Đề tài : ứng dụng phương pháp mô hình đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở thành phố hồ chí minh và lân cận - Pdf 13



BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TTRUNG TÂM QUY HOẠCH VÀ ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN NƯỚC
Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Nam
BÁO CÁO KHOA HỌC ĐỀ TÀI
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH
ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LÂN CẬN

6949
14/8/2008


Hà Nội - 2008

i

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
1- ThS. Ngô Đức Chân, Chủ nhiệm đề tài
2- ThS. Bùi Tiến Bình
3- KS. Nguyễn Manh Hà
4- CN. Đỗ Thị Thanh Hoa
5- KS. Nguyễn Huy Tuấn
6- CN. Trịnh Quang Trung ii
TÓM TẮT BÁO CÁO
Báo cáo khoa học kết quả nghiên cứu của đề tài “Ứng dụng phương mô hình
đánh giá trữ lượng NDĐ ở thành phố Hồ Chí Minh và lân cận” được trình bày trong
215 trang khổ A4. Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung của báo cáo được trình bày
trong 2 phần: Phần A: Cơ sở khoa học của đề tài (từ chương I đến chương V) và Phần
B: Kết quả của đề tài (từ chương VI đến chương VII) kèm theo có 26
bảng số liệu và
71 hình minh họa và 16 chuyên đề nghiên cứu.
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu liên quan, báo cáo đã thu thập khá đầy đủ
những dữ liệu cần thiết và tiến hành tổng hợp chỉnh lý (Phần A) nhằm mô phỏng thành

DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA vi
MỞ ĐẦU 1
PHẦN A CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
Chương I TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 5
I - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 5
II - LÝ DO CHỌN VÙNG NGHIÊN CỨU 5
III - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH 6
IV - THỦY VĂN 7
V - ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU 8
VI - ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ VÀ KINH TẾ 8
VII - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT 9
VIII - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN 18
IX - NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC 43
Chương II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 46
I - NƯỚC NGOÀI 46
II - TẠI VIỆT NAM 49
Chương III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
I - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 51
II - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
PHẦN B KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67
Chương IV XÂY DỰNG MÔ HÌNH DÒNG CHẢY NƯỚC DƯỚI ĐẤT 68
I - SƠ ĐỒ HÓA VÙNG LẬP MÔ HÌNH DÒNG CHẢY 68
II - NHẬP DỮ LIỆU 72
III - KẾT QUẢ VẬN HÀNH MÔ HÌNH 86
Chương V ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LÂN
CẬN 107

I - KHÁI QUÁT VỀ BÀI TOÁN 108
II - ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC THEO PHƯƠNG ÁN 1 110
III - ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC THEO PHƯƠNG ÁN 2 126

Bảng IV.2 - Bảng thống kê số lượng lỗ khoan quan quan sát 85
Bảng IV.3 - Thống kê các loại sai số sau khi hiệu chỉnh bài toán ổn định 87
Bảng IV.4 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 2 (tầng chứa nước Holocen) 97
Bảng IV.5 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 4 (tầng chứa nước Pleistocen trên) 98
Bảng IV.6 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 6 (tầng chứa nước Pleistocen giữa -
trên) 98

Bảng IV.7 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 8 (tầng chứa nước Pleistocen dưới) 99
Bảng IV.8 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 10 (tầng chứa nước Pliocen giữa) 100
Bảng IV.9 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 12 (tầng chứa nước Pliocen dưới) 100
Bảng IV.10 - Bảng thống kê các loại sai số lớp 14 (tầng chứa nước Miocen trên) 101
Bảng V.1 - Bảng thống kê kết quả tính toán nhu cầu sử dụng nước dưới đất 109
Bảng V.2 - Các nguồn hình trữ lượng toàn mô hình (Phương án 1) 115
Bảng V.3 - Bảng thống kê các nguồn hình thành trữ lượng khu vực TPHCM và lân cận
(Phương án 1) 121

Bảng V.4 - Bảng kết quả tính toán xâm nhập mặn khu vực TPHCM và lân cậtn
(Phương án 1) 124

Bảng V.5 - Các nguồn hình thành trữ lượng toàn mô hình (Phương án 2) 130
Bảng V.6 - Bảng thống kê các nguồn hình thành trữ lượng khu vực TPHCM và lân cận
(Phương án 2) 137

Bảng V.7 - Bảng kết quả tính toán xâm nhập mặn khu vực TPHCM và lân cận
(Phương án 2) 139

Bảng V.8 - Các nguồn hình trữ lượng toàn mô hình (Phương án 3) 144
Bảng V.9 - Bảng thống kê các nguồn hình thành trữ lượng khu vực TPHCM và lân cận
(Phương án 3) 151


Hình IV.1 - Mặt cắt qua đỉnh núi Bà Đen theo hướng tây - đông 69
Hình IV.2- Mặt cắt theo hướng nam - bắc qua núi Bà Rịa 70
Hình IV.3 - Mặt cắt hàng rào thể hiện cấu trúc của hệ thống NDĐ 71
Hình IV.4 - Thống kê dữ liệu chiều sâu đáy lớp (đơn vị: mét) 73
Hình IV.5 - Bản đồ phân vùng bổ cập 82
Hình IV.6 -Cửa sổ nhập dữ liệu lượng bổ cập (Recharge) 82
Hình IV.7 - Vị trí và cửa sổ nhập dữ liệu điều kiện biên tổng hợp (General Head) 84
Hình IV.8 - Vị trí và cửa sổ nhập dữ liệu điều kiện biên sông (River Head) 84
Hình IV.9 - Vị trí và cửa sổ nhập điều kiện biên mực nước xác định (Specified Head)
85

Hình IV.10 - Vị trí và cửa sổ nhập dữ liệu mực nước quan trắc 86
Hình IV.11 - Đồ thị biểu diễn sai số a) Tầng Holoen và b) Tầng Pleistocen trên 91
Hình IV.12 - Đồ thị biểu diễn sai số a) Tầng Pleistocen giữa - trên và b) Tầng
Pleistocen dưới 91

Hình IV.13 - Đồ thị biểu diễn sai số a) Tầng Piocen giữa và b) Tầng Plocen dưới 92

vii
Hình IV.14 - Đồ thị biểu diễn sai số a) Tầng Miocen trên và b) Tầng Paleozoi -
Mezozoi 92

Hình IV.15 - Mực nước tầng Holocen - Bài toán ổn định 93
Hình IV.16 - Mực nước tầng Pleistocen trên - Bài toán ổn định 93
Hình IV.17 - Mực nước tầng Pleistocen giữa-trên - Bài toán ổn định 94
Hình IV.18 - Mực nước tầng Pleistocen dưới - Bài toán ổn định 94
Hình IV.19 - Mực nước tầng Pliocen giữa - Bài toán ổn định 95
Hình IV.20 - Mực nước tầng Pliocen dưới - Bài toán ổn định 95
Hình IV.21 - Mực nước tầng Miocen trên - Bài toán ổn định 96
Hình IV.22 - Mực nước tầng Paleozoi-Mesozoi - Bài toán ổn định 96

MỞ ĐẦU
Đề tài khoa học công nghệ: "Ứng dụng phương pháp mô hình đánh giá trữ
lượng ở thành phố Hồ Chí Minh và lân cận" được thực hiện dựa trên hợp đồng khoa
học công nghệ giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT miền
Nam cũ (Hợp đồng số 09ĐC06/BTNMT-HĐKHCN, ngày 27 tháng 04 năm 2006).
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
NDĐ là nguồn tài nguyên quan trọng và càng quan trọng hơn đối với những
vùng khan hi
ếm nguồn nước mặt có chất lượng tốt. Ngày nay, nhiều đô thị ở Đồng
bằng Nam Bộ: Mỹ Tho, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau đã và đang có xu hướng
chuyển sang sử dụng nguồn NDĐ, do đó cần thiết phải có được những công cụ hữu
hiệu để quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên quí giá này.
Khu vực TPHCM và lân cận, dù nguồn nước mặt rất phong phú nhưng khai
thác sử dụng NDĐ ngày càng chi
ếm tỉ lệ đáng kể trong sinh hoạt và sản xuất. Lượng
khai thác nhiều chắc chắn làm thay đổi cân bằng tự nhiên và sẽ dẫn đến suy thoái trữ
lượng NDĐ. Sự suy thoái trữ lượng này đến một lúc nào đó sẽ dẫn đến những tai biến
cho môi trường tự nhiên, đe dọa sự phát triển bình ổn như nhiều đô thị trên thế giới
(Beijing, Bangkok, Mexico ). Mức độ suy thoái trữ lượ
ng khác nhau tùy từng nơi
nhưng đều được thể hiện qua sự hạ thấp mực nước, điều này đã được ghi nhận ở các
trạm quan trắc quốc gia trong vùng, đặc biệt là nhiều nơi có biên độ khá lớn như: Hóc
Môn, Bình Trị Đông, Bình Hưng,
Tóm lại, vấn đề cấp thiết hiện nay cho nghiên cứu ĐCTV trong vùng là biết
được hiện trạng môi trường ĐCTV và tiềm năng tài nguyên NDĐ
để từ đó sẽ tìm một
giải pháp thích hợp khắc phục tình trạng suy thoái trữ lượng.
Đề tài: “Ứng dụng phương pháp mô hình đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở
thánh phố hồ chí minh và lận cận" sẽ tiếp cận vấn đề xác định nguồn hình thành trữ
lượng NDĐ theo phương pháp mô hình hóa dựa trên phần mềm GMS (Hoa Kỳ sản

MỤC TIÊU: Đánh giá trữ lượng khai thác NDĐ khu vực TPHCM và lân cận.
NHIỆM VỤ
1- Thu thập tài liệu toàn bộ những dữ liệu nghiên cứu liên quan (khí tượng thủy
văn, địa hình - địa mạo, địa chất, ĐCTV ).
2 - Mô hình hóa: Mô phỏng hệ thống NDĐ vùng nghiên cứu bằng phần mềm
GMS.
- Tính toán và xử lý các thông số dữ liệu đầu vào của MHDCNDĐ và tạo các
tập tin cầ
n thiết phục vụ cho công tác nhập dữ liệu.
- Sơ đồ hóa cấu trúc không gian toàn vùng nghiên cứu và chuyển thành mô hình
số bằng phần mềm GMS nhằm xác lập trường dòng chảy cho từng tầng chứa nước
theo không gian và thời gian.
- Hiệu chỉnh mô hình theo dữ liệu thực tế được ghi nhận tại các trạm quan trắc
của Mạng quan trắc quốc gia và các Mạng quan trắc địa phương như: TP. Hồ Chí
Minh, Bình Dương, Đồ
ng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu…).
3- Xác định nguồn hình thành trữ lượng khai thác NDĐ: Nghiên cứu CBNDĐ
và tính toán định lượng các nguồn hình thành trữ lượng.
4- Đề xuất phương hướng khai thác sử dụng hợp lý và biện pháp bảo vệ tài
nguyên NDĐ theo nhu cầu sử dụng nước dựa vào chiến lược phát trển kinh tế - xã hội
của các địa phương trong vùng.
PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu: Sử dụng ph
ần mềm GMS để mô phỏng hệ thống NDĐ và
vận hành MHDCNDĐ để giải bài toán trữ lượng theo 3 phương án dự kiến.
Đối tượng nghiên cứu: là các tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Kainozoi (Holocen,
Pleistocen trên, Pleistocen giữa - trên, Pleistocen dưới, Pliocen trên, Pliocen dưới và
Miocen trên). Diện tích lập mô hình tổng cộng khoảng 12.000km
2
, được giới hạn từ

ng lưu vực sông Đồng Nai. Bên cạnh
đó cũng tiến hành xác định lượng nước mặt tổn thất do phải bổ sung cho NDĐ.
2- Luận án tiến sĩ “Xác định nguồn hình thành trữ lượng nước dưới đất vùng
lưu vực sông Sài Gòn” do chính tác giả sẽ thực hiện. Đề cương đã được thông qua tại
Viện Môi trường và Tài nguyên TPHCM tháng 11/2006. Phương pháp nghiên cứu chủ
đạo là MHDCNDĐ trên cơ sở sử d
ụng phần lớn kết quả của đề tài này.
3- Báo cáo dự án “Điều tra hiện trạng, quy hoạch khai thác và xây dựng cơ sở
dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên nước tỉnh Bình Dương” do KS. Trần Anh Tuấn và
ThS. Ngô đức Chân thực hiện năm 2007. Chuyên đề MHDCNDĐ tỉnh Bình Dương
được hoàn thành chủ yếu dựa trên kết quả xử lý dữ liệu của đề tài nhằm xây dựng
MHDCNDĐ và gi
ải các bài toán ĐCTV trong quản lý tài nguyên NDĐ.
4- Luận văn cao học “Nghiên cứu phương pháp sử lý tài liệu địa vật lý điện xác
định ranh giới nhiễm mặn NDD vùng TPHCM” do ThS Bùi Tiến Bình thực hiện -
trường đại học Mỏ Địa chất 2007. Luận văn đã sử dụng phương pháp 2D để xử lý tài
liệu đo sâu điện 1D nhằm nâng cao hiệu quả xác định ranh mặn các tầng chứa nước
(chuyên đề 2). Luận văn đạt loại xuất sắc.
5- Đề án: “Thành lập bản đồ ĐCTV và ĐCCT thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ
1:50.000” do ThS. Bùi Trần Vượng thực hiện - 2007 theo đặt hàng của UBND thành
phố Hồ Chí Minh. Đề án đã sử dụng bản đồ và mặt cắt từ các báo cáo chuyên đề của
đề tài làm cơ sở khoa học cho việc thiết kế đề án (Chuyên đề 2, 4, 5, 6 và 7).
6 - Đang chuẩn bị tham gia d
ự án: “Quản lý tổng hợp lưu vực và sử dụng hợp lý
tài nguyên nước hệ thống sông Đồng Nai” do TS. Đỗ Tiến Lanh chủ trì (Viện Khoa
học Thủy lợi miền Nam).
4
Hình I.1 - Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
II - LÝ DO CHỌN VÙNG NGHIÊN CỨU
- Cở sở khoa học về chuyên môn ĐCTV: Đây là vùng chuyển tiếp từ đới hoạt
hóa Đà Lạt xuống vùng trũng Đồng bằng sông Cửu Long trong phạm vi lãnh thổ Việt
Nam, có l
ớp phủ trầm tích Kainozoi dày từ vài mét đến khoảng 340 ÷ 400m. Chiếm
toàn bộ diện tích vùng ĐCTV Đông Nam Bộ (theo Bùi Thế Định - 1991). Có điều
kiện ĐCTV đặc trưng cho toàn Đồng bằng Nam bộ và đóng vai trò quan trọng chi phối
quá trình hình thành động thái cũng như trữ lượng NDĐ tại đây. Có đầy đủ yếu tố của
một cấu trúc bồn: miền bổ cập, miền vận chuyể
n và miền thoát, đặc biệt là các điều
kiện biên tự nhiên ở phía đông và phía nam. 6
- Hiện trạng nghiên cứu trong vùng và khối lượng dữ liệu: các nghiên cứu ĐC
và ĐCTV từ trước đến nay rất phong phú với sự tham gia của nhiều ngành liên quan,
đặc biệt là Cục ĐC & KS Việt Nam. Đây là một trong những vùng được nghiên cứu
chi tiết nhất ở Việt Nam với nhiều đề tài và lĩnh vực khác nhau. Đáng kể nhất là mạng
quan trắc quốc gia về động thái nước dưới đất vùng nghiên c
ứu với các mạng quan
trắc riêng của từng địa phương (số lượng và mật độ cao nhất Việt Nam hiện nay). Nhìn
chung, đây là vùng có mức độ nghiên cứu đầy đủ về ĐC và ĐCTV đủ để thực hiện các
yêu cầu của luận án.
Việc xác định vùng nghiên cứu như trên đảm bảo đủ rộng hơn nhiều lần lưu

Đồng Nai và BR - VT. Đây là vùng đồng bằng đồi lượn sóng thoải và đồi thấp bóc
mòn (Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai) chuyển dần lên cao nguyên bazan dạng vòm
(Lộc Ninh, Phước Long). Địa hình cao dần từ Tây Nam lên Đông Bắc. Độ cao tuyệt
đối dao động 5 ÷ 15m (khu vực Trảng Bàng, thành phố Hồ Chí Minh, Châu Thành
(Tây Ninh), 50 ÷ 70m (Minh Hưng, Chơn Thành, Phước Vĩnh) đến 150÷200m (Bình
Long, Lộc Ninh). Bề mặt địa hình bị chia cắt y
ếu và nghiêng dần từ Đông Bắc đến Tây
Nam. Ở miền này còn một số núi sót như núi Bà Đen (986m), núi Ông (254m), núi
Tha La (169m), núi Bà Rá (736m), 7
- Miền Tây Nam Bộ thuộc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông thuộc phạm vi tỉnh
Long An. Thuộc đồng bằng châu thổ của hệ thống sông Cửu Long, bề mặt địa hình
khá bằng phẳng với độ cao tuyệt đối 0 ÷ 2m.
IV - THỦY VĂN
IV.1 - Mạng sông suối
Hệ thống sông chính chảy qua là hệ thống sông Đồng Nai. Ngoài ra, khu vực còn
có một mạng lưới kênh, mương khá dày.
Hệ thống sông Đồ
ng Nai thuộc loại sông thiếu hụt trầm tích với cửa sông hình
phễu, bao gồm sông chính là sông Đồng Nai và các nhánh: sông Bé, sông Sài Gòn.
- Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lang Biang (Đà Lạt) với độ cao
1.777m, diện tích lưu vực 45.000km
2
, hàng năm cung cấp 15 tỉ mét khối nước. Trên
sông Đồng Nai có hồ Trị An, được xây dựng từ năm 1986 với dung tích 2.542 tỷ m
3
.
Mực nước cao nhất 62m, trung bình 50m và mực nước chết 47m.

0,5m. Biên độ thuỷ triều vào mùa cạn (tháng 3 và 4) khoảng 2,5 ÷ 3m. Ở sông Đồng
Nai, triều lên cách cửa sông dến gần 200km.
Nhìn chung, ảnh hưởng của triều có biểu hiện trên phần lớn diện tích phía nam
vùng nghiên cứu, không những mực nước sông, kênh rạch bị ảnh hưởng, làm dòng 8
chảy bị đảo ngược mà còn kèm theo sự xâm nhập của mặn vào sâu trong đất liền, gây
mặn hoá các tầng nước dưới đất trong dải duyên hải.
V - ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU
Vùng nghiên cứu có 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 90 ÷ 94% lượng mưa cả năm. Mùa
khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình năm của vùng
thấp nhất là 1.328mm (Long An) và cao nhất là 2.100mm (miền Đông Nam Bộ).
Lượng mư
a trung bình năm 1600 ÷ 1800mm.
- Độ ẩm không khí trung bình 85% vào mùa mưa và 70-80% vào mùa khô.
- Nhiệt độ trung bình năm của vùng là 24÷27
0
C. Nhiệt độ cực đại vào tháng 4
(37
0
C) và thấp nhất vào tháng 12 (15
0
C). Chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng nóng
nhất và lạnh nhất 3÷4
0
C. Dao động nhiệt độ ngày-đêm 7÷8
0
C.

Năm
2050
1 Bình Phước 1.006,4 1.217,6 1.391,4 1.677,1 2.347,1 118,8 342,3
2 Tây Ninh 1.109,6 1.177,6 1.246,1 1.379,5 1.687,3 257,4 418,1
3 Bình Dương 1.309,1 1.623,3 1.847,0 2.156,4 2.849,9 382,4 1.057,3
4 Đồng Nai 2.433,5 2.644,3 2.849,7 3.260,2 4.154,1 376,4 704,7
5 Bà Rịa - Vũng Tàu 1.061,5 1.199,8 1.339,6 1.633,7 2.335,0 484,1 1.220,3
6 TP. Hồ Chí Minh 7.235,9 8.267,5 8.955,8 10.342,2 13.400,9 2.978,5 6.396,6
7 Long An 1.481,9 1.567,2 1.652,8 1.838,2 2.268,9 311,8 505,2
Tổng 15.637,9 17.697,3 19.282,4 22.287,3 29.043,2 4.909,4 10.644,5
Căn cứ vào tỷ lệ tăng dân số trong những năm gần đây, dự báo dân số giữa
thành thị và nông thôn theo các giai đoạn phát triển đến năm 2015 và 2020 như sau:
- Đến năm 2015: 17.697.300 người (Thành thị có 9.910.500 người và Nông
thôn có 7.786.800 người). 9
- Đến năm 2020: 19.285.400 người (trong đó: thành thị có 11.183.800 người
và nông thôn có 8.098.600 người).
VI.2 - Định hướng phát triển đô thị và dân cư
VI.2.1 - Định hướng chung cho các tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam
- Kết hợp phát triển hệ thống đô thị theo cực và trục một cách hợp lý. Từ nay
đến năm 2015 tập trung phát triển khu vực trung tâm của vùng từ TPHCM lên Biên
Hòa xuống Vũng Tàu theo hành lang QL51 và hành lang từ trung tâm TPHCM qua
Thủ Thiêm, Cát Lái đi Nhơ
n Trạch.
- Không gian đô thị của vùng sẽ từng bước mở rộng về mọi phía, trong đó lấy
TPHCM làm trung tâm. Trước hết, mở mạnh về hướng Thủ Đức, Bình Dương, Nam
và Bắc TP. Hồ Chí Minh.

Do dòng chảy tạm thời bao gồm các dạng sau:
+ Đồng bằng xâm thực tích tụ trước và giữa núi: t
ạo thành dải bao quanh và nối
liền giữa các núi. Bề mặt dải đồng bằng hơi nghiêng từ chân núi ra xung quanh và có
độ cao tuyệt đối 5
÷ 15m, độ dốc trung bình 2
o

÷
5
o
. Tuổi giả định là Pleistocen -
Holocen (Q
1
- Q
2
). 10
+ Bề mặt các nón phóng vật, vạt gấu sườn tích: phân bố xung quanh các khối
núi sót lớn và tạo thành dải khá liên tục xung quanh các khối núi Bà Rá, núi Bà Đen,
núi Ông Thành phần gồm cát, sạn đến dăm, tảng có kích thước lớn. Tuổi giả định là
Pleistocen - Holocen (Q
1
- Q
2
).
Do dòng chảy thường xuyên
+ Bãi bồi thấp và bãi giữa lòng: phân bố ven bờ các sông suối lớn và những

phía nam sông Lá Buông. Bậc thềm gồm nhiều đồi có độ cao tuyệt đối 40
÷ 80m, độ
dốc sườn 3
o
÷ 5
o
. Bề mặt thềm có các quá trình bóc mòn, rửa trôi phát triển mạnh mẽ.
VII.1.2 - Các dạng địa hình mài mòn - tích tụ
Bãi doi ngầm ven bờ: Các bãi doi ngầm ven biển có bề mặt khá bằng phẳng,
thành phần chủ yếu là cát có độ mài tròn và chọn lọc tốt.
Bãi biển tích tụ đôi nơi có rừng cây nước mặn: Phân bố thành đoạn không liên
tục, đáng kể nhất là các đoạn bờ biển từ Vũng Tàu đế
n Duyên Hải.
Bãi biển mài mòn: Phân bố tập trung ở ven biển tỉnh TP. Vũng Tàu (khu vực
xung quanh núi Lớn, núi Nhỏ) và Long Hải. Các bãi biển nằm sâu tới 2m dưới mực
thủy triều cao nhất.
Dải tích tụ ven bờ (giồng cát): Phân bố ở khu vực bờ biển Duyên Hải (thành
phố Hồ Chí Minh) đến Vũng Tàu. Các giồng có dạng kéo dài hình vòng cung theo
hướng đông bắc - tây nam, rất ít giồng phát triển theo hướng kinh tuyến hoặc vĩ tuy
ến.
Dải tích tụ ven bờ: Có tên địa phương là “Giồng” cát. Các giồng cát cổ và hiện
đại phân bố dọc theo bờ biển Duyên Hải (thành phố Hồ Chí Minh). Các giồng cát có
hình vòng cung chủ yếu theo hướng đông bắc - tây nam với thành phần chủ yếu là cát
màu vàng, nâu vàng. Tuổi Holocen giữa - muộn (Q
2
2 - 3
). 11

- Trũng tích tụ đầm lầy ven sông lớn: phân bố ở các thung lũng sông Đồng Nai,
sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Chúng có dạng kéo dài theo hướng dòng chảy.
- Trũng đầm lầy trên đồng bằng: chúng phân bố rải rác trên đồng bằng miền hạ
lưu các hệ thống sông suối trong vùng với nhiều hình dạng và kích thước khác nhau.
Phần lớn có dạng hình cánh cung theo hướng phát triển của các đới giồng cát. Thành
ph
ần gồm bột sét chứa xác thực vật, bột lẫn cát.
- Bồn trũng tích tụ trên vùng chia nước: chúng phân bố rải rác trên các dải đồi,
các bề mặt san bằng, những vùng chia nước của các sông suối thuộc hệ thống sông Bé,
sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Các bồn trũng có dạng đẳng thước kéo dài theo
phương đông bắc - tây nam như trũng ở thượng nguồn sông Nuy, thượng nguồn suối
Dóc (Bình Phước), trũng ở phía đ
ông bắc núi Bà Đen. Tuổi của các trũng có tuổi
Holocen muộn (Q
2
3
).
VII.1.4 - Đồng bằng tích tụ sinh vật (than bùn)
Phân bố ở khu vực rừng Đồng Tháp Mười (giữa hai sông Vàm Cỏ Đông và
sông Vàm Cỏ Tây). Bề mặt địa hình hơi trũng, độ cao tuyệt đối khoảng <2m. Thành
phần chủ yếu là than bùn, có bề dày 1
÷
3m. Tuổi thành tạo là Holocen muộn (Q
2
3
).
VII.1.5 - Dải cát ven viển với các dạng cồn cát
Phân bố tập trung ở ven biển ở Vũng Tàu đến Long Hải, tạo thành dải song
song với bờ biển, sườn phía đón gió có độ dốc 20
o

Hệ Permi, thống thượng, Hệ tầng Tà Vát (P
3
tv): Hệ tầng được Ma Công Cọ
xác lập (2000). Đây chính là hệ tầng Tà Thiết do Nguyễn Xuân Bao xác lập (1979).
Các đá của hệ tầng chỉ gặp trong lỗ khoan, phần trên mặt bị trầm tích Neogen phủ. Tập
hợp hóa thạch trong lỗ khoan khá phong phú. Mẫu huệ biển do Đặng Trần Huyên xác
định: Cyclocyclus sp. (aff. C. disparies J Dubatetshao), tuổi Permi. Tập hợp mẫu
Brachiopoda do Nguyễn Hữu Hùng xác định gồm: Chaoiella sp, Hustedia sp,
Uncinulus sp, Linoprodutus
sp, Marginifera sp, tuổi Permi muộn. Bề dày trầm tích
theo mặt cắt liên hệ khoảng trên 100m. Như vậy theo mặt cắt giữa hai lỗ khoan chiều
dày chung hai tập đến 200m.
VII.2.2 - Các hệ tầng Mezozoi
Thống hạ, hệ tầng Sông Sài Gòn (T
1
ssg): Hệ tầng Sông Sài Gòn do Bùi Phú
Mỹ xác lập (1979). Các trầm tích của hệ tầng có diện lộ yếu, chừng 5km
2
, nằm ở phía
Tây Bắc đứt gãy Suối Trầu. Các thành tạo của hệ tầng lộ không liên tục theo công
trình khai đào. Ở đây vẫn thấy cát kết màu xám xen với đá phiến sét, chiều dày khoảng
200mét. Dưới kính hiển vi các đá được mô tả là phiến sét-sericit-chlorit-thạch anh có
kiến trúc sét bột biến dư, cấu tạo phiến và cát kết ít khoáng có kiến trúc cát hạt không
đều, gắn kết kiểu xi măng lấp đầy, cấu t
ạo khối.
Hệ tầng Châu Thới (T
2
ct): Hệ tầng Châu Thới do Bùi Phú Mỹ, Vũ Khúc xác
lập (1979). Thành phần thạch học theo các mặt cắt khá giống thứ tự trầm tích của mặt
cắt chuẩn của hệ tầng, được bắt đầu bằng các tập cuội kết chuyển lên cát kết arkos, sét

của trầm tích khoảng 270km
2
nhưng phần lớn bị phong hoá
mạnh, một phần bị phủ bất chỉnh hợp dưới bazan hệ tầng Đại Nga (B/N
1
3
đn), đá gốc 13
tươi chỉ lộ tốt và được nghiên cứu theo các vách sông suối uốn khúc và công trình khai
đào. Các đá có đường phương kinh tuyến uốn nếp thoải với góc dốc 20 ÷ 30
0
và bị các
hệ thống đứt gãy làm xê dịch.
¾ Hệ tầng Chiu Riu: Hệ tầng Chiu Riu được Ma Công Cọ và nnk thành lập
(1999). Các trầm tích được liên hệ với hệ tầng Chiu Riu phân bố tập trung trên khu
vực phía tây sông Bé, chỉ gặp một diện nhỏ trên phần phía đông ở Tân Lập. Diện lộ
của trầm tích chừng 20km
2
theo các thung lũng xâm thực hoặc bờ vách sông Bé, còn
lại phần lớn bị phủ dưới trầm tích Kainozoi. Đặc trưng hệ tầng là các thành tạo trầm
tích lục địa hạt mịn vừa màu đỏ xen màu lục cấu tạo xiên chéo.
Hệ Jura, thống thượng - Hệ Creta (J
3
-K): Hệ tầng Long Bình do Bùi Phú Mỹ,
Dương Văn Cầu xác lập (1991) trên cơ sở nghiên cứu mặt cắt lỗ khoan 818 xã Long
Bình, huyện Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phần của hệ tầng gồm các đá
phun trào trung tính - felsic và tuf của chúng cùng với những lớp xen hoặc thấu kính
trầm tích. Lộ ra không nhiều ở phía đông và đông bắc ĐBNB: núi Gió (Bình Long),

sâu cho thấy các trầm tích N
1
3
sắp xếp thành một chu kỳ hoàn chỉnh: bắt đầu từ các
trầm tích hạt thô đến mịn và phần trên cùng gặp bề mặt phong hóa laterit. Các trầm
tích Miocen thượng (N
1
3
) gồm 3 kiểu nguồn gốc: Trầm tích sông (aN
1
3
), trầm tích hỗn
hợp sông - biển (amN
1
3
) và trầm tích biển (mN
1
3
).
Thành tạo phun trào bazan Miocen thượng (BN
1
3
): Phun trào bazan Miocen
thượng (BN
1
3
) chỉ phân bố ở vùng Phước Long và Đồng Xoài. Lộ ra dưới dạng các dải
đồi với độ cao 100 ÷ 200m, tập trung ở rìa phía đông bắc (khu vực phía bắc Thác Mơ,
bắc và nam Phú Riềng). Độ sâu phân bố thay đổi từ 56,5m đến 106,5m (lỗ khoan LN2
- Phước Bình). Trước đây các thành tạo β/N

1
): Phân bố từ Tây Ninh đến nam Bình
Dương, Thủ Đức, Cần Giờ và mở rộng về phía TNB. Bao gồm 3 kiểu nguồn gốc:
Trầm tích sông (aN
2
1
), trầm tích hỗn hợp sông biển (amN
2
1
) và trầm tích biển (mN
2
1
). 14
Thống Pliocen - phụ thống trung (N
2
2
): Các trầm tích Pliocen trung (N
2
2
) lộ ra
từ khu vực Tây Nam Lộc Ninh, Minh Hưng, Phước Vĩnh (bên trái đứt gãy Chơn
Thành - Phú Giáo), Biên Hòa, Tân Thành… sau đó chìm dần về phía TNB và từ Tây
Ninh, Thủ Dầu Một trở về TNB chỉ gặp trong các lỗ khoan. Nhìn chung, trầm tích
Pliocen thượng ở miền Đông Nam Bộ mỏng hơn miền Tây Nam Bộ và bao gồm 3 kiểu
nguồn gốc sau: Trầm tích sông (aN
2
2

Các trầm tích Pleistocen hạ (Q
1
1
) được chia thành 3 kiểu nguồn gốc: trầm tích
sông (a), trầm tích hỗn hợp sông - biển (am) và trầm tích biển (m).
Thống Pleistocen - phụ thống trung
Hệ tầng Xuân Lộc (B/Q
1
2
xl): Phân bố khá rộng, từ phía Đông của huyện Thống
Nhất tới phía Đông xã Gia Kiệm và vùng Đông Bắc thị trấn Xuân Lộc. Tiếp tục từ thị
trấn Xuân Lộc về đến phía Nam và Đông Nam tới sông Ray tiếp sang Bà Rịa - Vũng
Tàu. Đá bazan Xuân Lộc cấu tạo nên bề mặt địa hình khá bằng ứng với độ cao tuyệt
đối thường gặp từ 100 ÷ 130m. Chiều dày toàn tầng bazan Xuân Lộc t
ại vùng Xuân
Lộc từ 49,5m (LK763) đến 105m (LK745). Lớp bazan phong hóa ở trên cùng dày hơn
1m đến 4 ÷ 5m (LK736) gồm đất đỏ (bột, sét) ít mảnh đá bazan. Trong địa tầng bazan
thường có các gián đoạn được đánh dấu bằng bazan phong hóa mềm bở, phong hóa
hoàn toàn tạo tầng bột, sét có lẫn các cục đá bazan mềm.
Bazan Xuân Lộc có nhiều lớp bazan đặc sít xen kẽ bazan lỗ rỗng (trên, dưới 10
lớp). Mức độ nứt nẻ trong bazan không đồng đều, không có quy luậ
t. Bazan Xuân Lộc
phủ trực tiếp lên các thành tạo có tuổi cổ hơn: Neogen, Q
1
1
tb, J
2
, K , trên các bazan
hệ tầng Túc Trưng (N
2

gồm bazan olivin kiềm bazan,
andezitobazan dạng đặc sít xen lỗ hổng, bề dày thay đổi từ 5 ÷ 25m. Về tuổi của thành 15
tạo BQ
1
3
xl: phần bên dưới, bị phủ bởi tầng cuội sỏi lẫn thân cây hoá than với giá trị
tuổi tuyệt đối C
14
là 35.900 ± 2800 năm. Phía trên có các trầm tích cát, bột, sét chứa
mùn thực vật có tuổi tuyệt đối C
14
là 4500 ± 800 năm phủ lên.
Thống Holocen (Q
2
)
Trầm tích Holocen phân bố rất rộng rãi trên đồng bằng Nam Bộ. Riêng miền
ĐNB, trầm tích Holocen ít phát triển và chỉ gặp trong các thung lũng sông suối. Trong
các lỗ khoan, trầm tích Q
2
thường gặp từ trên mặt đến độ sâu 5,0 ÷ 45,0m. Bề mặt đấy
trầm tích không bằng phẳng mà là sự tiếp nối giữa các lồi và lõm như lồi Mộc Hoá -
Thủ Dầu Một và Tân Thạnh. Bề dày các trầm tích Q
2
không đồng đều do sự thay đổi
mực nước đại dương, chuyển động tân kiến tạo, nguồn cung cấp vật liệu trầm tích
Nhìn chung, phần lớn diện tích có bề dày trầm tích Q
2

Rift tuổi Eocen-Oligocen (E
2-3
) và các thành tạo trầm tích, phun trào, xâm nhập rìa lục
địa tích cực kiểu Đông Á cổ tuổi Jura muộn - Creta (J
3
-K), trầm tích lục nguyên-
cacbonat của bồn sau va mảng Jura sớm-giữa (J
1-2
), phun trào và xâm nhập kiểu biến
cải Trias giữa-muộn (T
2-3
), trầm tích lục nguyên-cacbonat kiểu bồn giữa cung Permi-
Trias sớm (P- T
1
) và rìa lục địa thụ động Đêvon-Cacbon sớm (D- C
1
).
Tất cả các đá có tuổi từ Đêvon đến Creta được các nhà địa chất dầu khí, ĐCTV
gọi là móng của bồn trũng Kainozoi. Các thành tạo Eocen - Đệ tứ là lớp phủ, được
chia ra 2 tổ hợp thạch kiến tạo: Rift Eocen-Oligocen (E
2-3
) và thềm của rìa lục địa thụ
động Miocen giữa-Đệ tứ (N
1
2
-Q).
Đối với các thành tạo trước Kainozoi (trước Kz), Nguyễn Xuân Bao, Phạm Huy
Long (2000) chia ra 5 THTKT đặc trưng cho 5 giai đoạn có chế độ địa động lực đã tồn
tại ở vùng như sau:
- THTKT rìa lục địa thụ động Đêvon-Cacbon sớm (D- C

đứt gãy ở ĐBNB làm 4 nhóm: nhóm phương tây bắc - đông nam, đông bắc - tây nam,
kinh tuyến và vĩ tuyến. Để đánh giá được ảnh hưởng của đứt gãy với sự phân bố
tướng, bề dày trầm tích N
1
2
- Q, sự cắt dịch các bề mặt đáy các thể địa chất N
1
2
- N
2
,
Q
1
, Q
2
báo cáo này sẽ phân chia và mô tả đứt gãy theo 3 nhóm tuổi sau: Đứt gãy hoạt
động trước Pleistocen, đứt gãy hoạt động trước Holocen và đứt gãy hoạt động trong
Holocen.
Đứt gãy hoạt động trước Pleistocen: Các đứt gãy hoạt động trước Pleistocen
được đề cập dưới đây là các đứt gãy cắt qua các thể địa chất N
1
2
- N
2
và bị phủ bởi các
trầm tích Đệ Tứ. Đó là 2 đứt gãy phát sinh và phát triển trước Kainozoi nhưng đã tái
hoạt động lại vào N
1
2
- N

1
2
trước Q
1
. Sự thay đổi qua đứt gãy hầu như không biểu hiện nhưng bề mặt
đáy của các tầng đều bị sụt xuống 10 ÷ 15m ở cánh tây nam. Đều này cho thấy rằng
đây là một đứt gãy hoạt động sau trầm tích với tính chất thuận bằng trong đó bằng là
chủ yếu.
Đứt gãy hoạt động trước Holocen: Gồm 2 đứt gãy chính hoạt động mạnh
trong Pleistocen có quy mô khu vực sau: đứt gãy đứt gãy Lộ
c Ninh - Thủ Dầu Một và
đứt gãy Rạch Giá - Tây Ninh. Các đứt gãy này đóng vai trò hết sức quan trọng trong
việc hình thành các đới cấu trúc tuổi Pleistocen.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status