Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của Vi ệt Nam - Pdf 12

Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của Việt Nam (GS.TS.Bùi Chí Bửu - Viện
trưởng Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam)
Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của Việt Nam
GS.TS.Bùi Chí Bửu
Viện trưởng Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam

Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, khai thác lợi thế tốt nhất của một nước nông
nghiệp đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Làm thế nào để Việt Nam trở thành
một quốc gia biết khai thác tốt nhất các thành tựu của công nghệ sinh học luôn là câu
hỏi lớn. Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của Việt Nam là một
hướng tiếp cận đáng trân trọng.
Công nghệ sinh học là một tập hợp các ngành khoa học và công nghệ (sinh học phân tử, di truyền
học, vi sinh vật học, sinh hóa học, thống kê sinh học, tin học ứng dụng, v.v ) nhằm tạo ra các quy
trình công nghệ khai thác ở quy mô công nghiệp, để sản xuất các sản phẩm có giá trị phục vụ đời
sống, phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Hiện nay, công nghệ sinh học thường được
thể hiện thông qua công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào và mô, công nghệ enzyme, và kỹ thuật di
truyền.
Sau 20 năm đổi mới và hội nhập, lợi thế so sánh của Việt Nam đã và đang được chứng minh
trong sản xuất nông nghiệp, với 60 triệu người sinh sống ở khu vực nông thôn, lao động trong
lĩnh vực nông nghiệp. Việt Nam là nước xuất khẩu hồ tiêu đứng đầu thế giới, xuất khẩu gạo, cà
phê đứng thứ nhì thế giới. Việt Nam đã từng chiếm lĩnh thị trường thế giới xuất khẩu về thanh
long, hạt điều; có thứ hạng cao trong xuất khẩu cá ba sa, cá tra, tôm, cao su, chè Kết quả này
cho thấy, thế mạnh của Việt Nam nằm ở lĩnh vực nông nghiệp. Để khai thác tốt những lợi thế của
nông nghiệp, cần tập trung ứng dụng thành tựu của công nghệ sinh học. Cụ thể là đầu tư vào
công nghệ sinh học, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, công nghiệp chế tạo máy móc nông
nghiệp, công nghiệp thủy lợi, công nghiệp chế biến nông sản khai thác tối đa lợi thế so sánh của
chúng ta trong quá trình hội nhập. Tính từ năm 1986 đến 2005, nông nghiệp Việt Nam tăng
trưởng trung bình với tốc độ 5,5%/năm, trong khi đó In-đô-nê-xi-a là 2,3%, Phi-líp-pin là 2,6%,
Thái Lan là 1,9%, Ma-lai-xi-a là 3,2%. Tăng trưởng đều và ổn định trong nông nghiệp đã góp
phần tích cực vào quá trình ổn định nền kinh tế và xóa đói, giảm nghèo rất thành công ở Việt
Nam.

trồng lúa đang là vấn đề nghiêm trọng của Việt Nam.
Công nghệ sinh học sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển giống cây
trồng thích nghi điều kiện khô hạn và kỹ thuật canh tác tưới nước tiết kiệm. Đầu tư trong lĩnh
vực công nghệ sinh học rất tốn kém, nhất là trong điều kiện các quốc gia đang phát triển. Do vậy,
để phát triển các quốc gia phải xác định một chiến lược phát triển hợp lý, trên cơ sở mục tiêu rõ
ràng, nhằm tiến tới một nền nông nghiệp bền vững.
Trong nông nghiệp, ứng dụng của công nghệ sinh học tập trung vào những lĩnh vực chính như
chuyển đổi gen mang những tính trạng tốt vào giống cây trồng mà phương pháp chọn giống
truyền thống không tạo ra được; tạo giống đồng hợp tử thông qua nuôi cấy túi phấn; ứng dụng
kỹ thuật tái tổ hợp DNA; ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống cây trồng; phân tích đa dạng
di truyền, tạo ra những chế phẩm sinh học trong bảo vệ cây trồng, vật nuôi (thí dụ, vac-xin, thuốc
bảo vệ thực vật, KIT chẩn đoán nhanh dịch bệnh, sinh khối lên men vi sinh giàu đạm, giàu
vitamin, ), công nghệ chế biến nông sản nhờ vi sinh vật và enzyme, xử lý môi trường thông qua
công nghệ phân hủy rác thải và chất ô nhiễm.
Thế giới và vấn đề ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ
Năm 2006 đánh dấu năm đầu tiên của thập niên thứ hai mà nhân loại thực hiện thương mại hóa
cây trồng “biến đổi gen” (2006 - 2015). Trong năm 2007, diện tích cây trồng biến đổi gen tiếp tục
phát triển, 12 triệu nông dân thuộc 23 nước tham gia phát triển 114,3 triệu ha cây trồng “biến
đổi gen”, so sánh với 2005: có 8,5 triệu nông dân thuộc 21 quốc gia đã gieo trồng 90 triệu ha.
Diện tích trồng cây biến đổi gen của toàn thế giới gia tăng một cách ấn tượng hơn 60 lần trong
vòng 11 năm thương mại hóa, với tốc độ tăng nhanh nhất trong lịch sử chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật cây trồng.
Diện tích gieo trồng cây biến đổi gen nhiều nhất ở Mỹ, ác-hen-ti-na, Bra-xin, Ca-na-đa, Ấn Độ,
Trung Quốc,
Năm 2006, những nước này dẫn đầu trồng cây biến đổi gen xét về diện tích; ấn Độ là nước đầu
tiên hoán chuyển vị trí của Trung Quốc để được xếp hạng 5 nhờ phát triển diện tích trồng bông
chuyển gen Bt nhiều hơn Trung Quốc.
Đậu tương biến đổi gen là cây biến đổi gen chính trong năm 2005, chiếm 58,6 triệu ha (57% cây
biến đổi gen của thế giới), tiếp theo sau là ngô (25,2 triệu ha, chiếm 25%), bông vải (14,4 triệu
ha, chiếm 13%), canola (4,8 triệu ha, chiếm 5%). Cỏ alfalfa kháng thuốc cỏ, cây trồng biến đổi

cây trồng biến đổi gen sẽ phát triển khá nhanh và quản lý nhà nước sẽ phải vào cuộc với sự
chuẩn bị ngay từ bây giờ.
Nguồn nhân lực phải luôn luôn được nhấn mạnh trong bất cứ dự án hợp tác nào về lĩnh vực
công nghệ sinh học. Bởi vì chúng ta phải quản lý những trang thiết bị rất đắt tiền, cần có những
chuyên viên lành nghề, những cán bộ đầu ngành có định hướng nghiên cứu đúng đắn. Việc đào
tạo cán bộ trẻ kể cả ngắn hạn và dài hạn phải được ưu tiên số một. Đây là khâu yếu nhất của
Việt Nam so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Phi-líp-pin.
Câu hỏi đặt ra cho Việt Nam và các nước đang phát triển là làm thế nào để những thành tựu mới
nhất về công nghệ sinh học được áp dụng và tạo được sự cân xứng trong đầu tư so với phương
pháp nông nghiệp truyền thống? Tổ chức quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp quốc gia (ISNAR)
đã khuyên chúng ta rằng: Việt Nam (1) nên có một chính sách và một kế hoạch rõ ràng trong
nghiên cứu công nghệ sinh học; (2) tăng cường hợp tác với các nước và các viện nghiên cứu
quốc tế (kể cả tư nhân) ở những nước công nghiệp; (3) tạo ra cơ chế hấp dẫn tư nhân tham gia
thông qua tuyên truyền về hiệu quả của công nghệ sinh học trong giải quyết những vấn đề then
chốt đối với nông dân nghèo. Lịch sử phát triển công nghệ sinh học trên thế giới vừa qua cho
thấy, ban đầu chúng được hình thành từ tiền đầu tư của nhà nước, sau đó những cải biến về di
truyền phần lớn do tiền đầu tư của tư nhân, với những hoạt động dịch vụ nông nghiệp rất tích
cực và năng động. Như vậy, chúng ta phải có những điều chỉnh có tính chất định hướng về quan
hệ giữa Nhà nước và tư nhân, cải tiến mối quan hệ này một cách tốt nhất. Hiện ở Mỹ có tới 1.300
công ty công nghệ sinh học, đạt doanh thu khoảng 12,7 tỉ USD trong 1998 và tăng lên 34 tỉ USD
vào năm 2006. Trong khi ở Việt Nam, vai trò của tư nhân vô cùng mờ nhạt, do phần lớn họ chưa
hiểu biết đầy đủ về công nghệ sinh học, các văn kiện pháp lý có liên quan chưa được xây dựng
hoàn chỉnh so với Phi-líp-pin, Thái Lan.
Mối lo lắng của chúng ta đối với cây biến đổi gen (GMO) là liệu nó có thể gây ung thư cho con
người hay không? Những chỉ thị phân tử chọn lọc như gen kháng thuốc cỏ có thể tạo ra loài thực
vật có tên gọi “siêu cỏ”?, hoặc gen kháng thuốc kháng sinh hygromycine có thể tạo ra những
nguy hiểm gì về cách chữa trị bệnh sau này? Phân tích đánh giá mức độ rủi ro là yêu cầu bắt
buộc.
Hiện nay, lập trường của các nước công nghiệp được phân thành hai nhóm ý kiến trái ngược
nhau. Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển phần lớn rất dè dặt, vì trong tay họ chưa có sản

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát khẳng định, các kết quả nghiên cứu đã tạo ra hoặc tiếp nhận và làm chủ
được một số CNSH hiện đại đưa vào ứng dụng hiệu quả chủ yếu tập trung ở những lĩnh vực chính như chuyển gen
mang tính trạng tốt vào giống cây trồng, vật nuôi nhằm tạo ra những giống có năng suất cao, thích nghi với điều
kiện thời tiết khắc nghiệt, có khả năng chống chịu dịch bệnh hoặc tạo ra các chế phẩm sinh học bảo vệ cây trồng, vật
nuôi.
Chương trình trọng điểm
phát triển và ứng dụng
CNSH trong lĩnh vực
NN&PTNT giai đoạn
2011-2015 đã chọn tạo
được 42 giống cây trồng
nông nghiệp bằng công
nghệ chỉ thị phân tử và
công nghệ tế bào; tạo
được 33 dòng cây trồng
chuyền gen; xây dựng quy
trình và sản xuất 8 chế
phẩm sinh học phòng trừ
tuyến trùng, nấm, vi
khuẩn gây bệnh vùng rễ
các cây cà phê, hồ tiêu,
bông vải, lạc, vừng, ngô, 5
loại chế phẩm sinh học sử
dụng trong bảo quản, chế
biến rau quả tươi, thực
phẩm chế biến
Nhiều địa phương đã ứng dụng CNSH vào trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao. Đơn cử như việc triển khai
14 đề tài chọn tạo giống cây trồng nông, lâm nghiệp bằng phương pháp chỉ thị phân tử đã chọn tạo được 7 giống
lúa chịu hạn, 2 giống lúa kháng đạo ôn, 4 giống lúa kháng rầy nâu, 2 giống lúa thơm chất lượng cao, 2 giống chè có
triển vọng về năng suất, chất lượng, 8 giống bông kháng bệnh xanh lùn Trong lĩnh vực chăn nuôi, các kết quả

Ngày 12/1, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt
"Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông
nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020".

Chương trình sẽ nhằm vào mục tiêu tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi, chủng vi sinh vật, các
chế phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao
phục vụ tốt nhu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông
thôn. Nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá, tăng nhanh tỷ lệ nông,
lâm, thuỷ sản chế biến phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
Cụ thể, giai đoạn 2006 - 2010: Tạo ra hoặc tiếp nhận và làm chủ được một số công nghệ sinh học
hiện đại và ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất, phù hợp với điều kiện cụ thể của ngành nông
nghiệp Việt Nam; Hình thành và từng bước phát triển ngành công nghiệp sinh học nông nghiệp
để sản xuất các sản phẩm, hàng hoá chủ lực ở quy mô công nghiệp với chất lượng và sức cạnh
tranh cao phục vụ tốt cho việc tiêu dùng và xuất khẩu; Chọn tạo được một số giống cây trồng,
vật nuôi bằng kỹ thuật sinh học phân tử và áp dụng vào sản xuất; chọn tạo được một số dòng cây
trồng biến đổi gen trong phạm vi phòng thí nghiệm và thử nghiệm trên đồng ruộng; Tăng cường
được một bước cơ bản trong việc xây dựng tiềm lực cho công nghệ sinh học nông nghiệp thông
qua đào tạo được đội ngũ cán bộ công nghệ sinh học chuyên sâu, có trình độ cao và chất lượng
tốt cho một số lĩnh vực chủ yếu; đào tạo phổ cập lực lượng ứng dụng công nghệ sinh học ở các cơ
sở sản xuất; hoàn thành việc xây dựng và đưa vào sử dụng hệ thống các phòng thí nghiệm trọng
điểm, hiện đại; tiếp tục đầu tư nâng cấp và mở rộng mạng lưới các phòng thí nghiệm thông
thường ứng dụng công nghệ sinh học nông nghiệp.
Giai đoạn 2011 - 2015: Phát triển mạnh mẽ công nghệ sinh học hiện đại, trong đó tập trung
mạnh vào công nghệ gen; tiếp cận các khoa học mới như: hệ gen học, tin sinh học, protein học,
biến dưỡng học, công nghệ nano trong công nghệ sinh học nông nghiệp; đưa công nghệ sinh học
nông nghiệp nước ta đạt trình độ khá trong khu vực. Đào tạo được nguồn nhân lực chuyên sâu
cho một số lĩnh vực công nghệ sinh học mới; tập trung đầu tư nâng cấp và hiện đại hoá một số
phòng thí nghiệm công nghệ sinh học nông nghiệp đạt trình độ tiên tiến của thế giới. Đưa một số
giống cây trồng biến đổi gen vào sản xuất; ứng dụng thành công nhân bản vô tính ở động vật
Phát triển mạnh ngành công nghiệp sinh học nông nghiệp, tạo lập thị trường thuận lợi để thúc

số, sự thu hẹp diện tích đất nông nghiệp do phát triển đô thị, tình trạng đất đai suy kiệt dẫn đến sản lượng nông sản
giảm. Vì vậy, ngành nông nghiệp Việt Nam đã sớm bắt tay vào tìm kiếm những giải pháp tối ưu nhất để kịp thời ứng phó
với những hiện tượng trên nhằm phát triển một nền nông nghiệp xanh bền vững, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
và góp phần đảm bảo an ninh lương thực thế giới. Và trong số những giải pháp đó, CNSH được xác định là một mũi
nhọn mang tính đột phá và chiến lược.
Đánh giá về sự phát triển của CNSH nông nghiệp Việt Nam, bà Nguyễn Thị Xuân Thu, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn cho biết: “CNSH nông nghiệp Việt Nam đạt được nhiều thành tựu. Đó là các nghiên cứu, ứng dụng
thành công công nghệ gen trong chọn tạo giống các loại cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao và kháng
bệnh, nghiên cứu ứng dụng công nghệ tế bào trong nhân nhanh các loại giống cây trồng, các giống gia súc tốt, giống
thủy sản sạch bệnh. Các nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh để tạo ra các chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất
phân bón, chế phẩm bảo vệ thực vật, xử lí môi trường nuôi trồng thủy sản và ứng dụng công nghệ enzym, protein trong
sản xuất thức ăn chăn nuôi, vacxin thú y ".

Vi phẫu loại bỏ tuyến đực trong sản xuất tôm càng xanh toàn đực ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2.
(Ảnh: Lê Minh)
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Bình, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ Sinh học Tp. Hồ Chí Minh
làm thí nghiệm tại phòng lên men thử nghiệm của trung tâm. (Ảnh: Lê Minh)
Đánh giá phôi tại Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam. (Ảnh: Lê Minh)
Kiểm tra sự phát triển của cây trong dây chuyền công nghệ chiếu sáng
phục vụ việc ươm giống tại Trường Đại học Cửu Long. (Ảnh: Lê Minh)
Giảng viên khoa CNSH Trường Đại học Cửu Long hướng dẫn sinh viên
nghiên cứu sự phát triển của cây chuối già cui nuôi cấy mô. (Ảnh: Lê Minh)
Các cán bộ Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu chuyển nạp gen tạo lúa kháng hạn. (Ảnh: Lê Minh)
Nuôi cấy mô áp dụng CNSH tại Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam. (Ảnh: Lê Minh)
Hệ thống kính quang phản ứng sinh học trong nuôi tảo sạch phục vụ
nuôi trồng thủy sản của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Thiết bị lên men thử nghiệm chế phẩm vi sinh kháng bệnh phục vụ nuôi trồng thủy sản
tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Một góc phòng thí nghiệm ở Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Nguyễn Luân)
«

người nông dân có thể chủ động được thời vụ trồng, thu hoạch. Viện cũng đang tiến hành các đề tài nghiên cứu lớn,
trong đó đáng chú ý có đề tài xác định tác nhân gây bệnh chổi rồng trên nhãn bằng kĩ thuật sử dụng marker phân tử để
nhân đoạn ADN định danh, hay đề tài phân loại tác nhân gây bệnh và nghiên cứu lai xa giữa giống xương rồng quả màu
vàng với giống thanh long ruột trắng để tạo ra giống thanh long ruột vàng có hàm lượng carotenoids cao giúp chống
được bệnh lão hóa ở người.
Tại Tp. Hồ Chí Minh, Trung tâm Công nghệ Sinh học Tp. Hồ Chí Minh ra đời vào năm 2004 với tổng kinh phí đầu tư xây
dựng khoảng 100 triệu USD. Bước đầu, Trung tâm đã đạt được một số kết quả trong ứng dụng CNSH vào lai tạo giống
hoa lan, sưu tập và định danh hơn 100 giống lan rừng Việt Nam quý hiếm; nghiên cứu thành công bộ Kit PCR phát hiện
bệnh virus; nghiên cứu ứng dụng thành công hệ thống ngập chìm tạm thời trong nhân giống cấy mô thực vật có ưu thế
vượt trội về số lượng cây con, tỉ lệ cây sống và rút ngắn thời gian; nghiên cứu về các loại vacxin ngừa bệnh gan thận
mủ trên cá tra bằng công nghệ tái tổ hợp gen, gây đột biến; nghiên cứu ứng dụng công nghệ tế bào động vật để hoàn
thiện quy trình tạo phôi bò bằng phương pháp thụ tinh in vitro… Năm 2007, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao rộng hơn
80ha được thành lập với mục tiêu chuyển giao đến thực tế các mô hình tiến bộ khoa học kĩ thuật nông nghiệp. Hiện nay,
100% diện tích dành cho các nhà đầu tư đã được lấp đầy với 14 dự án. Bước đầu, tại đây đã chuyển giao thành công
một số mô hình nuôi cấy mô giống lan quý, giống chuối đặc sản, giám định bệnh bằng CNSH phân tử, chuyển gen
kháng bệnh trên cây cà chua
Bên cạnh việc nghiên cứu lai tạo các giống cây trồng, các nhà khoa học Việt Nam cũng nghiên cứu ứng dụng các thành
quả của CNSH vào sản xuất phân bón hữu cơ nhằm hướng đến nền nông nghiệp xanh bền vững. Điển hình như Công
ty Cổ phần Thiên Sinh và Công ty TNHH Hữu cơ là hai đơn vị đi đầu trong ứng dụng công nghệ lên men vi sinh để sản
xuất các loại phân bón hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh cung cấp dưỡng chất cho cây trồng, góp phần cải tạo đất, bảo
vệ môi trường. Hiện nay, mỗi năm, hai đơn vị này cung cấp cho thị trường hàng trăm nghìn tấn phân bón hữu cơ chất
lượng cao các loại, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản xuất trong nước, đặc biệt là khu vực phía Nam và dành một phần để
xuất khẩu.
Cá chẽm sinh sản nhân tạo, có chất lượng cao của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Thế hệ ca tra bố mẹ, CNSH can thiệp từ khâu chọn giống, làm nguồn sản xuất cá tra
giống tốt tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2. (Ảnh: Lê Minh)
Phòng bảo quản và chăm sóc giống ở Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Dây chuyền đóng gói sản phẩm phân bón thương hiệu KOMIX của Công ty Cổ phần Thiên Sinh. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Dây chuyền ủ lên men vi sinh sản xuất phân bón hữu cơ sinh học HUMIX của Công ty TNHH Hữu Cơ. (Ảnh: Lê Minh)
Kiểm tra chất lượng phân bón tại phòng thí nghiệm Công ty Cổ phần Thiên Sinh. (Ảnh: Nguyễn Luân)

nghiên cứu ứng dụng cải thiện sinh sản để sản xuất thế hệ bò con có giới tính theo định hướng chăn nuôi, tạo phôi nuôi
trong bụng mẹ để giải bài toán thích nghi tốt hơn góp phần phát triển chăn nuôi tại khu vực Tp. Hồ Chí Minh.
Hiện nay, CNSH thế giới đã có những bước tiến vượt bậc, một trong những thành tựu có thể kể đến là cây trồng biến
đổi gen (GMO), tức việc con người sử dụng công nghệ gen để tạo ra những loại cây trồng có các đặc tính như mong
muốn. Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng đã bắt đầu tiếp cận với phương pháp này. Tuy nhiên, do vấn đề cây trồng
biến đổi gen hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, chủ yếu là trong giới nghiên cứu. Vì thế, Việt Nam đã và đang tiếp
nhận và ứng dụng một cách có chọn lọc những thành tựu khoa học về GMO theo hướng đem lại lợi ích kinh tế và đảm
bảo an toàn sinh học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status