NGUYÊN TÁC VÀ BẢN DỊCH "NHẬT KÝ TRONG TÙ" - NHỮNG CÂU CHUYỆN NHỎ - Pdf 12

NGUYÊN TÁC VÀ BẢN DỊCH "NHẬT KÝ
TRONG TÙ" - NHỮNG CÂU CHUYỆN NHỎ Đã 49 năm trôi qua, sắp tròn nửa thế kỷ nhật ký trong tù - Tập nhật ký thơ viết
bằng chữ Hán của chủ tịch Hồ Chí Minh được dịch, in (năm 1960). Đã có biết bao bài
viết, công trình nghiên cứu về tập thơ này nhưng vẫn còn những điều cần tìm hiểu,
giải mã. Chẳng hạn như bài tân xuất ngục, học đăng sơn (mới ra tù, tập leo núi) không
có trong nguyên tác tại sao và bằng cách nào lại có trong bản dịch? Vẫn còn có một số
bài dịch và giảng chưa trúng (Nếu không muốn nói là sai!) như bài lai tân, được giảng
dạy trong chương trình ngữ văn lớp 11: sách giáo khoa đã ép giáo viên và học sinh
hiểu một cách khiên cưỡng (sai !) ý của bài thơ .v.v Nhân cuộc vận động học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tôi xin góp đôi câu chuyện nhỏ để hiểu
thêm, hiểu đúng nhật ký trong tù. Đây chỉ là những chuyện nhỏ chứ không phải là
những khám phá, phát hiện to tát gì !
Có một văn bản quí đang ngủ !
Trong lần in đầu tiên tập nhật ký trong tù (tháng 4 - 1960) nhà xuất bản văn học
đã in kèm bài tân xuất ngục, học đăng sơn với lời chú: Bài thơ này không có trong tập
Nhật ký trong tù vì sáng tác sau lúc Hồ Chủ Tịch ra khỏi nhà lao. Về sau tất cả các
bản in nhật ký trong tù của các nhà xuất bản khác đều có in bài này, và như một lẽ tự
nhiên, tân xuất ngục, học đăng sơn là bài thơ không thể thiếu trong nhật ký trong tù!
Tò mò một chút, ta có thể đặt câu hỏi: những người làm sách nhật ký trong tù lấy đâu
ra bài tân xuất ngục, học đăng sơn để in trong lần xuất bản đầu tiên?”.
Về bài thơ này, ít nhất đã có hai lần chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến. Trong bài
viết Quyển Nhật ký trong ngục của Bác, in trên báo nhân dân ngày 19 - 5 - 1957,
Nguyễn Tâm (Một bút danh của Bác Hồ) đã viết: bị giam ở Liễu Châu hơn một năm
rưỡi, tóc bị bạc, răng bị long, mắt bị kém, chân bị yếu. Bác tự bảo: Hoạt động cách
mạng bí mật mà chân cẳng yếu, là một điều rất nguy hiểm. Bác quyết tâm tập đi, cứ
mỗi ngày thêm vài bước. Rồi tập trèo núi, cứ mỗi ngày thêm vài bước. Có lúc mệt quá
nhưng cũng cố bò cho đủ mức đã định. Mấy tháng tập luyện, hôm lên đến đỉnh núi,
Bác làm một bài thơ chữ Nho, mong gửi tin về nước. Xin tạm dịch thơ ấy như sau:

rồi Người chợt nhớ và viết vào khoảng trống của tờ công văn một bài thơ chữ Hán,
sau đó Người gửi trả lại Viện Văn học. Bài thơ đó chính là bài tân xuất ngục, học
đăng sơn. Viện Văn học đã nhanh chóng dịch, in bài thơ này vào nhật ký trong tù.
Đơn giản vậy thôi nhưng nếu không có một chút may mắn (và tình cờ), tôi không thể
tìm được câu trả lời tự mình đặt ra và văn bản đó vẫn chìm trong giấc ngủ! Nay tôi
gửi bản chụp bút tích toàn bộ bài thơ Tân xuất ngục, học đăng sơn (4 câu) cho độc giả
yêu quí. Hy vọng một ngày nào đó toàn bộ văn bản kể trên sẽ tỉnh giấc!
Năm 2006, nhận nhiệm vụ của Hội Nhà Văn Việt Nam và Báo Cao Bằng, tôi
đã có một chuyến khảo sát dài ngày theo bước chân của người tù Hồ Chí Minh trên
đất Quảng Tây. Trước khi đi, anh Hữu Thỉnh dặn đi, dặn lại: Qua đấy, Uyên nhớ thu
thập tài liệu, hiện vật liên quan đến Bác. Tôi hứa: Em sẽ cố . Hứa vậy thôi, chắc gì còn
sót lại phần mình, sau ngần ấy năm! Sau chuyến công tác, tôi nộp cho Bảo tàng văn
học Việt Nam một An bum ảnh gần 30 ảnh cỡ 20 x 30, chụp những địa điểm Bác đã ở
tù, cùng một số tư liệu. Tiện tay tôi kèm vào bản chụp bút tích Tân Xuất Ngục, Học
Đăng Sơn và đề xuất ý kiến với Chủ tịch hội Nhà văn Việt Nam: Bảo tàng văn học
Việt Nam có được văn bản đó trưng bày thì tuyệt quá. Anh Hữu Thỉnh bảo: Mình sẽ
liên hệ với Viện Văn học!. Không biết anh Hữu Thỉnh có còn nhớ không?! Bây giờ
nghĩ lại, những tư liệu tôi thu được, nộp cho Hội nhà văn, nếu có một chút giá trị thì
giá trị nhất có lẽ là bản chụp tài liệu từ Viện Văn học. Hoá ra của quí ở ngay gần ta,
cần gì đi xa tìm kiếm!
Đi tìm Tây Phong Lĩnh.
Vẫn trong mạch tìm hiểu tân xuất ngục, học đăng sơn trong một chuyến đi
Trung Quốc, đến thành phố Liễu Châu vào buổi tối tôi đề nghị với phó Giáo sư Ôn Kỳ
Châu, chuyên viên nghiên cứu văn hoá, Cục văn hoá Liễu Châu: Đưa tôi lên Tây
Phong Lĩnh nhé. Phó giáo sư Ôn Kỳ Châu gật đầu đồng ý. Sáng hôm sau, trời mưa
nhỏ, xe của Cục văn hoá đến đón tôi và giáo sư Mã Kim án (người bạn đồng hành,
công tác tại Viện khoa học xã hội tỉnh Quảng Tây). Xe vượt qua cầu Liễu Giang, đi về
phía Tây, đến đại lộ Liễu Thạch, phía xa hiện ra một ngọn núi thấp, xanh màu cây lá.
Phó giáo sư Ôn Kỳ Châu bảo: Núi Ngư Phong - Tây Phong Lĩnh đó. Ngư Phong giờ
đã là một điểm du lịch hấp dẫn của thành phố Liễu Châu. Con đường nhỏ dẫn lên đỉnh

Trong việc giảng dạy nhật ký trong tù mấy chục năm qua những người soạn
sách ít chú ý tới thể loại của tác phẩm là Nhật ký có thể nói rằng quyển Nhật ký ấy là
một đoạn trong lịch sử hơn 40 năm đấu tranh cách mạng của Bác Hồ (Nguyễn Tâm),
nên soạn chưa được sát (có nhiều chỗ sai). Về vấn đề này tôi đã có một bài viết khá
kỹ, đăng trên báo Tiền phong từ năm 2006, chỉ ra ít nhất 8 chi tiết chưa chính xác
trong bài soạn Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh trong sách giáo khoa thí điểm lớp
11, Ban khoa học - xã hội và nhân văn, tập 2, bộ 1, tổng chủ biên Trần Đình Sử (nhà
xuất bản giáo dục, tháng 8 - 2005). Đến nay, xem sách giáo khoa, thấy vẫn nguyên xi!
(Trong một buổi giảng ở trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du, tôi có nói về bài
Lai Tân với giáo sư Trần Đình Sử, ông bảo: “Đó cũng là một cách đọc”). ở bài này tôi
không nhắc lại chuyện cũ mà chỉ bàn thêm về bài giảng Lai tân trong sách Ngữ văn
lớp 11.
Lai tân, giảng thế nào cho đúng? Khó mà dễ.
Lai tân
Giam phòng Ban trưởng thiên thiên đổ
Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền;
Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự,
Lai Tân y cựu thái bình thiên.
Nam Trân dịch
Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc
Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh;
Chong đèn huyện trưởng làm công việc,
Trời đất Lai Tân vẫn thái bình.
Trong bản dịch nhà thơ Nam Trân đã dịch chữ Thiêu đăng (nghĩa là đốt đèn)
thành chong đèn (điểm đăng). Việc thay đổi chữ này đã hướng người đọc theo cách
hiểu khác. (Cộng thêm chữ Biện công sự (làm công việc) được các nhà phân tích nắn
thành làm việc công) đủ dựng lên hình ảnh một ông huyện trưởng mẫn cán, làm việc
công tới tận khuya mà lơ là vịêc giám sát cấp dưới. Đó là một ông quan chăm chỉ,
nhưng quan liêu! Trên cơ sở bản dịch có người đã tán: Ngài (huyện trưởng) rất có thể
là một quan huyện mẫn cán, chứng cớ là đêm đêm “ngài” vẫn thức khuya để phê

Theo đồng chí tuỳ viên văn hoá Trung Quốc thì ở Trung Quốc câu này trước
hết có nghĩa là: Huyện trưởng đốt đèn hút thuốc phiện.
Để trả lời, Bác Hồ đã dùng bút chì xanh, đỏ gạch 3 chữ hút thuốc phiện đi, viết
thay vào 2 chữ làm việc (Lưu ý là Bác Hồ không viết làm việc công hay làm công
việc.)
Cách trả lời của Bác Hồ đậm tính ngoại giao. Anh không muốn xấu mặt vì có
ông huyện trưởng hút thuốc phiện thì gạch chữ hút thuốc phiện đi, còn trong nguyên
tác vẫn là huyện trưởng thiêu đăng biện công sự không hề sửa. Khi nhật ký trong tù
được in bằng chữ Hán, độc giả Trung Quốc hiểu theo truyền thống văn hoá và ngôn
ngữ Trung Quốc thế nào là quyền của họ.
Chắc chắn là nhà thơ Nam Trân nghiên cứu rất kỹ ý kiến trả lời của Bác Hồ,
thấy Bác gạch chữ hút thuốc phiện đi, dịch giả đã bằng mọi cách làm cho không còn
bóng dáng hút thuốc phiện trong bài thơ nên đã dịch thiêu đăng thành chong đèn, và
rồi những người giảng sau đó còn tích cực hơn biến chữ làm việc của Bác Hồ thành
làm công việc, làm việc công. Nếu ta dịch ngược câu Huyện trưởng chong đèn làm
việc công cho người Trung Quốc đọc thì với câu chữ đã thay như thế họ sẽ không thể
luận nổi câu đó nghĩa là: Huyện trưởng đốt đèn hút thuốc phiện.
Trong lần chuyện trò với nhà văn Phùng Nghệ, chủ tịch Hội nhà văn Quảng
Tây (Trung Quốc), tôi đọc bài LAI TÂN cho Phùng Nghệ nghe và hỏi ông về câu:
Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự. Phùng Nghệ bảo: Đó là tiếng lóng của vùng
Quảng Tây hay dùng để chỉ việc hút thuốc phiện. Sau này, tôi có nói chuyện “hút
thuốc phiện” với nhà văn, dịch giả Trần Đình Hiến trong một cuộc “tào lao” ở ban
sáng tác Hội nhà văn Việt Nam. Ông bảo: ừ, phải, phải, Trung Quốc có cả một quyển
từ điển tiếng lóng, dày lắm, để mình về tra cứu!
Sự việc chỉ đơn giản như vậy. Câu huyện trưởng thiêu đăng biện công sự,
người Trung Quốc hiểu là huyện trưởng đốt đèn hút thuốc phiện đã được ghi bằng
giấy trắng, mực đen chứ không chỉ là nghe nói nữa (ý kiến của tuỳ viên văn hoá đại sứ
quán Trung Quốc có thể đủ làm chứng cứ) và khi Bác Hồ viết bài LAI TÂN cũng là
viết với ý ấy, vậy thì cớ gì người Việt Nam không được giảng theo ý ấy! Phải giảng
như thế thì mới thấy được cái tầm của bài thơ, thấy lô gích của bài thơ mà không bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status