem cây như người bạn thân của mình.
* Từ dàn ý liên kết dựng đoạn: VD: “Mùa đông tới cây bàng lại trở về dáng vẻ
khẳng khiu. Khi mà những chiếc lá đỏ ối rụng gần hết, làn gió mùa heo hút thổi
qua, chỉ còn vài chiếc lá đỏ trơ trọi và đơn độc, lũ học trò chúng em vẫn nô nghịch
dưới gốc bàng nhưng em biết cây bàng phải chịu đựng lạnh giá mùa đông, chiếc
áo ấm xanh mướt đã chẳng còn nữa...”
Ví dụ 3: . Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật (Tuần 29)
Dạy bài này tôi đã sử dụng một số tranh và yêu cầu học sinh quan sát ngay
trên lớp trong tiết học. Đến bài Luyện tập, học sinh nêu dàn ý vừa quan sát và ghi
nhanh được, tôi kịp thời chỉnh sửa, bổ sung các ý còn thiếu cho học sinh kết hợp cả
lời nói và chỉ trên tranh minh họa học sinh vừa quan sát.
Đề bài: Tả con gà trống.
Dàn ý:
1 . Mở bài : Giới thiệu con vật muốn tả : Một chú gà trống lai đã trưởng thành.
2. Thân bài :
11
Những bài tập đọc mang phong cách nghệ thuật chiếm tỉ lệ cao trong chương
trình Tập đọc lớp 4 như: Chú Đất Nung, Cánh diều tuổi thơ( miêu tả đồ vật): Sầu
riêng, Hoa học trò (miêu tả cây cối); Con Sẻ, Con chuồn chuồn nước, Con chim
chiền chiện (miêu tả con vật). Thông qua bài Tập đọc, tôi cho các em nêu và giải
nghĩa một số từ ngữ có tính chất liên quan đến kiểu bài văn trong tuần và yêu cầu
các em đặt câu. Từ đó giúp các em hiểu được cách quan sát các sự vật, cách dùng
từ, đặt câu , diễn đạt ý và cách sử dụng nghệ thuật trong khi làm bài văn miêu tả.
Ví dụ: Bài: Sầu riêng
Trong quá trình tìm hiểu bài, tôi cho học sinh tìm và nêu một số từ ngữ chỉ
đặc điểm của Sầu riêng như: ngào ngạt, quyến rũ, khẳng khiu, thẳng đuột, thơm
mùi thơm của mít chín, quyện với hương bưởi, ngọt cái ngọt của mật ong già...Các
em sẽ đặt câu không phải gắn với cây Sầu riêng mà gắn với một số các cây khác.
Bài: Con chuồn chuồn nước ( Tiếng Việt lớp 4 tập 2 trang 127).
Khi dạy bài này tôi giúp cho học sinh nhận thấy: Qua các chi tiết (Màu vàng
trên lưng chú lấp lánh. Bốn cánh mỏng như giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con
mắt long lanh như thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng
mùa thu), cách sử dụng từ láy, từ ngữ giàu hình ảnh đã nói lên vẻ đẹp sinh động
của chú chuồn chuồn nước, cảnh đẹp của thiên nhiên đất trời theo cánh bay của chú
chuồn chuồn. Sau đó tôi yêu cầu học sinh nói câu về miêu tả con vật khác qua các
từ ngữ: long lanh, nhỏ xíu, mênh mông, thung thăng, ... bên cạnh đó bộc lộ cảm xúc
của mình đối với con vật mà mình tả.
Mỗi bài Tập đọc đều có tác dụng giáo dục học sinh về cách sống, cách nhìn
nhận thế giới quan một cách chân thực, để từ đó các em có cảm xúc thực sự. Do đó
khi dạy các bài tập đọc, tôi luôn giúp các em cảm nhận và vận dụng kiến thức đó
vào thực tế để các em khi viết văn được sinh động hơn.
* Phân môn Chính tả: Rèn kĩ năng viết đúng chính tả và kĩ năng trình bày.
Nội dung bài viết chính tả là các văn bản được chọn trong bài tập đọc hoặc các
văn bản chọn ngoài thường xoay quanh chủ đề bài học. Phân môn chính tả nhằm
học sinh đặt câu đúng, sau yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so
sánh, nhân hóa, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những
từ biểu lộ cảm xúc.
14
Ví dụ: Câu “Bông hướng dương như vầng mặt trời vãi tung toé những tia nắng
vàng rực rỡ”; “Hoa xoan bồng bềnh như một chùm mây tim tím ngủ quên trên
cành”; “Bãi cỏ như một tấm thảm khổng lồ xanh mơn mởn”...Tôi phân tích cách
sử dụng biện pháp so sánh: Tác giả lấy hình ảnh mặt trời để tả bông hướng dương;
lấy chùm mây tím để tả hoa xoan, lấy tấm thảm khổng lồ xanh mơn mởn để tả bãi
cỏ,... Từ đó, tôi đưa ra một số câu và yêu cầu học sinh tìm từ thích hợp vào chỗ
chấm để tạo thành câu văn có hình ảnh so sánh gợi tả.
- Nhìn từ xa, cây bàng..….. một chiếc ô khổng lồ lợp bằng lá xanh tươi.
- Những trái chuối cong cong…... vầng trăng khuyết.
(Ở dạng bài này, tôi hướng dẫn các em chọn các từ sau để điền: như, giống như,
tựa, tựa như, tựa hồ, như là, giống hệt).
Ở dạng khác, tôi yêu cầu học sinh thêm vế câu để được hình ảnh so sánh thích
hợp vào mỗi chỗ chấm để mỗi dòng trở thành câu văn có ý nghĩa mới mẻ, sinh
động.
- Lá cọ tròn xoè ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như ........(bàn tay vẫy hoặc
một mặt trời mới mọc)
- Đôi cánh mẹ gà xoè ra như .........(hai mái nhà hoặc chiếc ô dù vững chãi) che
chở cho các chú gà con.
Sau khi học sinh đã hiểu cách vận dụng hình ảnh so sánh trong câu, tôi đưa ra
một số sự vật và yêu cầu học sinh tìm hình ảnh so sánh và diễn đạt câu: tán lá
bàng, đồng lúa chín, tàu dừa,...
Chẳng hạn: Tán lá bàng lan rộng như một chiếc ô dù khổng lồ.
Đối với biện pháp nhân hóa cũng vậy. Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây
cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho
cắt ra trông rất ngon. Thịt đu đủ màu cam. Bên trong có hột màu đen…
Các lỗi về câu thường gặp ở tiểu học là câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, câu què,
câu chỉ có thành phần phụ chỉ địa điểm hoặc thời gian, nguyên nhân, kết quả...
thiếu thành phần chính ( tức là cả cụm chủ vị ), nêu ý chưa chọn vẹn (câu cụt), câu
có nhiều từ ngữ thừa, rườm rà, lủng củng.
16
Ví dụ: Bài làm học sinh dùng dấu câu chưa đúng: Gốc hơi phình to ra pha lẫn
những đốm trắng cành lá xum xuê, tỏa bóng rợp một góc vườn, lá mít tròn dày,
xanh bóng...
Hướng dẫn học sinh sửa lại: Gốc hơi phình to ra pha lẫn những đốm trắng.
Cành lá xum xuê, tỏa bóng rợp một góc vườn. Lá mít tròn, dày, xanh bóng.
Hoặc nội dung diễn đạt rườm rà : Trong nhà em có một con vật mà em thích nhất
đó là con gà trống em rất yêu quý.
Hướng dẫn học sinh sửa lỗi : Trong nhà em, con vật em yêu thích nhất là con gà
trống. Hay: Trong nhà em, con gà trống là con vật mà em yêu thích nhất.
Với hình thức này, tôi cho học sinh tạo thành nhóm đôi theo năng lực ( giỏi, khá,
trung bình) hoặc đôi bạn cùng tiến. Các em đổi vở, đọc bài của bạn, phát hiện lỗi,
nêu lỗi và hướng sửa, trao đổi xem bạn có đồng ý với cách sửa như vậy không. Sau
đó cùng trao đổi, kiểm tra, chia sẻ kinh nghiệm làm bài và chữa lỗi với bạn.
4. Kết quả của sáng kiến:
Qua quá trình vừa nghiên cứu, vừa áp dụng thực hiện các biện pháp nêu trên
về phương pháp giảng dạy tập làm văn cho học sinh lớp 4, tôi thấy được vai trò của
việc dạy viết văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn theo hướng đổi mới và tầm
quan trọng của việc dạy tốt các phân môn trong môn Tiếng Việt để bổ trợ cho phân
môn Tập làm văn là rất quan trọng và thiết thực. Với nỗ lực ấy, tôi đã thu được
những kết quả như sau:
a) Về phía giáo viên:
Điểm 5 - 6
Điểm < 5
%
SL
%
SL
%
SL
Lớp
Số
sinh
4A
25
5
16%
câu văn chân thực, cách miêu tả đã có sự sáng tạo và đã có cảm xúc thực sự trong
khi miêu tả. So với lớp đối chứng (4B) các em có sự vượt trội hơn rất nhiều
18
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận:
Sau hơn một học kì áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, thành công tuy nhỏ
nhưng tôi ý thức được rằng để giúp học sinh lớp 4 làm được bài văn miêu tả sinh
động, đúng kiểu bài, đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên
cứu soạn giảng, có lòng nhiệt tình với học sinh và tâm huyết với nghề nghiệp. Thầy
cô giáo đã miệt mài, tận tuỵ thì việc mong muốn có nhiều học sinh giỏi văn sẽ
không còn là khó. Tuy nhiên những biện pháp mà tôi đã áp dụng trên, tuỳ đối tượng
học sinh cũng cần có sự vận dụng một cách khéo léo, sáng tạo của giáo viên. Tôi
nghĩ rằng nội dung đề tài này không có nhiều điểm mới, đó chỉ là nhiệm vụ hằng
ngày của giáo viên mà thôi. Nhưng đồng thời tôi cũng tin rằng nếu lâu nay ta làm
chưa tốt thì bây giờ ta dốc hết tâm huyết, tận tuỵ với học sinh, soạn giảng nghiêm
túc thì chắc chắn sẽ gặt hái được thành công.
Có thể nói, bước đầu thành công trong việc dạy Tập làm văn miêu tả cho học
sinh lớp 4 là nguồn động viên rất lớn cho tôi. Tôi sẽ đem kinh nghiệm này tiếp tục
áp dụng để giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 4 các năm sau và phổ biến trong
cả khối với mong muốn lớn nhất của tôi là giúp học sinh nâng cao chất lượng môn
Tiếng Việt cấp Tiểu học.
2. Kiến nghị:
- Đối với BGH nhà trường : Nâng cao hiệu quả các giờ sinh hoạt chuyên
môn, khuyến khích giáo viên đầu tư trao đổi kế hoạch bài học, cùng thống nhất
cách soạn giảng và vận dụng tập thể để phát huy sở trường của từng cá nhân và sức
mạnh của tập thể.
19