TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
KHOA KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN TÀI CHÍNH
TIỂU LUẬN
KINH TẾ V MÔ
Tên đề tài: Tình hình thất nghiệp của việt nam từ năm 2008 đến năm 2011
Giáo viên hướng dẫn :
Lớp : K44QLC.01
THÁI NGUYÊN – 2012
1
KHOA KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN KINH TẾ V MÔ
Nhóm sinh viên: Trần Hoàng Quân
Lớp: K44QLC.01
Ngày giao đề tài: 25/02/2012
Ngày hoàn thành: 18/04/2012
1. ĐỀ TÀI:
Tình hình thất nghiệp của việt nam từ năm 2008 đến năm 2011
2. YÊU CẦU
2.1. Những vấn đề lý luận chung
2.2. Thực trạng
2.3. Đề xuất một số giải pháp
Trưởng bộ môn Giáo viên hướng dẫn
2
KHOA KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN TÀI CHÍNH
BẢN PHÂN CÔNG PHỤ TRÁCH CÔNG VIỆC TRONG NHÓM
Nhóm sinh viên:
Lớp:
Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ thất nghiệp làm trong độ tuổi lao động theo vùng của Việt
Nam năm 2011 26
Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động theo vùng của Việt Nam năm 2011. .26
Bảng 2.9: Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động theo vùng của
Việt Nam giai đoạn năm 2008 – 2011 28
Biểu 2.9: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động theo vùng của Việt Nam giai đoạn
năm 2008 – 2011 29
Biểu 2.10: Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động theo vùng của Việt Nam giai
đoạn năm 2008 – 2011 29
5
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh, trước hết
là hướng đến mục tiêu Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2020
thì vấn đề thất nghiệp và các chính sách giải quyết việc làm đang là đề tài hết sức nóng
bỏng và không kém phần bức bách đang được toàn xã hội đặc biệt quan tâm.
Đất nước ta đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế phát triển, đất nước ta
đang đổ mới từng bước, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, Kinh
tế học vĩ mô đã vạch rõ ra trong vấn đề phát sinh rong đó thể hiện ở những vấn đề:
Thất nghiệp, việc làm, lạm phát… Ở đề tài này chỉ tập chung vào phân tích về vấn đề
thất nghiệp việc làm của nước ta trong 3 năm 2008 đến 2011.
Thất nghiệp, đó là vấn đề cả thế giới cần quan tâm. Bất kỳ một quốc gia nào dù
nền kinh tế có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại thất nghiệp, đó là vấn đề
không thể tránh khỏi chỉ có điều là tỷ lệ thất nghiệp đó ở mức độ thấp hay cao mà thôi.
Thất nghiệp còn kéo theo nhiều vấn đề tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, ma túy, làm
sói mòn nếp sống lành mạnh, phá vỡ nhiều mối quan hệ. Tạo ra nhiều lo lắng cho toàn
xã hội. Vậy nguyên nhân chính dẫn đến thất nghiệp là do đâu?
Đề tài này nghiên cứu này nhằm đưa ra nhận thức đúng đắn tình trạng thất
nghiệp tại nước ta hiện nay và từ đó đưa ra chính sách hợp lý để tạo công ăn việc làm
cho người dân và giảm tối đa số người thất nghiệp. Trong đề tài này chúng em xin
trình bày một số quan điểm của nhóm về tình hình thất nghiệp của Việt Nam từ năm
dân được tính trong độ tuổi lao động là từ 15 tuổi trở lên, có khả năng ký kết hợp đồng
lao động).
Lực lượng lao động: là số người trong độ tuổi lao động đang có việc làm và
chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm.
Người có việc làm là những người đang làm cho các sở kinh tế, văn hóa xã hội,
… được trả lương.
Người thất nghiệp là những người hiện đang chưa có việc nhưng có nhu cầu và
đang nỗ lực tìm kiếm việc làm.
Ngoài những người có việc làm và thất nghiệp, những người còn lại trong độ
tuổi lao động được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động bao gồm
người đi học, nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động như ốm đau,
bệnh tật,… và một bộ phận không muốn tìm việc làm với những lý do khác nhau.
1.1.2, Phân loại thất nghiệp.
Thất nghiệp là môt hiện tượng cần phải được phân loại để hiểu rõ về thất nghiệp
thì chúng ta có thể phận loại theo các tiêu thức chủ yếu sau đây:
7
1.1.2.1, Phân theo loại hình thất nghiệp.
Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào bộ phận dân cư nào,
ngành nghề nào,giới tuổi nào.Cần biết những điều đó để hiểu rõ đặc điểm, đặc tính,
mức độ tác hại của nó đến nền kinh tế,các vấn đề liên quan :
- Thất nghiệp chia theo giới tính ( nam, nữ ).
- Thất nghiệp chia theo lứa tuổi ( tuổi, nghề ).
- Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ ( thành thị, nông thôn ).
- Thất nghiệp chia theo ngành nghề (ngành kinh tế, nông nghiệp ).
- Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
1.1.2.2, Phân loại theo lý do thất nghiệp.
- Do bỏ việc : Tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng lương
thấp,không hợp nghề,hợp vùng
- Do mất việc : Các hãng cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh.
- Do mới vào : Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động nhưng chưa tìm được việc làm
động ( giữa các ngành nghề,khu vực ) loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh
tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường lao động. Khi sự lao động này là
mạnh kéo dài,nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và kéo dài.
Thất nghiệp cơ cấu bao gồm:
- Những người chưa có đủ kỹ năng lao động, như những người trong độ tuổi 20 và môt
số người trưởng thành nhưng chưa qua đào tạo.
- Những người có kỹ năng lao động nhưng kỹ năng này không đáp ứng được sự thay
đổi trong yêu cầu của công việc.
- Những người mà kỹ năng của họ bị mất đi sau một thời gian dài không làm việc nên
không thể tìm được việc làm mới.
- Những người mà kỹ năng lao động của họ không được công nhận do sự phân biệt đối
xử, như người lao động thuộc nhóm dân tộc thiểu số hay người nước ngoài không hiểu
tiếng nói hay phong tục tập quán của địa phương,…
D, Thất nghiệp do thiếu cầu.
Do sự suy giảm tổng cầu. Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các
nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh, xảy ra
ở khắp mọi nơi mọi ngành mọi nghề.
1.1.3, Tác động của thất nghiệp.
1.1.3.1. Tác động của thất nghiệp đối với kinh tế.
9
Tỷ lệ thất nghiệp cao thường đi đôi với cắt giảm sản xuất của nhiều doanh
nghiệp, nhiều ngành, do đó sản lượng, doanh thu, thu nhập giảm sút. Xét ở phạm vi
toàn bộ nền kinh tế, thất nghiệp làm cho tăng trưởng kinh tế thấp hoặc không có tăng
trưởng, đôi khi giảm sút nghiêm trọng, ảnh hưởng đến mức sống của người lao động
và nhân dân. Mối quan hệ giữa thay đổi về sản lượng thất nghiệp đã được Arthur Okun
phát hiện. được gọi là qui luật Okun.
Quy luật Okun phản ánh rằng: Khi GDP giảm 2% so với GDP tiềm năng thì mức
thất nghiệp tăng 1%. Như vậy là nếu GDP ban đầu là 100% tiềm năng và giảm xuống
còn 98% tiềm năng đó, thì mức thất nghiệp sẽ tăng từ 6% lên 7%.
Quy luật Okun thể hiện mối quan hệ giữa sản lượng tiềm năng (Y*), sản lượng thực tế
tế so với tổng số ngày công có nhu cầu làm việc (Bao gồm số ngày công đã làm việc
và số ngày công có nhu cầu làm thêm).
Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng =
Tổng số ngày công làm việc thực tế x 100%.
Tổng số ngày công có nhu cầu làm việc
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động: là tỷ lệ % dân số trưởng thành của Việt Nam
nằm trong lực lượng lao động.
Tỷ lệ tham gia lực lương lao động = Lực lượng lao động x 100%.
Dân số trưởng thành
Ý nghĩa: Cho phép các nhà kinh tế hoạch định chính sách theo giõi những biến
động trên thị trường lao động theo thời gian.
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Là tỉ lệ thất nghiệp khi sản lượng của nền kinh tế đạt mức tiềm năng (mức toàn
dụng). Đó là tỷ lệ thất nghiệp toàn dụng của nền kinh tế dài hạn.
Tỷ lệ thất nghiệp thực tế của nền kinh tế dao động xung quanh tỷ lệ thất nghiệp
tự nhiên. Tỷ lệ thất nghiệp thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên tùy theo biến động của nền kinh tế.
Thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp đương nhiên luôn bởi có một số người
trong giai đoạn chuyển thừ chỗ làm này sang chỗ làm khác.
Thất nghiệp tự nhiên = Thất nghiệp tạm thời + Thất nghiệp cơ cấu.
Thất nghiệp thực tế = thất nghiệp tự nhiên + thất nghiệp chu kỳ.
11
Hình 1: Thất Nghiệp tại mức việc làm đầy đủ
Thất nghiệp là vấn đề kinh tế - xã hội phổ biến đối với hầu hết các quốc gia và
Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Nghiên cứu mức độ thất nghiệp
giúp đánh giá chính xác mức sống và tình hình ổn định kinh tế, xã hội… của một quốc
gia. Cuộc điều tra về lao động và việc làm cung cấp thông tin thích hợp phục vụ công
tác nghiên cứu và đánh giá vấn đề thất nghiệp.
Để có được bức tranh thực về tình trạng việc làm, đặc biệt là ở những nước đang
phát triển, nơi có mức an sinh xã hội thấp, thì việc xem xét đồng thời hai chỉ tiêu thất
Các chỉ số tăng trưởng cho các ngành cũng thể hiện một xu hướng phục hồi rõ rệt.
Công nghiệp tiếp tục là đầu tàu của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá trị sản xuất
công nghiệp năm 2010 đạt 17,2% tăng 14% so với cùng kỳ năm 2009. So với khu vực
công nghiệp thì khu vực dịch vụ cũng có sự phục hồi nhanh chóng đáng kể, tốc độ
tăng trưởng đạt 7,5% tăng 0,78% so với năm 2009. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, năm
2010 gặp nhiều khó khăn: đầu năm hạn hán nghiêm trọng, giữa năm nắng nóng gay
gắt, cuối năm mưa lũ lớn kéo dài ở miền Trung và Tây Nguyên. Những khó khăn này
đã gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất vụ mùa, nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi. Tuy
nhiên, do thực hiện nhiều chính sách và giải pháp hỗ trợ hộ nông dân và các doanh
nghiệp về vốn, vật tư, tiêu thụ kịp thời, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9
tháng đầu năm đã tăng 2,89% so với cùng kỳ năm 2009, ước cả năm 2010 tăng 2,8%.
13
Tuy nhiên, bên cạnh sự phục hồi và tăng trưởng thì nền kinh tế nước ta cũng gặp
không ít khó khăn. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),
lượng ngoại tệ ồ ạt đổ vào trong những năm 2007 - 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu và sự bất ổn định của thị trường ngoại tệ cùng với việc phụ thuộc quá vào
mức tăng trưởng nhờ đầu tư, đã đặt ra các thách thức cho việc quản lý nền kinh tế vĩ
mô, đặc biệt là việc kiểm soát lạm phát. 4 tháng đầu năm 2011, tỷ lệ lạm phát lên mức
cao, lên đến 13,95%, vượt xa chỉ tiêu 7% cho cả năm do Quốc hội đề ra.
Việt Nam đang phải đối mặt với các áp lực lạm phát lớn hơn nhiều so với nhiều
khu vực trên thế giới. Giá thực phẩm, chi phí vận tải và nhà ở gia tăng là một trong
nhiều nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao. Theo một số ý kiến, trong thập kỷ qua,
Việt Nam đã có mức lạm phát cao nhất trong khu vực và trên thế giới. Liên hợp quốc
tại Việt Nam cho rằng, nguyên nhân của hiện tượng này một phần do các yếu tố nội
tại, như các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam dành ưu tiên cho việc đạt được
tỷ lệ tăng trưởng cao hơn là đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Việc sử dụng chính sách
tiền tệ và tài chính còn lỏng lẻo trong một thời gian dài đã có những tác động tiêu cực
đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và dẫn đến những giai đoạn lạm phát cao lặp đi lặp
lại, kể cả những tháng đầu năm 2011. Vì vậy, Chính phủ đang nỗ lực kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Việc giảm đầu tư cho những
phải về nước trước thời hạn. Theo Bộ Lao Động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào
khoảng 4,65%, tức là khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm.
Trong thông báo gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành Phố Hồ Chí
Minh, Công ty trách nhiệm hữu hạn Sambu Vina Sport cho biết sẽ giảm 224 lao động
kể từ ngày 11-1-2009. Trước đó, nhiều doanh nghiệp cũng đã thông báo về việc cắt
giảm lao động như Công ty Sony Việt Nam, Công ty liên doanh RSC, Công ty trách
nhiệm hữu hạn Castrol BP Petco, Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ
Dai-Ichi Việt Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn tư vấn thiết kế Liên hiệp Quốc tế
với tổng số lao động bị mất việc trên 1.000 người. Hàng ngàn lao động mất việc cuối
năm 2008. Hàng vạn người bị nợ lương, không có tiền thưởng. Thất nghiệp, bản thân
người thất nghiệp không có thu nhập, ảnh hưởng đến đời sống bản thân, gia đình họ.
Một bộ phận rất lớn người lao động trong các khu công nghiệp là người từ các
tỉnh nông nghiệp. Họ đi lên thành thị làm công nhân vì ở quê không có việc làm hoặc
làm không đủ sống. Nhà máy ngừng sản xuất, phải đóng cửa hoặc giảm bớt lao động
nên họ phải trở về. Nợ cũ chưa trả hết lại chồng thêm nợ mới. Họ đi kiện công ty đưa
mình đi xuất khẩu lao động, nhưng xét cho cùng cũng chẳng phải lỗi của ai. Người
thất nghiệp kéo từ thành phố về nhà, cái nghèo ở quê đã quá đủ, nay gánh nặng thêm
vì số lao động thất nghiệp tăng lên
15
Đơn vị: (%)
Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
1, Cả nước
2, Đồng bằng sông Hồng 5, Tây Nguyên
3, Trung du, miền núi phía Bắc 6, Đông Nam Bộ
4, Trung Bộ, duyên dải miền Trung 7, Đồng bằng sông Cửu Long
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động theo vùng của Việt Nam
năm 2008.
Theo Tổng cục Thống kê, chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta những năm gần đây
chỉ được tính cho khu vực thành thị, với những người trong độ tuổi 15-60 với nam và
15-55 với nữ. Tuy nhiên, để đánh giá về tình hình lao động, còn một chỉ tiêu khác là tỷ
lệ lao động thiếu việc làm. Đây là chỉ tiêu quan trọng được tính cho cả lao động ở khu
vực nông thôn và thành thị, nhưng từ trước đến nay chưa công bố. Ở Việt Nam, tỷ lệ
lao động thiếu việc làm thường cao hơn tỷ lệ thất nghiệp; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm
nông thôn thường cao hơn thành thị. Với cách hiểu như vậy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt
Nam năm 2008 là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007. Trong khi đó, tỷ lệ lao động
thiếu việc làm hiện là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc
làm nông thôn tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%. Trong 5 năm
trở lại đây, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm 0,1-0,2%/năm. Nhưng
do ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới, từ năm 2007 đến nay, tỷ lệ này đang tăng
dần. Việt Nam đang tích cực triển khai các giải pháp để giảm tỷ lệ thất nghiệp, thiếu
việc làm về đúng quỹ đạo giảm như các năm trước. Theo dự báo của tổng cục thống
17
kê, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2009 sẽ tăng lên 5,4% (2008: 5,1% ); trong đó, khu vực
nông thôn khoảng 6,4%.
Khảo sát cho thấy người lao động nhập cư đang đối mặt với tình trạng giảm thu
nhập, nhiều người lao động nhập cư tại các làng nghề và khu công nghiệp được khảo
sát đang quay lại quê nhà. Họ và làng quê họ, nơi đã từng hưởng lợi từ tiền gửi về do
làm thuê, đang gánh chịu nhiều nhất những tác động trước mắt của khủng hoảng kinh
tế. Xu thế và hướng đi của lao động di cư trong nước và mối liên kết nông thôn - thành
thị là những chỉ số quan trọng cần được sử dụng để tiếp tục theo dõi tác động xã hội
của khủng hoảng kinh tế trong thời gian tới.
mỗi năm đưa được 100 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó 60% lao
động qua đào tạo nghề, có 5 đến 10% lao động ở các huyện có tỷ lệ nghèo cao.
2.2.2, Thực trạng thất nghiệp năm 2009
Theo báo cáo của bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, do ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế, đến cối năm 2009, cả nước đã có 133.262 lao động bị mất việc làm –
chiếm 18% lao động làm việc trong các doanh nghiệp (DN) có báo cáo, chưa kể
40.348 lao động ở các làng nghề bị mất việc làm và khoảng 100.000 người phải giảm
giờ làm, nghỉ luân phiên.
Ngày 19/1/2010, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết tỷ lệ thất nghiêp
tại khu vực thành thị của Việt Nam năm 2009 là 4,66% (đây là tỷ lệ thất nghiệp ở độ
tuổi 15-60 đối với nam và 15-55 đối với nữ) và tỷ lệ thiếu việc làm của Việt Nam ở
mức 5,1%. Đáng chú ý tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn lên tới 6,1%, còn khu vực
thành thị là 2,3%.Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2009,
cả nước đã tạo việc làm cho 1,51 triệu lao động, đạt 88,8% kế hoạch năm, trong đó,
tạo việc làm trong nước là 1,437 triệu người và xuất khẩu lao động trên 73.000 người.
Tỉ lệ thiếu việc làm Tỉ lệ thất nghiệp
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Toàn quốc 5.4 3.2 6.3 2.8 4.6 2.1
Nam 5.7 3.7 6.6 2.7 4.3 2
Nữ 5.1 2.7 6 2.9 4.9 2.1
Các vùng
20
Viện Khoa học lao động và xã hội vừa công bố kết quả từ công trình nghiên cứu
“Khủng hoảng kinh tế và thị trường lao động Việt Nam”. Ở đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Lan
Hương, viện trưởng đã công bố: nếu tăng trưởng kinh tế trong năm 2009 đạt từ 5 –
6%, thì số lao động bị mất việc do khủng hoảng kinh tế là 494.000 người. Thậm chí số
người mất việc sẽ tăng lên khoảng 742.000 người vào năm 2010 nếu nền kinh tế vẫn
chưa thể phục hồi. Điều cần lưu ý, đây là số việc làm bị giảm đi so với khả năng tạo
việc làm mới của nền kinh tế do tác động của khủng hoảng tài chính, nghĩa là chừng
đó người rơi vào thất nghiệp hoàn toàn.
Có một thực tế là từ cuối năm 2008 đến nay, nhiều doanh nghiệp trong các khu
công nghiệp đã cắt giảm lao động do suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, không thể nói rằng
tất cả những lao động này bị thất nghiệp vì phần lớn những người này đã trở về quê và
tìm kiếm một công việc mới (có thể là công việc không phù hợp) nhưng vẫn cho thu
nhập, dù có thể là thu nhập thấp. Chính vì vậy, cần hết sức thận trọng khi nói về tình
trạng thất nghiệp hiện nay.
Khi suy thoái kinh tế đã kết thúc, thì tiến trình hồi phục thường phải kéo dài
trong rất nhiều năm. Do vậy, ngay trong khủng hoảng, thì việc đánh giá chính xác tình
hình để làm cơ sở xây dựng chiến lược nguồn nhân lực với doanh nghiệp, với chính
quyền vẫn có giá trị quyết định tới khả năng vượt qua khủng hoảng và phát triển. Với
người lao động, việc làm càng dễ mất đi, thì công việc mới càng dễ sinh ra. Nhưng với
doanh nghiệp, không ổn định được nguồn nhân lực thì không thể nói tới khả năng bình
ổn sản xuất.
Năm 2010, Bộ đặt mục tiêu tạo việc làm cho 1,6 triệu lao động. Trong đó,
việc làm trong nước là 1,515 triệu người, xuất khẩu lao động là 85.000 người. Bên
cạnh đó, Bộ cũng phấn đấu giảm tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi ở khu vực thành
thị xuống dưới 4,7%.
2.2.3, Thực trạng thất nghiệp năm 2010
Tại cuộc họp báo ngày 31/12/2010, Tổng cục thống kê cho biết, lực lượng lao
động trong độ tuổi của nước ta năm 2010 khoảng 46,21 triệu người, tăng 2,12% so với
năm 2009. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,88%.
2.61 3.73 2.18 3.5 1.58 4.23
Bắc Trung bộ và Duyên hải
miền Trung
2.94 5.01 2.29 4.47 2.88 4.95
Tây Nguyên
2.15 3.37 1.66 3.7 3.37 3.83
Đông Nam bộ
3.91 4.72 2.9 1.22 0.6 1.99
Đồng bằng sông Cửu Long
3.59 4.08 3.45 5.57 2.84 6.35
Bảng 2.5: Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động theo vùng
của Việt Nam năm 2010.
Ghi chú: Series1: Chung Series2: Thành thị Series3: Nông thôn
1, Cả nước
2, Đồng bằng sông Hồng 5, Tây Nguyên
3, Trung du, miền núi phía Bắc 6, Đông Nam Bộ
4, Trung Bộ, duyên dải miền Trung 7, Đồng bằng sông Cửu Long
22
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động theo vùng
của Việt Nam năm 2010.
Ghi chú: Series1: Chung Series2: Thành thị Series3: Nông thôn
1, Cả nước
2, Đồng bằng sông Hồng 5, Tây Nguyên
3, Trung du, miền núi phía Bắc 6, Đông Nam Bộ
4, Trung Bộ, duyên dải miền Trung 7, Đồng bằng sông Cửu Long
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động theo vùng của
Việt Nam năm 2010.
Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009
xuống 48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 22,4%;
khu vực dịch vụ tăng từ 26,5% lên 29,4%.Tỷ lệ thất nghiệp tại thành thị gấp đôi nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Toàn quốc
2.22 3.6 1.6 2.96 1.58 3.56
Trung du và miền núi phía Bắc
0.87 2.62 0.54 1.87 1.42 1.95
Đồng bằng sông Hồng
1.81 3.33 1.34 4.12 1.97 4.77
Bắc Trung bộ và Duyên hải
miền Trung
2.28 3.96 1.71 3.4 2.71 3.63
Tây Nguyên
1.31 1.95 1.06 3.1 2.25 3.44
Đông Nam bộ
1.97 2.63 1.56 1.21 0.5 1.64
Đồng bằng sông Cửu Long
2.77 3.37 2.59 4.79 2.83 5.39
Hà Nội 2.38 3.52 1.6 1.22 0.83 1.49
Thành phố Hồ Chí Minh 4.52 4.88 2.78 0.37 0.35 0.48
Bảng 2.7: Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động theo vùng
năm 2011.
24
Ghi chú: Series1: Chung Series2: Thành thị Series3: Nông thôn
1, Cả nước
2, Đồng bằng sông Hồng 6, Đông Nam Bộ
3, Trung du, miền núi phía Bắc 7, Đồng bằng sông Cửu Long