Quá trình ra đời và phát triển của Công ty
Coca-cola tại Việt Nam
I. Tổng quan về công ty Coca-cola
1.1. Coca-cola toàn cầu
Tháng tám năm 1886, một dợc sỹ ở Colcembus, Atlant, tên là Jonhs
Pemberton đã phát minh ra công thức pha chế nớc siro Coca-cola(công thức ấy
cho đến nay vẫn là một điều bí ẩn) và ông đã bán nó với giá 1.750 đôla.
Ban đầu, Coca-cola đợc bán ở hiệu dợc phẩm Jacobs của Williveneble ở
Atlant. Trong năm đầu, mỗi ngày bán đợc 9 cốc Coca-cola với tổng số tiền bán đ-
ợc là 50 đôla. Ngày nay, sản phẩm của Coca-cola đợc tiêu thụ hàng tỷ cốc một
ngày.
Năm 1891, Asa G.Candler đã mua lại công thức và quyền sở hữu Coca-cola
với tổng mức giá là 2.300 đôla .
Đến 1892 , hình thành nên nhà máy Coca-cola.
Đến năm 1893, thơng hiệu Coca-cola đợc thiết kế bởi một nhân viên kế toán
tên là Robinson và đã đợc đăng ký bản quyền
Năm 1897, Coca-cola lần đầu tiên đợc giới thiệu ở một số thành phố của
Canada và Honolulu.
Ngày 31 tháng 1 năm 1899, Thomas và Whitehead cùng với ngời đồng sự là
J.T.Lupton đã nhận đợc quyền xây dựng nhà máy đóng chai, sản xuất và phân
phối Coca-cola gần nh là ở tất cả mọi nơi trên nớc Mỹ.
Năm 1906, nhà máy đóng chai đầu tiên đợc xây dựng ở Havana, Cuba.
Năm 1919, gia đình nhà Candler đã bán nhà máy Coca-cola cho một nhóm
các thơng gia mà đứng đầu là Ernest Woodruff của công ty Trustowr bang
Georgiavows giá 25000đôla.
Đợc thành lập hơn 100 năm qua, Coca-cola đã có mặt trên 200 quốc gia
trong đó có Việt Nam với 300 loại đồ uống khác nhau. Một triết lý xuyên suốt quá
trình hoạt động kinh doanh đó là câu khẩu hiệu Công ty Coca-cola tồn tại để
đem lại lợi ích và sự sảng khóai cho tất cả mọi ngời, có liên quan đến hoạt động
của công ty. Và cùng với nó công ty Coca-cola đã trải qua các bớc phát triển
thăng trầm sau:
các nhà sản xuất chai thuỷ tinh đa ra ý tởng thiết kế một kiểu dáng đặc biệt cho
chai Coca - Cola, mẫu thiết kế của hãng sản xuất đồ thuỷ tinh Root ở Terre Haute,
bang Indiana đã đợc lựa chọn, đó cũng là một trong số ít các mẫu bao bì đợc đăng
ký bản quyền tại Cục bảo vệ bằng sáng chế của Hoa Kỳ về hình dáng và tên gọi là
"Contour Bottle". Kể từ đó trở đi ngời tiêu dùng không những chỉ yêu thích hơng
vị Coca - Cola, tên gọi Coca - Cola mà còn cả hình dáng chai Coca - Cola.
Vào năm 1920 Robert W.Woodruff , giám đốc điều hành kiêm chủ tịch hội
đồng quản trị công ty bắt đầu thực hiện chiến lợc thúc đẩy hoạt động đóng chai
ngoài Hoa Kỳ và cho đến năm 1940 có hơn 64 nhà máy đóng chai vận hành ngoài
nớc Mĩ. Kể từ năm 1960 trở đi Coca-cola có thêm nhiều sản phẩm và nhãn hiệu
mới cùng với nó là các kiểu dáng chai mới đợc hình thành và phát triển mà cho
đến bây giờ chúng ta đang dùng. Cùng với sự hình thành và phát triển chiếc chai
là các chiến lợc phát triển trong từng thời kỳ:
Vào những năm 1960:
Đặc điểm của thời kỳ này là ngày càng có nhiều mặt hàng nớc giải khát trên
thị trờng có khả năng cạnh tranh với sản phẩm Coke trong khi năng lực sản xuất
của Coca-Cola là rất lớn cho nên công ty phải nghĩ đến chiến lợc nhằm củng cố và
khẳng định vị trí của mình và chiến lợc chính đợc sử dụng trong giai đoạn này và
các giai đoạn kế tiếp đó là chiến lợc đa dạng hoá sản phẩm. Trải qua gần 80
năm phát triển với chỉ một sản phẩm duy nhất, hãng thấy cần phải đa ra một số
sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu to lớn của ngời tiêu dùng, một sản phẩm dù tốt
đến đâu cũng không thể tiêu dùng mãi đợc mà cần phải cải tiến để phục hồi và
kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm.
Vào những năm 1970 và 1980:
Chiến lợc chủ yếu trong giai đoạn này là liên kết nhằm phục vụ ngời tiêu
dùng ("Consolidation to serve customers"), hệ thống phân phối của Coca-cola rất
phong phú đa dạng theo cả hai chiều ngang và dọc, các nhà máy đóng chai của
Coca-Cola có mặt trên khắp thế giới nhng chỉ một phần trong số đó là trực thuộc
công ty mẹ, còn lại là trực thuộc các chi nhánh khu vực và một số các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nhận hợp đồng đóng chai. Chính sự phức tạp đó khiến hãng
cho từng vùng với những chính sách Marketing thích hợp, bên cạnh đó các chi
nhánh có nhiều quyền quyết định hơn với hoạt động của mình, chi nhánh cấp trên
chỉ giữ vai trò giám sát và đảm bảo chất lợng sản phẩm Coca-cola theo đúng tiêu
chuẩn chất lợng của hãng tại Atlanta.
Nhng cho dù thực hiện chiến lợc nào thì đó vẫn chỉ là những giải pháp trong
từng giai đoạn còn chiến lợc cơ bản mà công ty vẫn theo đuổi và đạt đợc nhiều
thành công mà không phải doanh nghiệp nào cũng đạt đợc đó chính là chiến lợc
kinh doanh toàn cầu thể hiện: sản phẩm đồng nhất, chiến lợc marketing đồng nhất
trên toàn cầu để đến nay nó là sản phẩm đợc nhiều ngời biết đến nhất và thơng
hiệu có trị giá lớn nhất.
Yếu tố chính làm nên sự nổi tiếng của thơng hiệu Coca-Cola là: định hớng
sản phẩm đến ngời tiêu dùng, hoạt động Marketing mạnh mẽ và giữ bí mật công
thức pha chế để tạo nên một huyền thoại về Coca-Cola. Trong hoạt động kinh
doanh của mình Coca-Cola thờng xuyên có sự mâu thuẫn giữa duy trì truyền
thống và liên tục đổi mới và rất khó để lựa chọn giữa hai chiến lợc đó nên cho dù
trong giai đoạn nào với chiến lợc nào công ty vẫn theo đuổi t tởng xuyên suốt đó
là " mọi Hoạt độngcủa Coca-Cola bao giờ cũng hớng về ngời tiêu dùng" điều đó
không làm mất đi cái cũ mà công ty có thể đổi mới, điều đó cũng giữ đợc hình
ảnh của Coca-Cola đối với ngời tiêu dùng.
Yếu tố thứ hai tạo nên sức mạnh thơng hiệu chính là Hoạt độngMarketing
diễn ra rất mạnh mẽ, công ty đầu t rất nhiều vào Hoạt độngkhuyếch trơng quảng
bá sản phẩm. Hoạt độngMarketing không chỉ đối với ngời tiêu dùng mà còn đối
với các thành viên khác trong kênh phân phối, đây là yếu tố rất quan trọng làm
sao những nhà bán lẻ đó cũng là một nhà tiếp thị sản phẩm Coca-Cola.
Nh vậy bên cạnh những chiến lợc kinh doanh truyền thống của công ty.
Coca-Cola thờng xuyên phải đa ra những chiến lợc mới để thích ứng với sự thay
đổi của từng thời kỳ.
1.2. Cơ cấu tổ chức và hệ thống phân phối toàn cầu của
công ty Coca-cola toàn cầu
Hiện nay trên thế giới, sản phẩm Coca - Cola đợc phân phối qua 14 triệu các
Châu Phi
831 tr.ng 13,34 750 1 122 6 3 lần/tháng
Tổng số
6 185 tr.ng 100 10 766 18 700 100
Hình 1.1: Cấu trúc nhánh khu vực của Tập đoàn COCA-COLA
Chú thích:
CBO: nhà máy đóng chai trực thuộc công ty mẹ
EEM: Châu Âu, châu á giáp châu Âu, Trung Đông
Các khu vực lại đợc phân định tiếp theo từng vùng địa lý, có thể là một nớc
cũng có thể là cả 1 khu vực tuỳ thuộc vào diện tích và đặc điểm của từng vùng,
xét riêng với khu vực châu á nơi có đặt nhà máy đóng chai Coca-Cola tại Việt
nam thì sơ đồ cấu trúc phân chia tiếp nh sau:
Hình 1.2: Cấu trúc chi nhánh COCA-COLA khu vực châu á
Chú thích:SEWA: Tây nam và Đông Nam châu á (South East and West
Asia)
Nhìn vào hình 1.2 cho thấy Coca - Cola Việt nam trực thuộc chi nhánh Đông
Dơng, nh vậy không phải bất kỳ chi nhánh nào cũng đều thuộc Coca Cola mẹ ở
Atlanta, nếu nhìn vào sơ đồ 1.1 thì công ty mẹ ngoài việc quản lý công ty con 5
khu vực còn trực tiếp quản lý một số nhà máy đóng chai đặc biệt.
Nếu nhìn 2 sơ đồ trên thì cơ cấu tổ chức của Coca cola toàn cầu theo 4 cấp
khu vực, tuỳ thuộc vào vị trí từng khu vực mà họ có những chức năng và quyền
hạn khác nhau về quyền tự chủ tài chính và khả năng ra quyết định, nhng dù là
cấp nào thì chi nhánh đó phải chịu sự quản lý của chi nhánh cấp trên, ví dụ chi
nhánh Coca - Cola Việt nam chịu sự giám sát của chi nhánh Coca - Cola Đông D-
ơng, trong khi Nhật Bản chịu sự quản lý của chi nhánh khu vực châu á.
Trụ sở chính của chi nhánh Coca - Cola SEWA đóng tại Bangkok, Thái Lan, toàn
vùng SEWA có số dân là trên 356 triệu ngời với nhiều chủng tộc và thứ tiếng khác
nhau. Trong vùng có 1 nhà máy chế biến nớc cốt (Concentrate plant) xây tại
Singapore, 23 nhà máy đóng chai và 8 nhà máy đóng chai trực thuộc công ty mẹ
(Coca Bottling Operation - CBO), từ nớc cốt các nhà máy đóng chai sẽ pha chế