Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả trong công tác quản lý hệ thống công viên cây xanh ở thị xã Bắc Ninh - Pdf 12

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
Chương I: Cơ sở lý luận chung về hệ thống công viên cây xanh 5
I. Quản lý Đô thị và cơ sở hạ tầng Đô thị 5
1. Quản lý đô thị 5
2. Cơ sở hạ tầng đô thị 16
II. Khái quát về hệ thống công viên cây xanh đô thị 20
1. Nhiệm vụ, chức năng của hệ thống công viên cây xanh 20
2. Bộ phận cấu thành của hệ thống công viên cây xanh 21
3. Loại hình công viên cây xanh 23
III. Quản lý hệ thống công viên cây xanh đô thị 24
1. Sự cần thiết khách quan quản lý hệ thống công viên cây xanh 24
2. Mục tiêu của quản lý đối với hệ thống công viên cây xanh 25
3. Nhiệm vụ của tổ chức quản lý hệ thống công viên cây xanh 26
IV. Một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả trong công tác
quản lý hệ thống công viên cây xanh 27
1. Chỉ tiêu đánh giá 27
2. Phương pháp đánh giá 28
Chương II: Thực trạng hệ thống công viên cây xanh và công tác quản lý
hệ thống công viên cây xanh ở thị xã Bắc Ninh 30
I. Giới thiệu chung về thị xã Bắc Ninh 30
1. Đặc điểm tự nhiên 30
2. Đặc điểm kinh tế xã hội 32
II. Thực trạng hệ thống công viên cây xanh và công tác quản lý hệ thống
công viên cây xanh ở thị xã Bắc Ninh 34
1. Tình trạng của hệ thống công viên cây xanh ở thị xã Bắc Ninh 34
2. Thực trạng công tác quản lý hệ thống công viên cây xanh ở thị
xã Bắc Ninh 40
III. Đánh giá hiệu quả công tác quản lý hệ thống công viên cây xanh 51
1. Đánh giá hiệu quả 51
2. Những nguyên nhân gây ra tồn tại 53

Em mong sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp của thầy cô giáo. Em
xin chân thành cảm ơn các thầy cô.
Chuyên đề thực tập này có bố cục (ngoài lời mở đầu và kết luận) gồm
3 chương chính:
 Chương I: Cơ sở lý luận chung về hệ thống quản
lý hệ thống công viên cây xanh.
 Chương II: Thực trạng hệ thống công viên cây
xanh và công tác quản lý hệ thống công viên cây
xanh ở Thị xã Bắc Ninh.
 Chương III: Một số biện pháp nhằm phát huy hiệu
quả công tác quản lý hệ thống công viên cây xanh ở
thị xã Bắc Ninh.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG
CÔNG VIÊN CÂY XANH
I. Quản lý Đô thị và cơ sở hạ tầng Đô thị
1. Quản lý Đô thị
1.1 Đô thị
a. Khái niệm Đô thị:
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động
phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung
tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội
của cả nước, của một vùng miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hay
một vùng trong tỉnh, trong huyện.
Theo khái niệm này cần chú ý:
- Trung tâm tổng hợp: là những đô thị trung tâm tổng hợp, khi chúng
có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…
- Trung tâm chuyên nghành: những đô thị là trung tâm chuyên ngành
khi chúng có vai trò và chức năng chủ yếu về một số mặt nào đó như: công
nghiệp, du lịch…

b. Đặc trưng của đô thị
Đô thị là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của vùng và cả nước, có
vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế.
- Các vấn đề xã hội: Tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, thiên tai, sự
cố, hoả hoạn…
- Các vấn đề về kinh tế: cung cấp các dịch vụ công cộng, đảm bảo
công ăn việc làm, giao thông đi lại.
- Cơ sở hạ tầng đô thị hoàn chỉnh hoặc đã được quy hoạch và hoàn
chỉnh một phần, mật độ các công trình cao là đặc trưng cơ bản của đô thị. Cơ
sở hạ tầng, mật độ dân số cao và quy mô dân số là những yếu tố tạo ra
những lợi thế, hiệu quả kinh tế về tính tập trung của đô thị.
- Cơ cấu lao động, sự phân công lao động theo hướng chuyên môn
hoá cao là tiền đề cơ bản của việc nâng cao năng xuất lao động.
c. Mô hình cơ bản của đô thị
- Mô hình là sóng điện:
Mô hình này do nhà xã hội học Ernest Burgess (Chicago-Mỹ) đề xuất
năm 1925, theo mô hình này thành phố chỉ có một trung tâm và 5 vùng đồng
tâm (trừ trường hợp nó bị giới hạn các điều kiện địa lý).
Đặc điểm của mô hình đô thị là tất cả các khu vực đều có xu hướng
mở rộng (các khu vực không bị bó hẹp, đứng im). Dân cư thuộc các tầng lớp
có thu nhập cao và các khu công nghiệp có xu hướng chuyển ra khỏi thành
phố.
- Mô hình thành phố đa cực:
Mô hình này do 2 nhà địa lý Harris và Ullman đưa ra năm 1945, mô
hình chủ yếu tính đến các dạng đô thị mới phát sinh do sự phát triển của các
phương tiện giao thông.
Đặc điểm của mô hình này là linh hoạt và có tính đến vị trí địa hình.
Cơ sở xây dựng mô hình là thành phố có cơ cấu kiểu tế bào, cho phép xây
dựng nhiều trung tâm.
- Mô hình phát triển theo khu vực:

trở lên.
+ Có cơ sở hạ tầng được xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh.
+ Quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên.
+ Mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/Km
2
trở lên.
- Đô thị loại I
Đô thị loại I cần phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
+ Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa
học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và
quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh
thổ liên tỉnh hoặc của cả nước.
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85%
trở lên.
+ Có cơ sở hạ tầng được xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh.
+ Quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên.
+ Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/Km
2
trở lên.
- Đô thị loại II
Đô thị loại II cần đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
+ Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá, khoa
học kỹ thuật, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh
hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của một vùng
lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước.
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80%
trở lên.
+ Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng
bộ và hoàn chỉnh.
+ Quy mô dân số từ 25 vạn người trở lên.

- Đô thị loại V
Đô thị loại V phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
+ Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về
chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội của một huyện hoặc một cụm xã.
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 65%
trở lên.
+ Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ
và hoàn chỉnh.
+ Quy mô dân số từ 4 nghìn người trở lên.
+ Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/Km
2
trở lên
1.2. Quản lý đô thị
a. Khái niệm quản lý đô thị
Quản lý đô thị đã trở thành một chủ đề rất quan trọng đối với các
Chính phủ và các tổ chức phát triển quốc tế trên thế giới. Quản lý theo nghĩa
rộng là làm cho các công việc được hoàn thành thông qua các nhân sự. Quản
lý liên quan đến việc ra quyết định hoặc lựa chon cách thức kế hoạch tổ
chức, bảo vệ và sử dụng các nguồn lực có được để sản xuất hàng hoá và dịch
vụ phục vụ cho việc tiêu thụ, thương mại hoặc để xây dựng vốn và tài sản
phát triển trong tương lai.
Quản lý đô thị là một khoa học tổng hợp được xây dựng của nhiều
khoa học chuyên ngành, bao gồm hệ thống các chính sách, cơ chế, biện pháp
và phương tiện được chính quyền nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện
và kiểm soát quá trình tăng trưởng, phát triển đô thị, nhằm thực hiện một
cách có hiệu quả các mục tiêu dự kiến.
Quản lý đô thị bao gồm nhiều lĩnh vực, nhưng chủ yếu là sản phẩm
kinh doanh, dịch vụ; quy hoạch kiến trúc đô thị; sử dụng đất đai; đầu tư vào
phát triển nhà; cơ sở hạ tầng công cộng; tài chính hành chính; Môi trường đô

phát triển cộng đồng, kinh tế và xã hội bền vững.
c. Đặc trưng của quản lý đô thị.
Quản lý đô thị là khoa học về quản lý: Những cơ sở khoa học của
quản lý đô thị được xây dựng trên cơ sở khoa học quản lý. Công tác quản lý
đô thị là khâu quyết định cho việc thực hiện định hướng phát triển đô thị.
Quản lý đô thị không tách rời quản lý kinh tế quốc dân: Đô thị là một
bộ phận của nền kinh tế, các chính sách phát triển đô thị là một bộ phận của
chính sách phát triển kinh tế quốc dân.
Quản lý đô thị là một nghề: Để quản lý đô thị có hiệu quả, cán bộ
quản lý đô thị cần được đào tạo và hiểu biết về đô thị nói chung, đô thị mình
đang tham gia quản lý, muốn vậy cán bộ quản lý cần có kinh nghiệm trong
công việc, coi đó là nghề nghiệp của mình.
d. Các chức năng của quản lý đô thị
Chức năng quản lý đô thị theo quá trình quản lý:
- Chức năng kế hoạch
- Chức năng tổ chức
- Chức năng chỉ đạo phối hợp
- Chức năng kỉêm soát
Chức năng quản lý đô thị theo các lĩnh vực quản lý:
- Quản lý kinh tế đô thị
- Quản lý xây dựng đô thị
- Quản lý đất đai và nhà ở đô thị
- Quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Quản lý kết cấu hạ tầng xã hội đô thị
- Quản lý dân số, lao động và việc làm đô thị
- Quản lý môi trường đô thị
Kết hợp quản lý đô thị theo quá trình và lĩnh vực
e. Các mô hình quản lý đô thị
- Mô hình quản lý đô thị lấy quản lý xã hội làm chủ đạo: Mô hình này
quan tâm đến quản lý môi trường pháp lý và các vấn đề đối ngoại: chính

khả năng tập trung vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng có trọng điểm.
Nhược điểm mô hình: quản lý bị chồng chéo, pháp luật lỏng lẻo.
f. Phân cấp quản lý Đô thị.
Đô thị Việt Nam bao gồm thành phố, thị xã và thị trấn, tương đương
với 3 cấp lãnh thổ là : Tỉnh, huyện và xã, cụ thể như sau :
- Các thành phố trực thuộc Trung ương.
- Các thành phố, thị xã, quận thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, bao gồm các đơn vị hành chính có cấp tương đương huyện.
- Các thị trấn, phường, bao gồm nhiều đơn vị hành chính tương
đương cấp thị xã.
2. Cơ sở hạ tầng Đô thị
2.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng đô thị
Toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu điện thông tin liên lạc,
dịch vụ xã hội như: đương xá, kênh mương dẫn nước, sân bay, nhà ga xe
lửa, ô tô, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống mạng điện, đường ống dẫn
xăng, dầu, dẫn khí ga, hơi đốt, kho tàng, giao thông vận tải, giáo dục phổ
thông và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch,
vui chơi giải trí v.v…
Như vậy, cơ sở hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt
động hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của
cộng đồng dân cư đô thị.
Trên thực tế, cơ sở hạ tầng đô thị là cơ sở nền tảng đảm bảo sự phát
triển bền vững của cả một hệ thống đô thị quốc gia nói chung và sự phát
triển bền vững của một quốc gia nói chung.
2.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng đô thị
Sự phát triển các ngành của kết cấu hạ tầng đô thị có ảnh hưởng trực
tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và nâng cao
hiệu quả của nó. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, vai trò của
kết cấu hạ tầng không ngừng tăng lên. Các hình thức mới về giao thông vận
tải và thông tin liên lạc xuất hiện và phát triển không những trong khuôn khổ

+ Cơ sở hạ tầng đô thị cực lớn
+ Cơ sở hạ tầng đô thị lớn
+ Cơ sở hạ tầng đô thị trung bình
+ Cơ sở hạ tầng đô thị nhỏ
2.5 Nguyên tắc quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
a. Tập trung dân chủ và phân cấp quản lý
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và điều chỉnh để đảm bảo cung cấp
các dịch vụ cơ sở hạ tầng đô thị, bảo đảm nhu cầu của người dân và làm dịch
vụ của các doanh nghiệp, bảo đảm cho dịch vụ đó có được một cách kịp
thời, đầy đủ và chất lượng cần thiết với chi phí thích hợp. Đây là vai trò của
Nhà nước tác động trực tiếp vào khâu quản lý để điều tiết nền kinh tế trong
sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên, Nhà nước cũng cần phải có khả năng hạn chế trong quản
lý và nguồn tài chính phát triển cơ sở hạ tầng đô thị. Do đó Nhà nước cũng
cần tạo điều kiện và mở rộng khả năng thích ứng cho các cơ sở tư nhân và
cộng đồng tham gia thực hiện các quyền dân chủ quản lý, thực hiện nghĩa vụ
đóng góp và thu hút mọi nguồn vốn, tăng thêm hiệu quả quản lý và phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị của quốc gia.
Phân cấp quản lý là sự phân định và xếp hạng các đô thị theo quy mô,
vị trí hay tầm quan trọng của từng đô thị trong phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, của vùng hay của địa phương để từ đó xác định các chính sách
quản lý, đầu tư thích hợp. Giữa phân loại và phân cấp quản lý có mối quan
hệ chặt chẽ. Nguyên tắc chung là dựa vào phân loại để phân cấp quản lý.
Đây là một trong những giải pháp nhằm phân định chức năng và quyền hạn
quản lý của từng chính quyền các cấp cho thích hợp, tránh sự trùng chéo
hoặc bỏ sót.
b. Tiết kiệm và hiệu quả
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tiễn tăng trưởng kinh tế phát sinh
nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng đô thị với một quy mô lớn nhất là trong xu
hướng đô thị hoá toàn cầu với một tốc độ nhanh chóng. Do vậy đã gây hậu

tăng lên.
Do vậy hệ thống công viên cây xanh đô thị không những tạo cho
nguời dân có chỗ thư giãn, tập luyện mà còn tạo cho đô thị có một không
gian xanh điều hoà không khí, và đặc biệt trong điều kiện các thành phố
ngày càng bị ô nhiễm bởi khói bụi, của các phương tiện giao thông dày đặc
thì tăng diện tích cây xanh và nước mặt sẽ góp phần bình ổn khí hậu, giữ cho
mặt đất không bị mất nước, giảm bụi và tiếng ồn trong đô thị. Cây xanh sẽ
có tác dụng rất tốt đối với đô thị khi các khu cây xanh được liên kết với nhau
thành một hệ thống liên hoàn từ trung tâm đến ngoại ô, từ trung tâm đến các
đơn vị ở.
1.2. Chức năng của hệ thống công viên cây xanh đô thị
Cây xanh có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người, nó có
tác dụng lớn trong việc cải tạo khí hậu, điều hoà nhiệt độ, ngăn bão lụt và
bảo vệ môi trường sống ở đô thị. Cây xanh còn có tác dụng đặc biệt đối với
các công trình kiến trúc đô thị và là một trong những yếu tố của nghệ thuật
bố cục không gian và cảnh quan đô thị.
Những chức năng chủ yếu của hệ thống công viên cây xanh là:
- Làm nơi nghỉ ngơi, giải trí cho nhân dân, làm phong phú thêm đời
sống văn hoá tinh thần cho người dân đô thị.
- Cải tạo vi khí hậu, điều kiện vệ sinh và bảo vệ môi trường.
- Làm các dãy phòng hộ cách ly và bảo vệ cho đô thị trước gió bão,
hạn chế thiên tai…
- Tạo cho đô thị có được một không gian đô thị với cảnh quan kiến
trúc, mỹ quan đô thị đẹp đẽ.
2. Bộ phận cấu thành của hệ thống công viên cây xanh đô thị
2.1 Hệ thống cây xanh
- Cây xanh đô thị là một hệ sinh thái thiên nhiên đặc biệt có tác dụng
rất nhiều đối với việc cải tạo vi khí hậu và bảo vệ môi trường sống đô thị, hệ
thống cây xanh sẽ rất hiệu quả đối với đô thị khi được liên kết với nhau
thành hệ thống liên hoàn nối các khu với nhau.

đường chính hình thành các dạng sơ đồ giao thông rất đa dạng trong công
viên.
- Đường dạo chơi là loại đường đi dạo
2.3 Khu công viên
- Khu trung tâm công viên là nơi tập trung các công trình văn hoá và
biểu diễn, có quảng trường và trục đường lớn nối thẳng với hệ thống giao
thông chính của đô thị.
- Khu thể dục thể thao là khu vực riêng có tổ chức các sân bãi, tập
luyện và thi đấu.
- Khu nghỉ ngơi yên tĩnh là khu vực khá rộng trong khu vực công
viên, ở đây chủ yếu là cây xanh và các lối đi bộ, chỗ dừng chân ngắm
cảnh…
- Khu dành cho thiếu nhi là khu vực dành cho trẻ em bao gồm các trò
chơi giải trí quanh co trong công viên tạo nên một hệ thống riêng, tuỳ theo
địa hình và bố cục quan hệ.
3. Loại hình công viên cây xanh đô thị
3.1. Cây xanh sử dụng công cộng
Là các khu cây xanh phục vụ trực tiếp cho đô thị theo nhu cầu vui
chơi giải trí, sinh hoạt văn hoá, rèn luyện thân thể và mỹ quan đô thị, bao
gồm :
a. Các loại công viên thành phố : Là loại hình cây xanh chiếm vị trí
quan trọng trong hệ thống cây xanh thành phố. Tuỳ theo điều kiện
địa hình cho phép, công viên thường được bố trí đều trong khu dơn
vị ở và ở những nơi có địa hình tự nhiên. Trong công viên tổ chức
các hoạt động văn hoá giải trí nghỉ ngơi , các hoạt động thể dục thể
thao rèn luyện …
b. Các vườn hoa : Là những khuôn viên nhỏ kết hợp với các quảng
trường công cộng của thành phố và các công trình kiến trúc nhỏ,
làm tăng vẻ đẹp của các tổng thể kiến trúc đô thị. Đây cũng là chỗ
vui dừng chân vui chơi của người dân đô thị.

Hiện nay hệ thống các công viên cây xanh tại Việt Nam đang ở trong
tình trạng xuống cấp và không được quan tâm quản lý và nếu có sự quản lý
thì lại là sự chồng chéo quản lý tạo nên nhiều vấn đề như không có sự liên
kết, hỗ trợ chặt chẽ nên những sự cố xảy ra không được giải quyết đúng mức
cần thiết. Tình trạng lấn chiếm lòng hồ, đổ đất, phế liệu xây dựng, đổ rác
thải trong các công viên đã trở thành phổ biến. Mặc dù các cơ quan quản lý
vẫn đều đặn định kỳ tiến hành duy tu, bảo dưỡng, làm vệ sinh nhưng vẫn
không xuể so với tốc độ đổ rác của người dân và các cơ sở sản xuất kinh
doanh ven các công viên.
Trước hiện trạng đáng báo động như vậy chúng ta cần có một cơ chế
về quản lý hệ thống các công viên cây xanh trong đô thị, theo đó các chính
quyền đô thị phải có trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với hệ thống công
viên cây xanh trong địa bàn mình quản lý. Đặc biệt cần phải xây dựng một
chế tài xử lý vi phạm đối với các công viên cây xanh trong đô thị. Cùng với
sự phối hợp của các cơ quan quản lý với một chế tài xử lý rõ ràng thì công
tác quản lý hệ thống công viên cây xanh đô thị mới đáp ứng các bước phát
triển được trong điều kiện hiện nay.
2. Mục tiêu của quản lý Nhà nước đối với hệ thống công viên cây xanh
Mục tiêu của quản lý Nhà nước đối với hệ thống công viên cây xanh
là nhằm đưa hệ thống các công viên cây xanh của các đô thị phát triển một
cách bền vững đi cùng với sự phát triển chung của đô thị. Mục tiêu của quản
lý Nhà nước đối với hệ thống công viên cây xanh :
- Cây xanh đô thị có được phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên
và ý đồ quy hoạch phát triển đô thị. Nguyên tắc cơ bản về thiết kế quy hoạch
khu đất cây xanh đô thị là phải đảm bảo được sử dụng, vệ sinh môi trường
và mỹ quan đô thị. Do vậy quản lý Nhà nước về hệ thống công viên cây
xanh là phải lập kế hoạch phát triển hệ thống trong thời gian từ 20 - 30 năm
trên cơ sở quy hoạch phát triển đô thị.

Trích đoạn Quản lý của công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status