TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
TIỂU LUẬN
Đề tài:
Sự ra đời và phát triển của thị
trường chứng khoán tại Việt Nam
Đề tài : Sự ra đời và phát triển của thị
trường chứng khoán tại Việt nam
LỜI NÓI ĐẦU
Đờng lối kinh tế và chiến lợc phát triển kinh tế của nớc ta là "Đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá,
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp; u tiên
phát triển lực lợng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng
xã hội chủ nghĩa " (trích Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VIII
và trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng) đòi hỏi phải có nguồn lực lớn mà
cụ thể là huy động đợc nguồn vốn lớn cho sự phát triển kinh tế đất nớc. Phát triển thị trờng
chứng khoán, tìm ra các giải pháp phát triển thị trờng chứng khoán đã đáp ứng đợc nhu
cầu cấp bách về nguồn vốn hiện nay.
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRỜNG
chứng khoán lên đến 160 sở giao dịch, chất lợng hoạt động thị trờng ngày càng đáp ứng
cho số đông những nhà đầu t trong và ngoài nớc, tiến tới một thị trờng chứng khoán hội
nhập khu vực và quốc tế.
Hiện nay thị trờng chứng khoán đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nớc công nghiệp
hàng đầu Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp… Bên cạnh đó hơn 40 nớc phát triển đã thiết lập thị
trờng chứng khoán cũng đã hình thành ở các nớc láng giềng Việt Nam nh Singapore,
Malaysia, Thái Lan, Philipin và Inđônêxia và Việt Nam cũng đã có trung tâm giao dịch thị
trờng chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. (7/2000).
2. Các khái niệm
a. Chứng khoán:
Chứng khoán là các loại công cụ tài chính dài hạn, bao gồm các loại cổ phiếu và trái
phiếu.
Cổ phiếu là loại chứng chỉ xác nhận việc góp vốn của một ngời vào công ty cổ phần. Cổ
phiếu xác nhận quyền sở hữu của ngời này đối với công ty cổ phần, ngời sở hữu đợc gọi là
cổ đông, cổ đông có các quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty cổ phần, đợc chia lời
(cổ tức) theo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần: đợc quyền bầu cử, ứng cử vào ban
quản lý, ban kiểm soát. Cổ phiếu có thể đợc phát hành vào lúc thành lập công ty, hoặc lúc
công ty cần thêm vốn để mở rộng, hiện đại hoá sản xuất kinh doanh.
Một đặc điểm của cổ phiếu là cổ đông đợc chia cổ tức theo kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty. Cổ đông có thể đợc hởng lợi nhuận nhiều hơn giá trị của cổ phiếu
và cũng có thể bị mất trắng khi công ty làm ăn thua lỗ. Cổ đông không đợc quyền đòi lại
số vốn mà ngời đó đã góp vào công ty cổ phần, họ chỉ có thể thu lại tiền bằng cách bán cổ
phiếu đó ra trên thị trờng chứng khoán.
Trái phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền làm chủ một món nợ của chủ sở hữu trái phiếu
đối với đơn vị phát hành. Trái phiếu là loại chứng khoán mà lãi suất vay nợ đã đợc xác
định rõ ngay khi phát hành do đó nó có lợi tức cố định và chỉ đợc hoàn trả khi đến hạn
thanh toán ghi trên trái phiếu mà ngời phát hành phải thực hiện. Trái phiếu do các doanh
nghiệp có thể là quốc doanh, t doanh hay cổ phần phát hành. ở Việt Nam hình thức vay
vốn bằng cách phát hành trái phiếu đã xuất hiện ở một vài nơi. Ví dụ nh việc phát hành trái
phiếu huy động vốn cho đầu t mở rộng sản xuất của nhà máy xi măng Hoàng Thạch vào
Chứng khoán đăng biểu là loại chứng khoán đã đợc cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo
đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh kỷ, tức là đã hội đủ
các tiêu chuẩn đã định.
Chứng khoán biệt lệ là loại chứng khoán đợc miễn giấy phép của cơ quan có thẩm quyền,
do chính phủ trong các cơ quan công quyền, thành phố, tỉnh quận, huyện, thị phát hành và
bảo đảm.
Thị trờng chứng khoán chính thức có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt và giá cả đợc
tính theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của hội động chứng khoán. Thị trờng
chứng khoán chính thức chủ yếu đợc thể hiện bằng các sở giao dịch chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán phi chính thức: (TTCK phi tập trung) là thị trờng mua bán chứng
khoán bên ngoài sở giao dịch chứng khoán, không có địa điểm tập trung những ngời môi
giới, những ngời kinh doanh chứng khoán nh ở sở giao dịch chứng khoán. ở đây không có
sự kiểm soát từ bên ngoài, không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thoả thuận
của ngời mua và ngời bán.
d. Chỉ số chứng khoán:
Khi nói đến thị trờng chứng khoán không thể không nói đến chỉ số chứng khoán. Ngời ta
thờng coi chỉ số chứng khoán là chiếc "phong vũ biểu" của thị trờng chứng khoán mà ở
dạng này hay dạng khác ngời ta dùng chỉ số chứng khoán để thể hiện sự phát triển của thị
trờng và các thành phần của nó. Các chỉ số này thờng đợc thông báo trên các phơng tiện
thông tin đại chúng và các tờ nhật báo lớn ở các nớc chỉ số chứng khoán phản ánh tình
hình hoạt động của các công ty trên thị trờng. Nếu các công ty làm ăn có lãi, giá chứng
khoán của các công ty đó sẽ tăng và làm tăng theo chỉ số chứng khoán. Ngợc lại, chỉ số
chứng khoán sẽ giảm. Dựa vào chỉ số chứng khoán, các nhà đầu t có thể xác định đợc hiệu
quả của một cổ phiếu hoặc một danh mục các chứng khoán để đầu t vào.
Bất kỳ một thị trờng chứng khoán nào cũng có một chỉ số chứng khoán của riêng nó. Ví
dụ thị trờng chứng khoán New york có chỉ số Dow Jones, thị trờng chứng khoán Tokyo áp
dụng chỉ số Nikkei, Hong Kong áp dụng chỉ số Hang - xieng, Singapore áp dụng chỉ số
"Strai taime"…
Một loại chỉ số chứng khoán đợc nhiều ngời biết đến nhất là chỉ số Dow Jones ra đời
cách đây vừa tròn 100 năm (896). Chỉ số này đợc coi nh một cột mốc của thị trờng chứng
Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở thị trờng sơ cấp là nhằm thu hút mọi
nguồn vốn đầu t và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế. Còn ở thị trờng thứ cấp, dù
việc giao dịch rất nhộn nhịp có hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô la chứng
khoán đợc mua đi bán lại, nhng không làm tăng thêm qui mô đầu t vốn, không thu hút
thêm đợc các nguồn tài chính mới. Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng
khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán.
Thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp gộp lại đợc gọi là thị trờng chứng khoán. Hai thị
trờng này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau đợc ví dụ nh hai bánh xe của một chiếc xe,
trong đó thị trờng sơ cấp là cơ sở, là tiền đề, thị trờng thứ cấp là động lực. Nếu không có
thị trờng sơ cấp thì sẽ chẳng có chứng khoán để lu thông trên thị trờng thứ cấp và ngợc lại,
nếu không có thị trờng thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán thành tiền sẽ bị khó
khăn, khiến cho ngời đầu t sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy động vốn trong nền
kinh tế.
Việc phân biệt thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết.
Trong thực tế tổ chức thị trờng chứng khoán không có sự phân biệt đâu là thị trờng sơ cấp
và đâu là thị trờng thứ cấp. Nghĩa là, trong một thị trờng chứng khoán vừa có giao dịch
của thị trờng sơ cấp vừa có giao dịch của thị trờng thứ cấp. Vừa có việc mua bán chứng
khoán theo tính chất mua đi bán lại.
Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phải coi trọng thị trờng sơ cấp, vì đây là thị trờng phát hành
là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng thời phải giám sát chặt chẽ thị trờng thứ
cấp, không để tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị trờng để đảm bảo thị trờng chứng khoán trở
thành công cụ hữu dụng của nền kinh tế.
3. Sở giao dịch chứng khoán:
Thị trờng chứng khoán chính thức đợc tổ chức theo hình thức Sở giao dịch chứng khoán.
a. Các hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán.
Hiện nay trên thế giới có 3 hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán.
Thứ nhất: Sở giao dịch chứng khoán đợc tổ chức theo hình thức "Câu lạc bộ" tự nguyện
của các thành viên. Trong hình thức này, các thành viên của sở giao dịch (hội viên) tự tổ
chức và tự quản lý sở giao dịch chứng khoán theo pháp luật không có sự can thiệp của nhà
nớc. Các hội viên của Sở giao dịch bầu ra Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị bầu ra
hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch. Nếu phát hiện vi phạm, Hội
đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời
gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch chứng khoán nữa.
c. Thành viên sở giao dịch chứng khoán.
Thành viên sở giao dịch chứng khoán có thể là các cá nhân hoặc các công ty chứng
khoán. Để trở thành thành viên của sở giao dịch chứng khoán trớc hết công ty phải đợc
công ty có thẩm quyền của nhà nớc cấp giấy phép hoạt động. Phải có số vốn tối thiểu theo
quy định, có chuyên gia kinh tế, pháp lý đã đợc đào tạo về phân tích và kinh doanh chứng
khoán. Ngoài ra công ty còn phải thoả mãn các yêu cầu của từng sở giao dịch chứng khoán
cụ thể. Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của nhiều sở giao dịch chứng khoán
khác nhau nhng không đợc là thành viên của thị trờng chứng khoán phi tập trung và ngợc
lại công ty chứng khoán có thể thực hiện một hay nhiều nghiệp vụ khác nhau trên thị trờng
chứng khoán.
d. Giám sát thị trờng chứng khoán.
Để đảm bảo cho các giao dịch đợc công bằng đảm bảo lợi ích của các nhà đầu t, sở giao
dịch chứng khoán có một bộ phận chuyên theo dõi giám sát các giao dịch chứng khoán để
ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch chứng khoán. Nhiệm vụ chủ yếu của các
bộ phận giám sát là kiểm tra theo dõi và ngăn chặn kịp thời các hoạt động tiêu cực nh gây
nhiễu giá, giao dịch tay trong, giao dịch lòng vòng, giao dịch có dàn xếp trớc.
4. Những nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trờng chứng khoán.
a. Nguyên tắc trung gian mua bán chứng khoán.
Hoạt động mua bán chứng khoán không phải trực tiếp diễn ra giữa những ngời muốn
mua và bán, chứng khoán thực hiện mà do các nhà trung gian môi giới thực hiện. Đây là
nguyên tắc trung gian căn bản cho tổ chức và hoạt động của thị trờng chứng khoán.
Nguyên tắc trung gian nhằm đảm bảo cho các loại chứng khoán là chứng khoán thực và
thị trờng hoạt động lành mạnh, đều đặn hợp pháp và phát triển, bảo vệ lợi ích của ngời đầu
t. Vì những nhà đầu t không thể xét đoán một cách nhanh chóng và chính xác giá trị thực
sự của từng loại chứng khoán và cũng không dự đoán đợc chính xác xu hớng biến động
của nó. Vì vậy nếu ngời môi giới có thái độ không khách quan trong hoạt động trung gian
sẽ gây thiệt haị cho các nhà đầu t.
thị trờng hiện tại của loại chứng khoán mà nhà đầu t yêu cầu thực hiện để tiến hành giao
dịch, xong họ cũng phải xem xét để mua hoặc bán sao cho có lợi nhất cho khách hàng của
họ, các khách hàng biết chắc lệnh sẽ đợc thực hiện nhng không biết chắc giá cả là bao
nhiêu.
* Lệnh giới hạn: Lệnh này thờng đợc đa ra bởi các nhà đầu t có hiểu biết chút ít về thị
trờng chứng khoán và kinh tế. Trong lệnh có giới hạn về giá bán thấp nhất và giá mua cao
nhất mà công ty môi giới trên sàn giao dịch đợc phép thực hiện. Đối với lệnh mua thì giá
mua thờng thấp hơn giá thị trờng hiện đại còn lệnh bán có giá thờng cao hơn giá thị trờng.
Do vậy lệnh giới hạn thờng không đợc thực hiện ngay mà đợc thực hiện trong một thời
gian nhất định cho đến khi hết thời hạn và huỷ bỏ. Trong khi cha bị huỷ bỏ mà lệnh cha
đợc thực hiện thì nhà đầu t vẫn có thể tăng giảm giá giơí hạn (giá mua, giá bán).
* Lệnh ngừng: Đây là lệnh đặc biệt mà các nhà đầu t dùng để bảo vệ thu nhập của họ
tránh thua lỗ khi có sự tăng giảm giá cả. Lệnh ngừng bán có giá đặt ra cao hơn giá thị
trờng hiện tại còn lệnh ngừng mua có giá đặt ra thấp hơn thị trờng hiện tại.
Các lệnh trên khi đấu giá sẽ đợc u tiên theo thứ tự.
- Ưu tiên về giá: Giá đặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất đợc u tiên.
- Ưu tiên về thời gian: Trong cùng một mức giá lệnh nào đợc đa ra trớc sẽ đợc u tiên.
- Ưu tiên về số lợng: Khi có nhiều lệnh cùng thoả mãn hai điều kiện trên, lệnh nào có số
lợng chứng khoán nhiều hơn sẽ đợc u tiên.
Trên thị trờng chứng khoán phi tập trung, hoạt động mua bán chứng khoán cũng diễn ra
khá đơn giản. Khi một khách hàng muốn mua một số lợng chứng khoán nhất định, anh ta
sẽ đa lệnh cho công ty chứng khoán đang quản lý tài sản của anh ta yêu cầu giao dịch hộ.
Thông qua hệ thống viễn thông công ty môi giới sẽ liên lạc với tất cả các nhà tạo thị trờng
của loại chứng khoán này để biết đợc giá chào bán thấp nhất của loại chứng khoán này sau
đó công ty này thông báo lại cho khách hàng biết và nếu khách hàng chấp nhận, công ty sẽ
thực hiện lệnh và giao dịch của khách hàng đợc thực hiện.
III. VAI TRÒ CỦA THỊ TRỜNG CHỨNG KHOÁN.
Thị trờng chứng khoán đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế các nớc
trên thế giới. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển đến một mức độ nhất định sẽ cần tới thị
trờng chứng khoán để hỗ trợ cho quá trình phát triển.
nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng cho các khoản đầu t phát triển. Trên thị trờng sơ
cấp vốn đợc chuyển trực tiếp từ ngời có vốn sang ngời cần vốn thông qua việc phát hành
lần đầu các loại chứng khoán. Trên thị trờng thứ cấp sau đó, chứng khoán đã phát hành có
tác dụng nh "gây tiếp sức" để ngời đầu t mới tiếp sức cho ngời đầu t cũng thông qua việc
mua bán lại chứng khoán. Đó là quá trình biến các khoản tiết kiệm ngắn hạn thành nguồn
nuôi dỡng và duy trì các khoản đâù t dài hạn trên cơ sở tham gia tích cực và tự nguyện của
các nhà đầu t.
Nh vậy thị trờng chứng khoán hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng trong việc cấp các khoản
tín dụng trung và dài hạn góp phần làm giảm áp lực lạm phát, sự phân tích ở trên đã chỉ ra
rằng thị trờng chứng khoán có vai trò tích cực và không thể thiếu trong nền kinh tế.
PHẦN II: SỰ HÌNH THÀNH THỊ TRỜNG CHỨNG KHOÁN
TẠI VIỆT NAM.
I. TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC HÌNH THÀNH THỊ TRỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM.
1. Do yêu cầu của nền kinh tế.
Thực tế cho thấy ở tất cả các nớc có thị trờng chứng khoán, khi nền kinh tế thị trờng ra
đời thì cha có thị trờng chứng khoán. Thị trờng chứng khoán chỉ ra đời khi nền kinh tế thị
trờng đã phát triển ở mức độ nhất định và đòi hỏi phải hình thành một tổ chức nào đó có
khả năng tiếp thêm sức mạnh cho thị trờng - đó là thị trờng chứng khoán với việc cung cấp
vốn cho nền kinh tế. Có thể nói nền kinh tế hàng hoá phát triển làm nảy sinh thị trờng
chứng khoán và thị trờng chứng khoán đến lợt nó lại tiếp thêm nguồn lực để thúc đẩy nền
kinh tế hàng hoá phát triển.
"Trong nền kinh tế nớc ta hiện nay, chủ yếu mới có hình thức giao lu vốn giáp tiếp nên
cha huy động và thu hút có hiệu quả tối u nguồn vốn còn khá tiềm tàng của đất nớc. Do đó,
cùng với sự phát triển, hoàn thiện thị trờng liên ngân hàng, nâng cao trình độ giao lu vốn
gián tiếp, cần phải thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hình thức giao lu vốn trực tiếp"
*
.
Giao lu vốn trực tiếp là hình thức giao lu vốn chủ yếu thông qua phơng thức thu hút vốn
bằng phát hành các phơng tiện tín dụng, nh trái phiếu, cổ phiếu.
Phơng thức giao lu vốn trực tiếp có nhiều u điểm nổi bật hơn phơng thức giao lu vốn
Thị trờng chứng khoán Việt Nam đã hình thành và đi vào hoạt động. Đến ngày
31/8/2000 đã có hai phiên giao dịch. Hiện nay mới chỉ có 2 công ty cổ phần niêm yết cổ
phiếu là công ty điện lạnh (REE) và công ty vật liệu bu chính viễn thông (SACOM) cho
nên hàng hoá cần cho thị trờng rất ít.
Nói chung lại, thị trờng chứng khoán Việt Nam mới chỉ tồn tại ở mức độ rất sơ khai, cha
thực sự là thị trờng chứng khoán với đúng ý nghĩa của khái niệm thị trờng chứng khoán đã
đợc mọi ngời nhìn nhận.
2. Những thuận lợi cho sự hình thành một thị trờng chứng khoán thực sự tại Việt
Nam.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã có những tiến triển cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho
sự hình thành và phát triển của thị trờng chứng khoán. Chúng ta đã đạt đợc những thành
tựu đáng khích lệ. Lạm phát đã giảm từ 67% năm 1992 xuống còn 14,4% năm 1994 và
12,7% năm 1995. Tỷ lệ tăng trởng kinh tế bình quân trong 5 năm trở lại đây luôn đợc duy
trì ở mức 9%, nền kinh tế đã bắt đầu ổn định. Thu nhập của dân c đã tăng và trong nội bộ
nền kinh tế đã có tích luỹ.
Nền kinh tế thị trờng ngày càng phát triển, chính sách một giá tạo điều kiện cho hàng hoá
lu thông thuận tiện giữa các khu vực trong nớc. Lãi suất tín dụng và lãi suất tiết kiệm đã
đợc ấn định trên cơ sở tơng quan giữa cung và cầu vốn trên thị trờng. Quy luật cung cầu và
quy luật giá trị đang phát huy những tác động tích cực tới nền kinh tế.
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển khá nhanh. Số doanh nghiệp cổ phần
và liên doanh thu hút nhiều vốn trong nớc cũng nh vốn đầu t nớc ngoài cũng tăng nhanh.
Sự ra đời của các cổ phiếu, trái phiếu do các công ty cổ phần, các doanh nghiệp nhà nớc,
phát hành tạo điều kiện thuận lợi cho thị trờng chứng khoán ra đời.
Thêm vào đó, nền kinh tế thị trờng cũng đang làm tiến triển dần thói quen và nếp nghĩ
của dân chúng sẽ đợc công nhận vì nó đáp ứng đợc nhu cầu của ngời đầu t vốn. Ngời sử
dụng vốn và cả của nhà nớc.
Các yếu tố trên đây tạo thuận lợi cho sự ra đời của thị trờng chứng khoán và khẳng định
là thị trờng chứng khoán sẽ đợc công nhận vì nó đáp ứng đợc nhu cầu của ngời đầu t vốn,
ngời sử dụng vốn và cả của nhà nớc.
3. Chủ thể tham gia thị trờng chứng khoán.
Nhà đầu t (ngời mua) bằng lòng với lợi nhuận thấp nhng ổn định thờng chọn trái phiếu
làm đối tợng đầu t. Ngợc lại ai dám mạo hiểm, chấp nhận rủi ro để lấy một tiềm năng lợi
nhuận lớn sẽ chọn cổ phiếu.
Theo uỷ ban chứng khoán nhà nớc hiện cả nớc có 370 công ty cổ phần trong đó có trên
100 công ty có khả năng niêm yết trên thị trờng chứng khoán. Tuy nhiên để tạo lòng tin
của công chúng, hàng hoá trong thời gian đầu đòi hỏi chất lợng và ổn định. Vì vậy công ty
CP cơ điện lạnh REE và công ty CP cáp và vật liệu viễn thông SACOM và có thể thêm cổ
phiếu của công ty giao nhận và kho vận ngoại thơng Trasimex Thành phố HCM và công ty
XNK chế biến nông sản Long An đợc niêm yết. Ngoài ra sẽ có thêm vài trăm tỉ đồng trái
phiếu của nhà nớc cũng đợc mua bán.
Điều kiện để các công ty có cổ phiếu tham gia giao dịch là 2 - 3năm liền có lãi, tình hình
tài chính lành mạnh đợc kiểm toán xác nhận, có đủ 10 tỷ đồng vốn trở lên.
Trên cơ sở ấy, vụ quản lý phát hành của Uỷ ban chứng khoán nhà nớc sẽ quyết định cổ
phiếu của công ty có đợc tham gia giao dịch hay không.
5. Những vấn đề còn tồn tại.
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, hiện nay vẫn còn tồn tại các khó khăn cản trở sự hình
thành thị trờng chứng khoán tại Việt Nam.
Nhìn toàn cảnh, nền kinh tế vẫn cha đạt thật sự ổn định, nguy cơ lạm phát vẫn còn làm
các nhà quản lý kinh tế đau đầu. Hiệu quả của sản xuất trong nớc còn thấp nhất là ở các
doanh nghiệp nhà nớc. Các sản phẩm nội địa của ta đang phải cạnh tranh chật vật với các
sản phẩm của nớc ngoài. Sự thua lỗ của nhiều doanh nghiệp quốc doanh và sự quản lý
cồng kềnh của các ngành ngân hàng tài chính gây nên khó khăn và tâm lý lo ngại cho các
nhà đầu t.
Xét riêng về các khó khăn đối với sự hình thành thị trờng chứng khoán, em thấy còn
những tồn tại lớn tập trung ở các điểm sau:
Thứ nhất: Hàng hoá (các loại chứng khoán) để giao dịch trên thị trờng chứng khoán cha
đủ tiêu chuẩn về chất lợng cũng nh cha đủ về khối lợng để giao dịch khi thị trờng chứng
khoán chính thức đợc hình thành số lợng và giá trị cổ phiếu hiện nay còn quá nhỏ cha đáp
ứng đợc đòi hỏi của thị trờng chứng khoán khi nó ra đời. Các loại trái phiếu tuy có đa dạng
nhng phần lớn là các trái phiếu ngắn hạn không phải là đối tợng chính để mua bán trên thị
nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm cuả nớc ngoài chúng ta phải tiến hành phân tích đánh giá
các điều kiện trong nớc để xây dựng thành công thị trờng chứng khoán.
Từ tính chất phức tạp và điều kiện hiện nay tại Việt Nam, mô hình tổ chức thị trờng
chứng khoán trong giai đoạn đầu nên đơn giản để phù hợp với môi trờng kinh tế, tài chính,
pháp lý hiện tại. Có thể tổ chức một sở giao dịch chứng khoán bao gồm cả thị trờng sơ cấp
và thị trờng thứ cấp. Giai đoạn đầu chú trọng phát triển và hoàn thiện thị trờng sơ cấp để
phát hành cổ phiếu nhằm thu hút nguồn vốn tiết kiệm từ dân chúng vào quá trình đầu t
đồng bộ từng bớc hình thành thị trờng sơ cấp tổ chức buôn bán và kinh doanh chứng
khoán. Có thể tổ chức một sở giao dịch chứng khoán có hai sàn giao dịch.
Một tại Hà Nội, một tại TPHCM, theo mô hình trên cơ cấu tổ chức và điều hành sở giao
dịch chứng khoán và các tổ chức liên hệ sẽ bao gồm:
- Uỷ ban chứng khoán quốc gia.
- Sở giao dịch chứng khoán.
- Các tổ chức môi giới chứng khoán
- Các quỹ đầu t
- Các cơ quan kiểm toán độc lập
- Thông tin kinh tế.
Đầu tiên về uỷ ban chứng khoán quốc gia sẽ là cơ quan thực hiện việc quản lý nhà nớc
về các hoạt động của thị trờng chứng khoán trong phạm vi9 cả nớc do chính phủ thành lập.
Trong giai đoạn đầu, uỷ ban này có nhiệm vụ triển khai các công việc để thành lập thị
trờng chứng khoán nh: Xây dựng các chính sách của nhà nớc về phát triển chứng khoán và
thị trờng chứng khoán, soạn thảo và trình quốc hội để ban hành hệ thống luật pháp về thị
trờng chứng khoán.
Thứ hai về việc mở sàn giao dịch chứng khoán và quyền sở hữu đối với sở giao dịch
chứng khoán. Giai đoạn đầu cha nên mở sở giao dịch chứng khoán nhng khi mở lúc đầu sở
giao dịch chứng khoán sẽ do nhà nớc thành lập, sau đó sẽ áp dụng theo thông lệ quốc tế
tức là chuyển sang tổ chức theo qui chế tự điều chỉnh. Trong giai đoạn đầu, sở giao dịch
chứng khoán cha có khả năng và cũng cha đòi hỏi phải giao dịch hết ngày trong tuần.
Thứ ba về các công ty môi giới chứng khoán. Hoạt động của thị trờng chứng khoán trớc
hết cần những ngời môi giới chứng khoán. Có hai loại môi giới chứng khoán là: môi giới
Uỷ ban chứng khoán nhà nớc cần phối hợp với ngân hàng nhà nớc để có giải pháp tháo
gỡ đối với những hạn chế trong việc chuyển nhợng cổ phiếu của các ngân hàng thơng mại
cổ phần và xúc tiến lạ chọn một số ngân hàng cổ phần có vốn lớn, làm ăn có lãi, tỷ lệ nợ
quá hạn thấp để đa vào danh sách niêm yết giao dịch, phối hợp với ngân hàng đầu t và
phát triển Việt Nam để chuẩn bị hoặc các điều kiện đối với các trái phiếu ngân hàng đầu t
đã phát hành ra thị trờng có kỳ hạn 5 năm và thời gian đáo hạn đồng nhất để đa vào niêm
yết giao dịch. Vấn đề cần giải quyết là hệ thống ngân hàng cần tiếp tục để đáp ứng yêu cầu
về thanh toán.
Nh ví dụ đối với hoạt động kinh doanh mua bán chứng khoán cho ngân hàng trong đó có
phần hoạt động dịch vụ bảo lãnh phát hành, nó liên quan đến vốn ngân hàng phải lập công
ty chứng khoán riêng… còn các loại hình dịch vụ khác không sử dụng đến tiền vốn và ít
rủi ro, bản thân NHTM với t cách là một định chế tài chính - tiền tệ, có sẵn bộ máy tổ chức
sao không thể tự mình đảm đơng chỉ cần lập 1 bộ phận chức năng "phòng dịch vụ chứng
khoán".
Ngay trong cơ chế lập riêng công ty chứng khoán của NHTM, ngân hàng nhà nớc cũng
nên xem xét lại quy định có tính chất "ràng buộc cả gói". Muốn lập công ty chứng khoán,
NHTM phải hoạt động có lãi nợ quá hạn dới 50%…
Thứ ba: Giải quyết về khung pháp lý.
Chứng khoán và thị trờng chứng khoán là một lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam, đồng
thời cũng là lĩnh vực khó và phức tạp. Chúng ta cha từng có kinh nghiệm thực tế về vấn đề
này. Việc học hỏi kinh nghiệm của nớc ngoài phải hết sức linh hoạt, không thể máy móc
vì môi trờng kinh tế Việt Nam có những đặc thù riêng.
Cần phải ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung kịp thời để đảm bảo hoạt động của trung
tâm giao dịch chứng khoán trong thời gian tới.
Theo hớng đó, trong thời gian qua, UBCKNN đã thực hiện sửa đổi bổ sung qui chế lu ký
thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán. Ngày 14/6/2000. Chủ tịch UBCKNN đã chính
thức đăng ký quyết định số 43/2000/QĐ - UBCK 3 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của quy chế lu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán và có công văn số
50/2000/CV - UBCK 3 ngày 15/6/2000 hớng dẫn hoạt động đăng ký, lu ký, thanh toán bù
trừ chứng khoán và thực hiện quyền của ngời sở hữu chứng khoán.