MỤC LỤC
3.5.3. Xác định thặng dư và giá trị giải trí ............................................................................... 62
- Xác định thặng dư và giá trị giải trí ....................................................................................... 62
Giá trị thặng dư của du khách cũng chính là giá trị giải trí do địa điểm giải trí mang lại cho
du khách. Như vậy, tổng giá trị giải trí của khu du lịch khoảng 7,3 tỷ đồng/năm. ................. 63
Giá trị thặng dư trung bình địa điểm giải trí mang lại cho một du khách là 7.363.764/467.585
= 15,748 (nghìn đồng) .............................................................................................................. 63
Giá trị thặng dư hay giá trị giải trí mang lại cho du khách mỗi vùng là: ................................. 63
Nguồn: Tác giả tự tính toán ...................................................................................................... 63
Với số lượng du khách lớn nhất, du khách vùng 2 – các tỉnh Đông Nam Bộ nhận được thặng
dư tiêu dùng lớn nhất, tiếp theo là vùng 3 (các tỉnh Miền tây Nam Bộ và Nam Trung Bộ).
Các tỉnh Đông Nam Bộ trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có lượng khách đến
Đà Lạt nói chung và Thung lũng tình yêu nói riêng nhiều nhất cả hiện tại và tương lai. Điều
này đòi hỏi Khu du lịch Thung lũng tình yêu cần có biện pháp để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của nhóm đối tượng này bên cạnh việc thu hút thêm du khách từ các vùng còn lại.
................................................................................................................................................... 63
- Giá trị giải trí tính được cao hơn nhiều so với doanh thu từ hoạt động giải trí của Khu du
lịch. Điều này được giải thích là doanh thu từ hoạt động giải trí chỉ bao gồm tiền vé vào
cổng và một số khoản thu khác trong khi đó giá trị giải trí là phần chênh lệch giữa chi phí
của du khách bỏ ra cho chuyến đi và lợi ích mà du khách nhận được từ địa điểm giải trí. .... 64
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
BV Bequest Value Giá trị tồn tại
DUV
Direct Use Value
Phương pháp chi phí du lịch
cá nhân
EXV Exit Value Giá trị tồn tại
ITCM Individual Travel Cost Method
Phương pháp chi phí du lịch
cá nhân
3.15 Lượng khách mỗi vùng khi chi phí tăng thêm 100.000 đồng 68
3.16 Lượng khách mỗi vùng khi chi phí tăng thêm 200.000 đồng và 68
300.000 đồng.
3.17 Thặng dư của du khách tính theo vùng. 70
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ TRONG CHUYÊN ĐỀ
Hình Tên Trang
1.1 Sơ đồ tổng giá trị kinh tế 15
1.2 Nhu cầu giải trí theo phương pháp chi phí du lịch 27
2.1 Lượng khách du lịch đến Thung lũng tình yêu qua các năm. 32
2.2 Bản đồ vị trí khu du lịch Thung lũng tình yêu 38
3.1 Đường cầu giải trí Thung lũng tình yêu. 69
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Như chúng ta đều biết : môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu
tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh
hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên. Đối với cá thể con người cũng như đối với cả xã hội loài người môi
trường có ba chức năng cơ bản như sau:
Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và
hoạt động sản xuất của con người, bao gồm tài nguyên tái sinh, tài nguyên
không tái sinh và các dạng thông tin mà con người khai thác sử dụng.
Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc
sống và sản xuất của mình.
Môi trường là không gian sống, cung cấp các dịch vụ cảnh quan thiên
nhiên. Môi trường là nơi duy nhất cho con người được hưởng các cảnh đẹp
thiên nhiên, thư thái về tinh thần, thư thái về các nhu cầu tâm lý.
Chính vì vậy môi trường có mối quan hệ gắn bó mật thiết với các hoạt
động kinh tế. Môi trường và kinh tế tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho
nhau cùng phát triển: môi trường cung cấp các điều kiện cần thiết như tài
nguyên… làm đầu vào cho các hoạt động kinh tế giúp kinh tế ngày càng mở
truyền thống dựa trên thị trường thay thế là phương pháp chi phí du lịch
(TCM - Travel Cost Method).
Việc nghiên cứu giá trị cảnh quan của khu du lịch sinh thái Thung lũng
tình yêu có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan của khu
vực. Nó cũng giúp các nhà quản lý và chủ đầu tư hiểu và có biện pháp đầu tư
tôn tạo cảnh quan ngày càng đáp ứng nhu cầu cao của du khách
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá cảm nhận của du khách về cảnh quan, chất lượng môi trường và
chất lượng dịch vụ tại địa điểm giải trí.
- Xác định giá trị giải trí du lịch của khu du lịch sinh thái thung lũng tình yêu
bằng phương pháp chi phí du lịch và thông qua xác định thặng dư của du khách.
- Đề xuất mức phí vào cổng thích hợp vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế của
doanh nghiệp vừa có nguồn thu để đầu tư tôn tạo cảnh quan môi trường.
3. Phạm vi nghiên cứu.
- Về không gian lãnh thổ : Địa bàn nghiên cứu là thung lũng tình yêu thuộc
thành phố đà lạt tỉnh lâm đồng.
- Về thời gian nghiên cứu : Điều tra phỏng vấn khách du lịch vào tháng 1 năm
2009, sử dụng số liệu thống kê lượng khách du lịch đến thung lũng tình yêu từ
năm 2006 đến 2008.
- Về giới hạn khoa học : Giá trị chất lượng môi trường tại thung lũng tình yêu
bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên
cứu và tính toán giá trị cảnh quan tại đây ( một phần của giá trị phi sử dụng ).
4. Các phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu trong đề tài được kế thừa từ các phiếu điều
tra đã có do Trung tâm nghiên cứu môi trường và sinh thái thuộc viện Khoa
học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện trong đề tài: Định giá rừng trình diễn tại
Lâm Đồng. Dưới đây là ý nghĩa một số phương pháp đã đước áp dụng.
- Phương pháp thu thập thông tin : Tổng hợp số liệu thứ cấp và phỏng vấn
trực tiếp khách du lịch.
- Phương pháp thực địa : Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên
tại Thung lũng tình yêu.
NỘI DUNG
PHẦN CHƯƠNG I: TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
ĐỂ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG.
1.1. Hàng hóa chất lượng môi trường.
1.1.1. Khái niệm.
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn được nhu cầu nào
đó của con người và nó được sản xuất ra để bán.
Hàng hóa chất lượng môi trường là một khái niệm mới được đưa vào
trong kinh tế học, đây là loại hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng. Nó:
+ Đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người ( sống)
+ Là điều kiện cần cho lao động sản xuất.
+ Là một yếu tố khách quan của cuộc sống vì nó cũng cần phải tái sản xuất.
Cho đến nay kinh tế học môi trường cho rằng muốn nghiên cứu hàng hóa
môi trường thì phải nhìn nhận trên góc độ tổng giá trị kinh tế.
1.1.2. Giá trị kinh tế của hàng hóa chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế
(TEV)
Khái niệm TEV ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XX, là khái niệm
được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện về giá trị hàng hóa
môi trường mà sự nhìn nhận đó không chỉ gồm những giá trị trực tiếp có thể
lượng hóa được mà còn có cả những giá trị gián tiếp – những giá trị ẩn khó
nhìn thấy nhưng lại rất có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội.
Các nhà kinh tế học môi trường đã làm được rất nhiều khi phân loại giá
trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường thiên nhiên. Vấn đề
thuật ngữ vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng phương pháp của họ
đặt cơ sở trên cách giải thích truyền thống về sự hình thành của giá trị ( tức là
dựa trên cơ sở sự tương tác giữa chủ thể con người, người định ra giá trị và
khách thể - vật được đánh giá ). Các cá nhân có một số giá trị đã hình thành,
điều này sẽ dẫn đến các khách thể sẽ bị gán cho một số giá trị khác nhau. Trên
nguyên tắc, để đo lường tổng giá trị kinh tế, các nhà kinh tế học bắt đàu bằng
hại đối với tài sản.
Tuy nhiên phân biệt giữa giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp không phải
lúc nào cũng rõ ràng.
TEV
NUVNUV
DUV IUV OV BV EXV
Giá trị tùy chọn: Là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn
nguồn lực hoặc một phần sử dụng nguồn lực đó để sử dụng cho tương lai.
Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái.
Giá trị này không có tính thống nhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền
tệ theo tính chất lựa chọn của nó.
- Giá trị phi sử dụng : Thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất
thật sự của sự vật, nhưng nó không liên quan đến việc sử dụng thực tế , hoặc
thậm chí việc chọn lựa sử dụng sản phẩm này. Thay vào đó các giá trị này
được coi như những yếu tố phản ánh sự lựa chọn của con người, những sự lựa
chọn này có kể đến cả sự quan tâm đồng cảm và trân trọng đối với quyền lợi
hoặc phúc lợi của các sinh vật không phải là con người.các giá trị này vẫn còn
tập trung chú trọng nhiều đến con người nhưng nó có thể bao hàm cả nhận
thức về các giá trị tồn tại của các giống loài khác nữa hoặc cả quần thể hệ sinh
thái.
- BV : Phụ thuộc vào tính đặc trưng sinh thái của khu vực nghiên cứu mà
quan điểm của người đánh giá đưa ra trong đó nó liên quan chặt chẽ tới tính
đặc thù, đặc trưng của từng hệ sinh thái mà các nhà kinh tế sinh thái cần thiết
phải đưa ra đánh giá tính phụ thuộc của nó. Việc lượng hóa giá trị này hết sức
khó khăn và nó tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng chuyên gia.
- EXV : Các tài nguyên môi trường đều có giá trị thực nội tại của chính bản
thân chúng. Giá trị này không liên quan tới việc sử dụng, nó liên quan đến các
thế hệ mà duy trì giá trị của hệ sinh thái đó có ý nghĩa với thế hệ mai sau ( về
kinh tế, chính trị, sinh thái ). Loại giá trị này nhận thức thì không khó nhưng
lượng giá bằng tiền rất khó khăn.
1.2.2. Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường.
Để đánh giá giá trị hàng hóa môi trường, hiện nay các nhà kinh tế môi
trường dựa trên cơ sở nền tảng lý thuyết của kinh tế học và những vấn đề môi
trường đưa ra những kỹ thuật đánh giá có cơ sở khoa học thực tiễn được áp
dụng và phổ biến khá rộng rãi trên thế giới trong đó vấn đề cốt lõi cuối cùng
là phải xác định cho được giá của môi trường trong bối cảnh của TEV mà môi
trường mang lại.
Các phương pháp được sử dụng phổ biến:
+ Các phương pháp không sử dụng đường cầu:
Là các phương pháp trực tiếp hay gián tiếp khi đánh giá chất lượng môi
trường người ta xác định dựa trên cơ sở các kỹ thuật đánh giá mà không lập
hàm cầu ( hàm lợi ích). Đây là những phương pháp không thể lập được hàm
cầu, do đó không đo lường được phúc lợi thực tế nhưng thông tin lại rất hữu
ích cho các nhà hoạch định chính sách. Nó bao gồm các phương pháp sau:
- Phương pháp liều lượng đáp ứng.
- Phương pháp chi phí thay thế
- Phương pháp chi phí cơ hội
- Phương pháp mô hình lựa chọn
- Phương pháp dựa vào hàm sản xuất
+ Các phương pháp sử dụng đường cầu :
Là các phương pháp được sử dụng trên cơ sở xây dựng đường cầu để
đánh giá giá trị chất lượng môi trường. Khi đánh giá giá trị chất lượng môi
trường ở một khu vực nào đó người ta phải xác lập cho được hàm cầu mà dựa
trên nguyên lý kinh tế trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và giá
cả. Đây là những phương pháp để đo lường phúc lợi. Nó bao gồm những
phương pháp sau:
- Phương pháp chi phí du lịch ( TCM ).
- Phương pháp mô hình đánh giá ngẫu nhiên ( CVM ).
- Phương pháp đánh giá theo giá trị hưởng thụ ( HPM ).
Trong đó phương pháp TCM được sử dụng khá phổ biến trong kinh tế
phần diện tích dưới đường cầu.
Một cách tổng quát, chi phí du lịch của du khách i tới địa điểm giải trí j
(TC
ij
) được xác định như sau:
TC
ij
= TC(DC
ij
, T
ij
, F
i
)
(1)
i = 1…n, j = 1…..m
Trong đó:
DC
ij
là chi phí về khoảng cách. Chi phí này phụ thuộc vào độ dài
quãng đường tới điểm du lịch và phụ thuộc vào chi phí cho mỗi km đi lại.
T
ij
là chi phí thời gian. Chi phí này phụ thuộc vào thời gian để tới được
điểm du lịch và giá trị về thời gian của mỗi cá nhân.
F
i
là phí vào cửa của địa điểm j.
Giả sử V
i
: Thu nhập của du khách i
EDU
i
: Trình độ học vấn của cá nhân i
AGE
i
: Độ tuổi của du khách i
SEX
i
: Giới tính của du khách i
Hệ số a, b, c, d, e, f lần lượt là các hệ số cần được ước lượng.
Sau khi ước lượng được các hệ số tiếp tục xây dựng đường cầu mô tả
mối quan hệ giữa số lượt tham quan và chi phí tham quan. Phần diện tích nằm
dưới đường cầu sẽ thể hiện giá trị cảnh quan của địa điểm giải trí.
1.3.2. Các cách tiếp cận.
Có hai cách tiếp cận phương pháp TCM:
1.3.2.1.Phương pháp chi phí du lịch cá nhân (ITCM : Individual Travel Cost
Method)
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch
hàng năm của một cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra
Vi = f( TCi, Si )
Trong đó:
Vi : số lần đến điểm du lịch của cá nhân I trong một năm
TCi : chi phí du lịch của cá nhân i
Si : các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân, ví dụ : thu
nhập, chi phí thay thế, độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học
vấn…
Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trị
giải trí của mỗi cá nhân là diện tích phía dưới đường cầu của họ. Vì vậy, tổng
và cũng được áp dụng để tính giá trị cảnh quan của khu du lịch sinh thái
Thung lũng tình yêu ở Đà Lạt.
1.3.3. Các bước thực hiện
Gồm 5 bước cơ bản như sau:
Bước 1:
Chọn vị trí cần đánh giá chất lượng môi trường mà vị trí đó phải đảm bảo
điều kiện phải có nhiều khách du lịch lui tới.
Ví dụ như công viên, vườn thú…
Bước 2:
Xây dựng bảng hỏi để điều tra khách du lịch trong đó những thông tin cơ
bản của bảng hỏi cần phải được thể hiện thông qua các yếu tố ràng buộc trong
đó có hai yếu tố cần chú ý tới là:
- Quãng đường mà khách tới vị trí cần đánh giá là bao xa? (Phân chia khu
vực xung quanh địa điểm du lịch được nghiên cứu thành các vùng xuất
phát khác nhau theo khoảng cách địa lý. Các vùng này có thể được phân
chia theo các đường tròn đồng tâm kể từ điểm du lịch nhưng cũng có thể
phân chia theo khu vực hành chính có cùng khoảng cách đến địa điểm giải
trí. Thông thường, số liệu về dân số thu thập theo địa giới hành chính dễ
dàng hơn thu thập theo các đường tròn đồng tâm nên cách phân chia theo
khu vực hành chính được sử dụng nhiều hơn. Số lượng các vùng có thể
tương đối lớn tùy theo tính chất của địa điểm nghiên cứu).
- Hàng năm khách du lịch thường lui tới vị trí đánh giá bao nhiêu lần?
Trong đó số lần tham quan thứ i ( hay của người thứ i ) được xác định
thông qua : Vi = f ( ci,x1,x2,…,xn ).
Mà ci là chi phí của lần tham quan thứ i ( hay của người thứ i ).
xi ( i = 1,n ) là các biến liên quan khác: thu nhập, độ tuổi, giới tính, trình
độ học vấn…
Như vậy trong bảng hỏi thể hiện khá đầy đủ các yếu tố ràng buộc liên
quan. Đây là cơ sở để chúng ta đưa vào kiểm định sau này trong thống kê
nhằm xác định kết quả có ý nghĩa hay không.
khách đến điểm giải trí trong năm của mỗi vùng chia cho tổng dân số của vùng
đó tính theo đơn vị nghìn người
Lượng khách vùng i
VRi = L ư ợ n g k h
Dân số vùng i
Bước 5:
Xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ du khách với chi phí du lịch và một số
biến xã hội quan trọng khác. Hàm mô tả mối quan hệ này có dạng:
V
zj
= V(TC
zj
, S
z
)
Trong đó: V
zj
là tỷ lệ du khách từ vùng Z tới địa điểm j,
TC
zj
là chi phí du lịch của du khách vùng Z tới địa điểm j,
S
z
là các biến kinh tế - xã hội của du khách vùng Z.
Sau đó xây dựng đường cầu du lịch cho địa điểm nghiên cứu trên cơ sở kết
quả của phân tích hồi quy. Mức chi phí du lịch sẽ tăng lên cho đến khi số lần
viếng thăm của khách giảm xuống bằng 0, tức là có ít hơn một khách sẵn sàng
bỏ ra mức phí đó để được vào thăm khu du lịch. Điểm đầu của đường cầu là số
lượng du khách đến với điểm giải trí trong trường hợp chi phí du lịch bằng 0
Trên cơ sở xác định số lượt du khách ứng với từng mức phí vào cửa khác nhau
1.3.5. Hạn chế
- Chi phí về thời gian rất khó xác định, ví dụ thời gian khách đi du lịch ( họ
không làm việc ) nhưng thực tế ngày làm viẹc của họ có được tính trong giá
trị không?
- Một hành trình có nhiều chuyến tham quan: thông thường đi du lịch tới các
vị trí thưởng ngoạn người ta đi theo tour nhưng khi đánh giá lại là một điểm,
một vùng, nên vấn đề là việc bóc tách chi phí như thế nào trong tổng chi phí
người ta thực hiện tại điểm đánh giá là vấn đề mà người làm đánh giá phải có
cách xử lý phù hợp. Nếu không kết quả trong phần tính chi phí sẽ phản ánh
sai dẫn tới việc giá trị chất lượng môi trường không đúng.
- Cảnh quan thay thế : Trong nhiều trường hợp việc chúng ta xác định điểm
đánh giá trong đó giá trị chất lượng môi trường có thể được thay thế bằng
cảnh quan khác thay vì cảnh quan mà chúng ta cần đánh giá đối với lựa chọn
của khách du lịch.
Ví dụ : Theo truyền thống đi du lịch Cúc Phương là du lịch sinh thái,
hiện nay Ba Vì mở sau nên khách du lịch truyền thống ở Cúc Phương chuyển
sang Ba Vì nhưng giá trị chất lượng môi trường cảnh quan ở Cúc Phương
không thay đổi. Trong trường hợp đó cách xử lý của người đánh giá như thế
nào để đảm bảo nguyên giá trị nếu không khách du lịch sẽ hạ thấp giá của
Cúc Phương.
- ( David Tuner – quyết định mua nhà ): Trong thực tế có nhiều trường hợp
thay vì phải thường xuyên đi lại để thưởng ngoạn về môi trường người ta
quyết định phương án không đi thường xuyên mà mua hẳn nhà ở đó. Do vậy
sử dụng TCM trong trường hợp này không hợp lý.
- Trường hợp không chi phí: Phương pháp TCM rất khó xác định khi phỏng
vấn vì những người ở gần có thể đi bộ đến địa điểm cần đánh giá và họ có thể
đánh giá rất cao giá trị môi trường ở đó.
Tóm lại, phương pháp chi phí du lịch chỉ đại diện cho giá sẵn lòng chi trả
cho một mức chất lượng môi trường. Do đó phương pháp chi phí du lịch được
sử dụng hạn chế trong phân tích chi phí lợi ích. Tuy nhiên nó lại rất hữu dụng
thành hồ Đa Thiện, làm tăng thêm sức quyến rũ cho cảnh quan chung, đồng
thời xuất hiện thêm hai tên gọi khác bên cạnh Thung lũng Tình Yêu là đập 3
và hồ Đa Thiện
Lịch sử tên gọi Thung lũng Tình yêu được giải thích theo hai cách:
- Trong nửa đầu thế kỷ XX, thung lũng gần Biệt điện Bảo Ðại (Dinh III) được
gọi là Vallée D' Amour (Thung lũng Tình yêu). Sinh viên Viện Ðại học Ðà
Lạt nhận thấy thung lũng ở đập III Ða Thiện là nơi hẹn hò lý tưởng của thanh
niên nên cũng đặt tên là Thung lũng Tình yêu.
- Hướng đạo sinh thường cắm trại ở thung lũng Ða Thiện và đặt tên Thung
lũng Tình yêu với ý nghĩa tình yêu thiên nhiên, đất nước.
Từ trên đồi cao nhìn xuống, Thung lũng Tình yêu và hồ Ða Thiện tựa
như một bức tranh thủy mặc. Xa xa là đỉnh Lang Biang ẩn hiện trong sương
mù. Mặt hồ phẳng lặng, thấp thoáng những chiếc buồm nhỏ xinh với nhiều
màu sắc rực rỡ. Hồ nước uốn lượn qua những quả đồi nối tiếp nhau, rợp bóng
thông mát rượi. Những thung lũng với cỏ xanh mềm cùng con đường đất đỏ
uốn lượn ôm gọn lấy lòng hồ và len giữa ngàn thông cây lá.
Sau năm 1975, Thung lũng tình yêu được giao cho Ðoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Ðà Lạt khai thác và kinh doanh du lịch. Từ
một thắng cảnh hoang sơ ban đầu, thời gian qua, những cán bộ trẻ ở đây đã có
nhiều cố gắng để tôn tạo cho thiên đường tình ái này thêm sinh động. Vườn
hoa, cây cảnh, đội canô đưa du khách đi dạo trên hồ, đồng thời xây tượng đôi
uyên ương, nhà giải khát, các kiosque bán quà lưu niệm. Mặc dù tất cả hãy
còn đơn giản, song với vẻ quyến rũ của hồ Ða Thiện - Thung lũng tình yêu
vào những ngày đẹp trời hay các dịp lễ tết, khách du lịch thập phương vẫn
nườm nượp kéo về nơi đây nhằm tận hưởng những giây phút sảng khoái khi
con người hòa nhập với thiên nhiên. Nếu như năm 1991 chỉ có 132.044 lượt
du khách đến tham quan Thung lũng tình yêu thì trong năm 1997, đã tăng lên
219.831 lượt người, năm 2008 là 467.585 lượt khách. Doanh thu của khu du
lịch cũng đã tăng từ 2,92 tỷ (năm 2006) lên 3,2 tỷ đồng (năm 2008).