Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Những năm gần đây, công cuộc đổi mới của Chính phủ với việc
chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng đã mở
ra cơ hội kinh doanh, làm ăn lớn cho các nhà đầu t nớc ngoài và góp
phần đẩy nhanh tiến trình t nhân hoá tại Việt Nam. Một trong những
vấn đề đang đợc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế quan
tâm là bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng do vai trò quan
trọng của chúng trong việc bảo toàn vốn, hình thành tâm lý ổn định, an
tâm cho ngời đợc bảo hiểm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Đây cũng là mối quan tâm lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm
Việt Nam, nhất là từ khi thị trờng bảo hiểm đã chuyển từ "thị trờng của
ngời bán" thành "thị trờng của ngời mua". Vấn đề nghiên cứu, cải tiến,
áp dụng và triển khai các loại hình bảo hiểm mới đang trở thành một
trong những chiến lợc quan trọng mà các công ty bảo hiểm sử dụng để
cạnh tranh trên thị trờng.
Đối với những cán bộ bảo hiểm cũng nh những ai đang nghiên cứu,
học tập trên lĩnh vực này, nghiệp vụ Bảo hiểm Hoả hoạn đã không còn
xa lạ. Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu thấu đáo, tờng tận cơ sở lý luận
và thực tế triển khai loại hình này cho phù hợp với điều kiện Việt Nam
mà vẫn đáp ứng đợc với nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của các
doanh nghiệp đang là câu hỏi lớn đặt ra với tất cả các công ty bảo hiểm
hoạt động tại Việt nam. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài Bảo hiểm hoả
hoạn thực trạng- giải pháp đối với Tổng Công ty Bảo Việt làm nội
dung nghiên cứu.
Mục đích của đề tài nhằm tập hợp, hệ thống hoá các nguyên tắc lý
luận đợc áp dụng chung trong loại hình Bảo hiểm Hoả hoạn, các đặc
điểm riêng biệt của loại hình, cũng nh những công tác cần thiết trong
Tạ Quang Tuấn F4-K36
1
sự ra đời của bảo hiểm hoả hoạn. Một nhà vật lý ngời Anh tên là
NICHOLAS BARBEN chuyển nghạch sang lĩnh vực xây dựng trong thời
gian xây dựng lại thành phố đã đồng thời cũng bắt đầu bảo hiểm hoả hoạn
cho các ngôi nhà mới xây dựng. Ban đâu ông điều khiển Công ty theo kiểu
Công ty t nhât nhng sau đó năm 1680 ông đổi thành Công ty cổ phần mang
tên là The Fire Office . Một số Công ty khác cũng theo đó ra đời trong
đó có Hand in Hand năm 1696 và Sun Fire Office năm 1710.
Công ty bảo hiểm đầu tiên thành công ở Mỹ là Công ty bảo hiểm tơng hỗ,
do Benfamir Franklin và một số thành viên khác sáng lập năm 1752, mang
tên là The Philadenphia Contributionship chuyên bảo hiểm Hoả hoạn cho
nhà cửa. Công ty bảo hiểm cổ phần đầu tiên ở Mỹ mang tên là The
insurance company of Noth America đợc thành lập năm 1792.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế. Bảo hiểm hoả hoạn đã phát triển mạnh mẽ và
trở thành nghiệp vụ truền thống với phí thu hàng năm rất cao. ở Nhật, số phí
bảo hiểm hoả hoạn thu hàng năm 1993 là 1.017.008 triệu yên ( trên 10 tỷ
đô la) chiếm 15,5% doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm phí nhân thọ.
II . Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm hảo hoạn
Hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển thì nhu cầu tập trung
vật t, hàng hoá rất lớn, quy trình công nghệ ngày càng phức tạp và những
Tạ Quang Tuấn F4-K36
3
Chuyên đề tốt nghiệp
loại máy móc hiện đại sẽ đợc phổ biến hơn. Trong khi đó, khoa học kỹ
thuật an toàn thờng đi sau, nguồn vốn sử dụng cho các biện pháp an toàn th-
ờng rất thấp so với vốn đầu t phát triển sản xuất thêm vào đó điều kiện tự
nhiên ngày càng khắc nghiệt và đã khiến cho khả năng xảy ra rủi ro tai nạn
nhiều hơn so với mức độ thiệt hại về ngời và của nghiêm trong hơn.
Chỉ tính riêng hoả hoạn mỗi năm nớc ta xẩy ra hàng nghìn vụ Hoả hoạn nổ,
làm chết hoặc bị thơng hàng trăm ngời, thiệt hại về tài sản hàng chục tỷ
đồng. Có những vụ Hoả hoạn làm thiêu huỷ hàng trăm nóc nhà, toàn bộ khu
2001 1055 750 305 199 27 825 2 88 215 215102
2002 1091 720 372 226 33 830 5 105 140 92660
Vậy làm thế nào doanh nghiệp trách đợc tổn thất bảo toàn nguồn vốn
kinh doanh của mình? Thực ra nó còn nhiều biên pháp sử dụng nh sử dụng
các biện pháp an toàn, thành lập quỹ dự trữ đề phòng xẩy ra tổn thất Trớc
đây chúng ta có một vài Công ty bảo hiểm hoả hoạn tại miền Nam trong
thời kỳ Pháp thuộc song sang năm 1975 do cơ chế bao cấp, nhà nớc đứng ra
bù đắp mọi thiệt hại, bảo đảm tài chính cho các doanh nghiệp khi không
Tạ Quang Tuấn F4-K36
4
Chuyên đề tốt nghiệp
may gặp rủi ro nên bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hoả hoạn nói riêng
không có mảnh đất phát triển. Trong điều kiên nền kinh tế chuyển sang cơ
chế thị trờng hiên nay các doanh nghiệp phải tự chủ về nguồn tài chính,
tham gia bảo hiểm tài sản mà cụ thể là bảo hiểm Hoả hoạn vẫn là phơng án
tối đa.
Theo quy tắc bảo hiểm Hoả hoạn hiện nay vẫn sử dụng ở các Công ty
bảo hiểm trong nớc, ngời tham gia bảo hiểm có thể tham gia đăng ký bảo
hiểm cho những tài sản nh nhà của trang thiết bị hàng hoá, nguyên vật liệu
của mình Ngoài Hoả hoạn là rủi ro chính họ còn đăng ký cho các rủi ro
phụ nh nổ, giông bão, động đất nớc chảy hay rò rỉ tràn từ bể chứa đờng ống
hoặc thiết bị chữa Hoả hoạn, xe cộ hay súc vật đâm vào Trong trơng hợp
xẩy ra tổn thất, các Công ty bảo hiểm bồi thờng cho những thiệt hại trực
tiếp từ các nguyên nhân kể trên và cả những chi tiết cần thiết hợp lý nhằm
hạn chế tổn thất tài sản đợc bảo hiểm trong và ngay khi chấy.
Tuy nhiên Hoả hoạn không chỉ gây thiệt hại trực tiếp đến cho con ngời
và tài sản mà nó còn để lại những thiệt hại và tổn thât khổng lồ cho các
doanh nghiệp. Trên thực tế sau khi Hoả hoạn hoạt động sản xuất không thể
phát triển theo kế hoạch kinh doanh đặt ra, các doanh nghiệp sẽ mất khoản
lợi nhuận do nhà xởng, máy móc bị h hại. Để tránh bị phá sản họ phải tiến
tế. Bời vì thông qua việc hớng dẫn các doangh nghiệp thực hiện những biện
pháp an toàn, các Công ty bảo hiểm góp phần hạn chế tổn thất tai nạn giúp
khách hàng của họ có điều kiện thúc đẩy mở rộng sản xuất nh mong muốn.
Mặt khác, một phần không nhỏ khoản phí thu đợc từ loại hình này đợc
Công ty bảo hiểm đóng góp vào ngân sách nhà nớc để chính phủ sử dụng
các mục đích xã hội.
III. Việc thực hiện bảo hiểm hoả hoạn ở Việt Nam
ở Việt Nam bảo hiểm hoả hoạn bắt đầu đợc thực hiện từ năm 1989 sau
khi có quyết định số 06/TCQĐ ngày 17/1/1989 của bộ trởng bộ tài chính
ban hành quy tắc về bảo hiểm hoả hoạn. Sau một thời gian thực hiện để phù
hợp hơn với tình hình thực tế, Bộ tài chính lại có quyết định số 142/TCQĐ
ban hành quy tắc và biểu phí mới và quyết định số 212/TCQĐ ngày
12/4/1993 ban hành biểu phí và bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
Tạ Quang Tuấn F4-K36
6
Chuyên đề tốt nghiệp
với các mức phí tối đa thay cho biểu phí bảo hiểm hoả hoạn theo quyết định
số 142/TCQĐ.
Đến nay bảo hiểm hoả hoạn đã đợc thực hiện trong khắp cả nớc. Nếu
nh năm 1991 số đơn vị hoả hoạn cấp ra mới chỉ có 413 thì tới năm 1994 con
số này đã lên tới 2000 giá trị tài sản năm 1991 là 1000 tỷ đồng thì năm
1992 trên 4000 tỷ, năm 1993 là 7000 và năm 1994 trên 14000 tỷ đồ
ng. Số tiền bảo hiểm phí tơng ứng của các năm đó là 4,5 tỷ, 10,2 tỷ, 21,3 tỷ
và 3902 tỷ. Bảo việt cũng phải chi bồi thờng thiệt hại nhiều vụ Hoả hoạn
lớn nh Công ty giầy Hiệp Hng trên 10 tỷ, Công ty dợc Đồng Tháp 4,5 tỷ
đồng, chợ đồng xuân trên 8 tỷ đồng, Công ty sản xuất và xuất khẩu sông Bé
gần 18 tỷ đồng Có thể nói rằng bảo hiểm hoả hoạn đã dần dần đi vào tiềm
thức của con ngời Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi tất yếu của xã hội và ngày
càng củng cố vững chắc vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu chung của
nghành bảo hiểm Việt Nam.
Mỗi rủi ro có thể đợc nêu thành tên riêng. Hầu hết các Công ty trên thế
giới đều chấp nhận áp dụng các phơng pháp tiêu chuẩn khi cấp đơn bảo
hiểm và lu trữ, sử dụng số liệu các rủi ro này đợc đa vào phụ lục của Quy
tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt.
Dùng áp dụng mẫu đơn bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tiêu
chuẩn của thị trờng bảo hiểm Lôn Đôn ( standard Fire and Special Perils
Policy) hay ( Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt của Việt
Nam thì rủi ro chính đợc bảo hiểm thì cũng là bảo hiểm hoả hoạn. Rủi ro A
còn có rủi ro B- nổ, C- máy bay và rơi vào, E- nổi loạn bạo động dân sự
đợc coi là các rủi ro phụ. Các rủi ro phụ đó không đợc bảo hiểm riêng mà
chỉ có thể bảo hiểm cùng với rủi ro hoả hoạn. Các rủi ro phụ đó cũng không
đợc bảo hiểm một cách tự động mà chỉ đợc bảo hiểm khi khách hàng yêu
cầu với điều kiện phải đóng thêm phí và phải đợc ghi rõ trong giấy yêu cầu
và giấy chứng nhận bảo hiểm.
Dới đây chúng ta sẽ xem xét một số rủi ro cơ bản dễ gây hiểu lầm còn
các rủi ro khác thì hiểu theo tên gọi của chúng
Hoả hoạn
Rủi ro này thực chất bao gồm 3 phần: Hoả hoạn , sét và nổ.
Tạ Quang Tuấn F4-K36
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Hoả hoạn : Trong đơn bảo hiểm Hoả hoạn tiêu chuẩn không định
nghĩa rõ thế nào là hoả hoạn vì ngời ta hiểu nó theo nghĩa thông dụng
nghĩa là sẽ đợc coi là hoả hoạn nếu có đủ 3 yếu tố sau đây
- Phải thực sự có phát lửa
- Lửa đó không phải là lửa chuyên dùng
- Về vật chất đám lửa phải bất ngờ ngẫu nhiên với ngời đợc bảo hiểm
chứ không phải là cố ý có chủ định của họ hoặc đồng loã của họ. Tuy
nhiên hoả hoạn đợc xẩy ra do bất cẩn của ngời đợc bảo hiểm vẫn
thuộc phạm vi đợc bồi thờng.
nổ không phải do các nguyên nhân bị loại trừ
- Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ Hoả hoạn: Thiệt hại ban
đầu do Hoả hoạn đợc bồi thờng nhng những tổn thất do hậu quả của
nổ thì không
Sét : Theo khái niệm thông thờng đợc áp dụng trong đơn bảo hiểm là
ngời đợc bảo hiểm sẽ đợc bồi thờng khi tài sản bị phá huỷ trực tiếp
do sét hoặc bị sét đánh gây Hoả hoạn. Tuy nhiên, cũng theo khái
niệm thông thờng thì sét đánh mà không phát lửa hoặc khônng pha
huỷ trực tiếp tài sản thì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thờng.
ở đây cần lu ý trừ khi trừ khi tia sét phá huỷ trực tiếp các thiết bị điện đ-
ợc bồi thờng, còn tia sét làm thay đổi dòng điện dẫn tới thiệt hại cho
thiết bị điện thì không đợc bồi thờng.
2. Cụm rủi ro
Một nhóm những ngôi nhà hoặc kho tàng ngoài trời ở liền kề nhau
trong một khu vực, tách biệt với những ngôi nhà kho tàng ngoài trời
khác về không gian
Các ngôi nhà hoặc kho tàng ngoài tời đợc coi là tách biệt nhau về không
gian nếu khoảng cách giữa chúng là khoảng cách tối thiểu. Khoảng cách
tối thiểu là khoảng cách tính bằng chiều cao của ngôi nhà cao nhất hoặc
vợt quá 20m nếu tài sản là loại dễ Hoả hoạn và qua 10m nếu tài sản là
loại không Hoả hoạn hoặc khó Hoả hoạn. Khoảng cách trên 20m đợc coi
là tách biệt về không gian.
3. Đơn vị rủi ro
Tạ Quang Tuấn F4-K36
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Một số ngôi nhà, bộ phận của nhà kho ngoài trời liền nhau nhng tách
biệt với các ngôi nhà, bộ phận nhà kho ngoài trời khác về không gian hoặc
cấu trúc.
Đơn vị rủi ro đợc coi là tách biệt về không gian khi khoảng cách giữa
hiểm việc đánh giá rủi ro sẽ giúp họ quyết định có nhận bảo hiểm hay
không, mức phí bao nhiêu. Tài liệu về định giá rủi ro coi nh báo cáo của họ
trong hồ sơ về khách hàng, nó cũng là tài liệu để báo cáo cho các nhà nhận
bảo hiểm và cũng là cơ sở đối chiếu khi giải quyết bồi thờng.
Nếu việc điều tra đánh giá rủi ro đợc thực hịên một cách đầy đủ, kỹ l-
ỡng, kết hợp với bảng hỡng dẫn tính phí hoặc sử dụng chơng trình tính phí
bảo hiểm trên máy vi tính, cán bộ khai thác hoàn toàn có thể tính toán ngay
đợc một cách chính xác tỷ lệ phí. Điều này giúp cho việc chủ động, nhanh
chóng trong khai thác, trách đợc tình trạng phải tham khảo, hỏi han, tốn
kém mất thời giờ.
Tạ Quang Tuấn F4-K36
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Chơng II
Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm
Hoả hoạn tại Bảo Việt
I. Thị trờng bảo hiểm Việt Nam - Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ
bảo hiểm Hoả hoạn
Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam ( gọi tắt là Bảo Việt ) đợc thành
lập từ ngày 15.1.1965 theo Quyết định số 179/CP ngày 17.12.1964 của Thủ
tớng Chính phủ, là doanh nghiệp nhà nớc duy nhất hoạt động kinh doanh
dịch vụ bảo hiểm. Bảo Việt có nhiệm vụ thành lập quỹ dự trữ bảo hiểm từ
sự đóng góp, tham gia bảo hiểm của các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Từ năm 1981, Bảo Việt đã thành lập các công ty chi nhánh ở các
tỉnh, địa phơng để tiến hành các dịnh vụ bảo hiểm. Hoạt động của các chi
nhánh không những giúp Bảo Việt triển khai bảo hiểm trên phạm vi cả nớc
mà còn hình thành một mạnh lới đảm bảo an toàn tài chính cho toàn bộ ng-
ời đợc bảo hiểm.
Trong hơn 30 năm qua, ở Việt nam từ "bảo hiểm " đồng nghĩa với
Sau một năm thực hiện, một yêu cầu cấp bách đợc đặt ra là phải có
quy định chung hớng dẫn về bảo hiểm Hoả hoạn. Vì vậy ngày 2. 5.1991,
Bảo Việt đã ban hành Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt áp
dụng trên cả nớc. Nghiệp vụ này ngày càng khẳng định đợc vị trí quan
trọng của nó đặc biệt là sau khi Hội đồng bộ trởng ra quyết định số 332/
HĐBT ngày 23. 10 1991 về việc bảo toàn, phát triển vốn kinh doanh đối với
doanh nghiệp nhà nớc. Bên cạnh đó, thông t số 82/TC/CN hớng dẫn cụ thể
việc thực hiện quyết định trên của HĐBT : " Để tránh các trờng hợp
không bảo toàn đợc vốn do nguyên nhân khách quan nh thiên tai, rủi ro
trong quá trình sản xuất kinh doanh tránh các trờng hợp phải xử lý giảm
vốn và đa lỗ vào doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải mua bảo hiểm tài
sản để tạo nguồn bù đắp cho các thiệt hại đó tại các công ty bảo hiểm Việt
nam. Khoản chi về bảo hiểm đợc hạch vào giá thành hoặc chi phí lu thông
của doanh nghiệp. Nhà nớc sẽ không cho ghi giảm vốn trong trờng hợp tài
Tạ Quang Tuấn F4-K36
14
Chuyên đề tốt nghiệp
sản bị tổn thất vì những rủi ro mà công ty bảo hiểm trong nớc triển khai loại
hình bảo hiểm tơng ứng ".
II Các hoạt động trong bảo hiểm hoả hoạn
Cũng giống nh bất cứ một nghiệp vụ bảo hiểm nào, nghiệp vụ bảo
hiểm Hoả hoạn gồm các bớc cơ bản sau :
- Khai thác
- Giám định
- Bồi thờng
- Hạn chế tổn thất
Các bớc này có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau. Kết quả của bớc
này ảnh hởng trực tiếp tới kết quả của các bớc tiếp sau nó và làm thành một
chu trình hoạt động của một nghiệp vụ.
1. Công tác khai thác bảo hiểm
doanh INDOCHINA CERAMIC sản xuất vật liệu xây dựng, trang thiết bị
nội thất đã mua với số tiền bảo hiểm là 12250000 $, mức phí là 20825 $.
Để tìm ra các doanh nghiệp "ăn nên làm ra" không phải là khó, cán
bộ khai thác nên chú ý theo dõi quảng cáo trên các phơng tiện thông tin đại
chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình ) đồng thời phải có sự phối hợp
với các ngân hàng, cơ quan khác để nắm bắt đợc đối tợng.
1.2 Đánh giá rủi ro
Công tác đánh giá rủi ro đợc tiến hành sau khi khách hàng gửi giấy
yêu cầu bảo hiểm với mục đích giá chính xác các rủi ro có thể xảy ra với
các đối tợng bảo hiểm. Qua đó xác định tỷ lệ phí bảo hiểm thích hợp tơng
ứng với các rủi ro mà công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm.
Để có cơ sở đáng giá đúng rủi ro, thông thờng công ty bảo hiểm sẽ
gửi cho khách hàng bản phiếu điều tra các rủi ro (bảng câu hỏi). Qua phần
trả lời khách hàng trong phiếu điều tra, các công ty bảo hiểm sẽ xác định đ-
ợc bậc chịu lửa của công trình, loại PCCC (các thiết bị PCCC đợc trang bị,
đội cứu hoả, bảo vệ ), hạng sản xuất (với đơn vị sản xuất), loại kinh doanh
dịch vụ ( với đơn vị kinh doanh dịch vụ ), mức độ nguy hiểm với các tài sản
để trong kho, cửa hàng, từ đó xác định mức phí thích hợp.
Tạ Quang Tuấn F4-K36
16
Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy nhiên trên thực tế, để đảm bảo sự chính xác, trung thực khi đánh
giá rủi ro, ngoài việc gửi phiếu điều tra rủi ro, các cán bộ khai thác bảo
hiểm sẽ đến làm việc trực tiếp với khách hàng, nghiên cứu và khảo sát thực
tế kỹ hơn, hớng dẫn khách hàng trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra,
cùng cộng tác với cảnh sát PCCC đánh giá thực tế về công tác PCCC, phơng
tiện chuyên môn (khách hàng cần những phơng tiện PCCC nào, bố trí ở
đâu, với số lợng là bao nhiêu ). Cuối cùng trên cơ sở đánh giá rủi ro, cán
bộ khai thác sẽ thoả thuân với khách hàng về tỷ lệ phí sẽ áp dụng.
Nh vậy công tác đánh giá rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó
ty.Hiện nay Bảo Việt cũng quy định phạm vi mức phân cấp khai thác cho
từng công ty. Nếu đối tợng bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trong phạm vi đó
thì công ty chỉ cần gửi một bản giấy chứng nhận. Nếu vợt quá mức phân
cấp, trớc khi cấp giấy chứng nhận cho khách hàng, các công ty cần gửi hồ
sơ cho Tổng công ty xem xét và quyết định.
1.4 Bổ sung tài sản đợc bảo hiểm và theo dõi tình hình thu phí
Trên thực tế, có nhiều khách hàng yêu cầu sửa đổi, bổ sung tài sản đ-
ợc bảo hiểm sau khi đã đợc cấp giấy chứng nhận bảo hiểm. Các công ty cần
xem xét kỹ yêu cầu thay đổi nh : giá trị bảo hiểm, các yếu tố ảnh hởng đến
tỷ lệ phí để từ đó tính toán, điều chỉnh lại tỷ lệ phí, phí bảo hiểm cho thích
hợp. Bản bổ sung sửa đổi cũng đợc lập thành bốn bản trao cho các bộ phận
nói trên.
Ngoài ra các cán bộ khai thác cũng cần định kỳ xuống thăm các đối
tợng bảo hiểm, kiểm tra các công tác PCCC, nêu ra các đề xuất để tăng c-
ờng công tác này. Đồng thời phải phối hợp với các bộ phận tài vụ để theo
dõi việc đóng phí của khách hàng, nhắc nhở họ tái tục bảo hiểm khi thời
hạn bảo hiểm sắp hết.
1.5 Hoa hồng
Trong công tác khai thác không thể không nói đến vấn đề hoa hồng.
Đây là một khoản chi đợc tính theo tỷ lệ phần trăm so với số phí bảo hiểm.
Khoản hoa hồng này, công ty trả cho ngời trực tiếp đứng ra tham gia bảo
hiểm hoặc trả cho ngời môi giới nhằm động viên khuyến khích họ nhiệt
tình công tác, thu hút thêm nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm. Đây cũng
là một hình thức tạo dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng.Từ năm
Tạ Quang Tuấn F4-K36
18
Chuyên đề tốt nghiệp
1995, để tạo tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động, khoản chi hoa hồng
đợc tính vào chi quản lý nghiệp vụ.
Có thể nói công tác khai thác có một vai trò quan trọng trong hoạt
2.2 Đề xuất các biện pháp hạn chế tổn thất
Thông thờng sau khi gặp hoả hoạn, ngời đợc bảo hiểm rất hoang
mang và lúng túng không biết phải làm gì. Vì vậy trên cơ sở xem xét hiện
trờng và song song với việc điều tra tai nạn, giám định viên bảo hiểm phải
góp ý kiến với ngời đợc bảo hiểm các biện pháp hạn chế tổn thất nh sau:
- Cách ly khu vực và tài sản bị thiệt hại.
- Rào kín những nơi mà ngời ngoài có thể đột nhập vào.
- Bơm rút nớc cứu hoả còn đọng lại ra khỏi những nơi chứa tài sản
để tránh tài sản h hỏng thêm.
- Di chuyển các mảnh đổ vỡ, tro than để cứu tài sản,
Qua quá trình điều tra, các giám định viên phải tìm ra đợc nguyên
nhân gây Hoả hoạn. Chú ý rằng đó phải là những nguyên nhân trực tiấp dẫn
đến hoả hoạn. Cuối cùng các giám định viên bảo hiểm sẽ xác định mức độ
thiệt hại và lập biên bản giám định. Biên bản giám định sẽ đợc trình lên
công ty một bản và Tổng công ty một bản.
3. Công tác bồi thờng
Một trong những yêu cầu và cũng là một trong những phẩm chất
quan trọng đối với ngời làm công tác bảo hiểm là phải quan tâm và cảm
thông sâu sắc tới các nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng. Phẩm chất
đó phải đợc thể hiện đặc biệt rõ nét trong khâu trong khâu giải quyết bồi th-
ờng. Giải quyết bồi thờng tốt có nghĩa là giải quyết nhanh và đúng - đây là
nhiệm vụ số một của ngời làm công tác bồi thờng và là một trong những
biện pháp tuyên truyền có hiệu quả nhất, làm tăng uy tín của công ty và có
ảnh hởng tích cực tới khâu khai thác bảo hiểm.
Đảm bảo đợc mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác bồi thờng,
cán bộ công ty cần thực hiện tốt những bớc sau :
3.1 Kiểm tra hồ sơ khiếu nại và xác định trách nhiệm bảo hiểm
Nhận đợc hồ sơ đòi bồi thờng, ngời bảo hiểm phải kiểm tra, xem xét
hồ sơ có đầy đủ và hợp lệ không. Trờng hợp hồ sơ thuộc trách nhiệm bảo
hiểm nhng cha đầy đủ thì phải yêu cầu khách hàng bổ sung kịp thời và ngày
số tiền khách hàng đòi bồi thờng là bao nhiêu. Nếu số tiền đó bằng hoặc
nhỏ hơn mức miễn thờng thì không cần tính toán mà có thể trả lời ngay cho
khách hàng là tổn thất không đợc bồi thờng vì nằm trong phạm vi mức miễn
Tạ Quang Tuấn F4-K36
21
Chuyên đề tốt nghiệp
thờng. Nếu tổn thất lớn hơn mức miễn thờng thì phải tính chi tiết mức độ
thiệt hại.
Cụ thể :
* Đối với bảo hiểm Hoả hoạn :
Số tiền bảo hiểm
Số tiền bồi thờng = Giá trị thiệt hại ì
____________________
Giá trị bảo hiểm
3.4 Lập hồ sơ bồi thờng, giải quyết bồi thờng và khiếu nại
Trên cơ sở tính toán đợc số tiền bồi thờng nh trên, cán bộ bồi thờng
sẽ lập hồ sơ bồi thờng và trình lên lãnh đạo Tổng công ty xét duyệt bồi th-
ờng. Sau khi có quyết định của lãnh đạo, cán bộ bồi thờng sẽ thông báo cho
khách hàng cụ thể về mức bồi thờng, thời gian, địa điểm công ty bảo hiểm
chi trả số tiến đó cũng nh các giấy tờ cần thiết mà họ phải có. Nếu khách
hàng chấp nhận thì việc bồi thờng sẽ đợc chuyển cho phòng kế toán-tài vụ.
Trong thực tế, khâu bồi thờng là khâu dễ phát sinh các tranh chấp,
khiếu nại khi khách hàng cho rằng số tiền bồi thờng là cha hợp lý. Bởi vậy,
cần xem xét nghiên cứu các ý kiến khiếu nại một cách khách quan. Cũng
cần lu ý là trớc khi chính thức bồi thờng, trên cơ sở những thông tin nhận đ-
ợc và đánh giá chung, cán bộ bồi thờng sớm ớc tính số tiền bồi thờng và
thông báo cho khách hàng biết trớc để cho họ không bị bất ngờ khi công bố
số tiền chính thức. Cần chú ý lắng nghe nguyện vọng của khách hàng, nhẹ
nhàng và kiên nhẫn giải thích kỹ những thắc mắc của họ ngay cả khi từ chối
bồi thờng.
thiết.
III. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm Hoả
hoạn
1. Kết quả khai thác và thực hiện doanh thu
Công cuộc đổi mới kinh tế của đất nớc mỗi năm lại mang đến những
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Kinh tế phát triển cộng với cơ chế quản lý theo hớng thị trờng đã làm cho
nhu cầu và khả năng tham gia bảo hiểm tăng.
Năm năm qua ( 91-95 ) là những năm khởi đầu cho nghiệp vụ bảo
hiểm Hoả hoạn. Do có sự nỗ lực của ban lãnh đạo Tổng công ty cũng nh
Tạ Quang Tuấn F4-K36
23
Chuyên đề tốt nghiệp
các cán bộ trong công tác bảo hiểm Hoả hoạn nên kết quả nghiệp vụ này
ngày càng cao.Hơn một năm đầu triển khai nghiệp vụ ( 89-90 ) các đơn vị
tham gia còn quá ít ỏi. Trong số hàng vạn các xí nghiệp hoạt động trên
phạm vi cả nớc thì đơn vị tham gia bảo hiểm Hoả hoạn chỉ dừng lại ở con
số trên dới 100. Đây là những doanh nghiệp thực sự có nhu cầu và thờng là
những công ty thuộc về ngành xăng dầu, do vậy khả năng xảy ra rủi ro là
rất lớn.
Nguyên nhân của tình trạng này là do bớc đầu chuyển sang kinh tế
thị trờng, nhiều đơn vị còn lúng túng, kinh doanh cha ổn định nên không có
điều kiện tham gia bảo hiểm. Mặt khác do nớc ta tồn tại quá lâu cơ chế cũ,
nên khi chuyển sang cơ chế mới, lãnh đạo các xí nghiệp còn mang nặng t t-
ởng bao cấp, cha thấy rõ đợc trách nhiệm phải bảo toàn vốn của mình. Một
phần nã là về phía công ty, do đây là nghiệp vụ mới, cán bộ làm công tác
bảo hiểm Hoả hoạn cha nhiều, cha có kinh nghiệm. Hơn nữa, cán bộ cha
phục vụ tận tình mà để khách hàng phải tự đến gõ cửa công ty.
Nắm bắt đợc tình hình nh vậy, Văn phòng Tổng công ty cũng nh các
công ty địa phơng đã có những nỗ lực lớn để khắc phục tình hình. Do vậy
tăng cao và nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn cũng tăng theo.
- Về chủ quan : Tổng công ty đã có những cố gắng đáng kể trong việc đào
tạo, bồi dỡng và mở rộng đội ngũ cán bộ. Thỉnh thoảng, công ty có mở lớp
hớng dẫn, tập huấn cho cán bộ, cộng tác viên để trau dồi thêm nghiệp vụ.
Ngoài ra, các cán bộ nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn cũng cố gắng tìm mọi
cách để mở rộng địa bàn tiếp thị, triển khai mạng lới các văn phòng đại
diện quận, huyện ở các địa phơng giúp cho việc tiếp cận khách hàng đợc tốt
hơn đồng thời giữ vững địa bàn hoạt động, không để mất khách hàng. Tổng
công ty đã mở rộng mạng lới tuyên truyền, quảng cáo thông qua các phơng
tiện thông tin đại chúng nh : đài, báo, tạp chí, vô tuyến truyền hình
Đi đôi với việc bồi dỡng cán bộ, Tổng công ty đã từng bớc hoàn thiện
hơn trong việc tính phí. Việc áp dụng biếu phí linh hoạt đã đa ra đợc những
mức phí cạnh tranh, phù hợp với cơ chế thị trờng. Nếu nh trớc đây, Baỏ Việt
chủ trơng áp dụng một tỷ lệ phí trung bình cho tất cả các ngành sản xuất
kinh doanh, các loại tài sản khác nhau là 0,29 %, sau đó sử dụng hệ số điều
chỉnh thì đến tháng 12 năm 1993, Tổng công ty đã đề nghị Bộ tài chính
Tạ Quang Tuấn F4-K36
25