TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN HUỲNH THỊ NGỌC THANH
ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC BỆNH TRẮNG GAN, TRẮNG
MANG TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
GIỐNG Ở ĐỒNG THÁP
ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC BỆNH TRẮNG GAN, TRẮNG
MANG TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
GIỐNG Ở ĐỒNG THÁP
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
TỪ THANH DUNG
BÙI THỊ BÍCH HẰNG
năm gần đây đã xuất hiện bệnh TGTM gây thiệt hại lớn đến nghề sản xuất cá
giống. Chính vì vậy đề tài “Đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan trắng mang trên
cá tra (Pangasianodon hypophthamus) giống ở Đồng Tháp” được thực hiện
nhằm tìm hiểu sự thay đổi về đặc điểm bệnh học trong quá trình bệnh diễn ra ở
các ao ương nhằm đưa ra cơ sở khoa học cần thiết để góp phàn làm giảm thiệt
hại phát sinh bệnh giúp cho việc điều trị hiệu quả hơn. Mẫu được thu định kỳ
trên 4 ao ương xuất hiện bệnh trắng gan trắng mang (TGTM) tại huyện Hồng
Ngự tỉnh Đồng Tháp, thu 4 - 6 lần mỗi lần thu 10 con. Mẫu cá thu được phân
tích ngoại ký sinh, cấy mẫu vi sinh và cố định mẫu mô trong dung dịch formol
trung tính 10%.
Kết quả kiểm tra ký sinh trùng và vi sinh đã xác định được mẫu cá trong 4 ao
nuôi đều phát hiện được ký sinh trùng thuộc nhóm đơn bào và 1 ao có nhiễm
vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophyla. Kết quả mô học ở
cá TGTM, giữa các đợt thu mẫu cấu trúc không biến đổi nhiều, cá bệnh
TGTM cấu trúc biến đổi nhẹ hơn cá bị TGTM kết hợp với mủ gan. Các đặc
điểm thường gặp như: tế bào mất cấu trúc, hoại tử, xung huyết và xuất huyết
trên gan thận tỳ tạng. Mặc dù chưa xác định được tác nhân gây bệnh TGTM
nhưng các thông tin trên sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
iii
MỤC LỤC
PHẦN I GIỚI THIỆU 1
PHẦN II TỒNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Một số bệnh thường gặp 3
2.1.1 Bệnh do ký sinh trùng 3
2.1.2 Bệnh vi khuẩn 4
2.2 Các nghiên cứu mô học 5
2.3 Tình hình xuất hiện bệnh 7
Phụ Lục H 51
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
iv
DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ xử lý mẫu mô 11
Hình 3.2: Sơ đồ qui trình nhuộm mẫu mô 12
Hình 4.1: Nội tạng cá khỏe và cá TGTM 13
Hình 4.2: Gan, Mang cá TGTM và cá khỏe 13
Hình 4.3: Đĩa tách ròng vi khuẩn 16
Hình 4.4: Nhuộm Gram vi khuẩn E 100X 16
Hình 4.5: Test API 20E 17
Hình 4.6: Đĩa cấy vi khuẩn trên TSA 17
Hình 4.7: Nhuộm Gram vi khuẩn E 100X 17
Hình 4.8: Test API 20E 18
Hình 4.9: Mang cá khỏe 19
Hình 4.10: Mang cá TGTM 19
Hình 4.11: Mô học mang cá khỏe (H&E) 19
Hình 4.12: Mô học mang cá bệnh TGTM (H&E) 20
Hình 4.13: Mô học mang cá TGTM & MG (H&E) 21
Hình 4.14: Mô học gan cá khỏe (H&E) 21
Hình 4.15: Mô học gan cá bệnh TGTM (H&E) 23
Hình 4.16: Mô học gan cá bệnh TGTM & MG (H&E) 24
Hình 4.17: Mô học thận cá khỏe (H&E) 25
Hình 4.18: Mô học thận cá bệnh TGTM (H&E) 26
Hình 4.19: Mô học thận cá TGTM & MG (H&E) 27
đầu tháng 12 năm 2008 kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 4 tỷ
USD. Trong đó 10 tháng đầu năm, sản lượng xuất khẩu đã đạt 1.054.600 tấn,
trị giá 3,828 tỷ USD, tăng 39,4% về lượng và 24,4% về giá trị so với cùng kỳ
năm 2007. Đặc biệt, các nước trong khối EU vẫn đứng đầu thị trường nhập
khẩu thủy sản Việt Nam, chiếm 25,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
với gần 970 triệu USD, tăng 29,3% so với 10 tháng năm 2007.(Afasco, 2009)
Hiện nay nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL ngày càng phát triển với mức độ
thâm canh hóa ngày càng tăng, để đáp ứng nhu cầu thì con giống đang là vấn
đề cấp thiết. Đồng Tháp là một trong những tỉnh có nghề sản xuất cá giống
phát triển mạnh, khoảng 300 cơ sở, tổng diện tích sản xuất khoảng 4.000 ha,
cung ứng 65-70% cá tra giống cho toàn vùng ĐBSCL (Thanh sơn, 2008). Với
tình trạng nuôi cá tra như hiện nay dẫn đến bệnh thường xuyên xảy ra như
bệnh xuất huyết, bệnh mủ gan, bệnh ký sinh trùng …gây thiệt hạị nặng. Bên
cạnh đó, trong những năm gần đây đã xuất hiện bệnh “trắng gan, trắng mang”
gây ảnh hưởng đến sản lượng cá tra nuôi. Đặc biệt gây chết vào giai đoạn
giống trầm trọng và vẫn chưa được xác định chính xác tác nhân gây bệnh.
Bệnh trắng gan trắng mang thường xuất hiện ở giai đoạn cá tra giống
(khoảng 1 tháng tuổi), và gây tỉ lệ chết cao từ vài trăm đến vài nghìn con/ngày,
kéo dài từ 7 đến 10 ngày (thông tin từ người nuôi). Theo Huy và Tiến vào năm
2008, đã có nghiên cứu về mô học và huyết học trên cá tra bệnh trắng gan
trắng mang. Và các thông tin khoa học cụ thể về bệnh trắng gan trắng mang
trên đối tượng nuôi này hầu như chưa có. Chính vì vậy mà đề tài “Đặc điểm
bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon
hypophthalmus) giống ở tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện.
Mục tiêu đề tài
Tìm hiểu sự thay đổi về đặc điểm bệnh học trong quá trình bệnh diễn ra
ở các ao ương nhằm đưa ra cơ sở khoa học cần thiết để góp phần giảm thiệt
hại phát sinh bệnh này giúp cho việc điều trị hiệu quả hơn.
2.1.1 Bệnh do ký sinh trùng
Theo Bùi Quang Tề (2001), cho rằng ký sinh trùng phụ thuộc vào giai
đoạn phát triển của cá. Trong giai đoạn cá hương (từ 1 – 1,5 tháng tuổi) và giai
đoạn gống (từ 2 – 3 tháng tuổi) gặp chủ yếu là trùng đơn bào ngoại ký sinh
như nhóm trùng bánh xe (Trichodina, Trichodinella spp và Tripartiella spp)
và một số loài sán lá song chủ. Ở giai đoạn giống thì cá tra thường dễ bị nhiễm
các loài ký sinh trùng như: Trichodina, Dactylogyrus, Gyrodactylus,
Myxobolus, Ichthyophthyrius, Henneguya,…ký sinh gây bệnh.
Bệnh trùng bánh xe
Tác nhân gây bệnh là một số loài kí sinh trùng thuộc họ Trichodinidea
bao gồm các loài thuộc giống Trichodina ký sinh ở da và mang cá, các đối
tượng cá tra giống, cá trê giống, bống tượng, mè vinh,…đều bị nhiễm trùng
bánh xe gây thành dịch làm cá chết từ 50 – 90% trong ao nuôi (Bùi Quang Tề
và ctv, 2004). Theo Từ Thanh Dung (2005), thì nhiệt độ thích hợp cho trùng
bánh xe là từ 20 – 30
0
C, bệnh thường xảy ra ở thời điểm cuối mùa Xuân đến
đầu mùa Thu, chúng ký sinh ở hầu hết các loài cá nhưng chủ yếu gây bệnh và
làm chết cá hương và cá giống trong các ao ương có mật độ dày và điều kiện
sống không tốt.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
4
Bệnh trùng quả dưa
Tác nhân gây bệnh là trùng quả dưa Ichthyophthyrius multifiliis, nhiệt
độ thích hợp cho trùng phát triển từ 22 – 28
0
C, bệnh gây thiệt hại chủ yếu ở
giai đoạn cá hương và cá giống. Ở Việt Nam, bệnh phát sinh rộng trên nhiều
loài cá khác nhau như cá chép, trắm cỏ, cá trê, cá tra, bống tượng…Trùng quả
hương bị cảm nhiễm Dactylogyrus, có ao tỷ lệ cảm nhiễm bệnh 100%, cường
độ cảm nhiễm 210-325 trùng/con cá, làm cá chết 75%.
2.1.2 Bệnh vi khuẩn
Vi khuẩn là một trong những nhóm tác nhân gây bệnh trên động vật
thủy sản mà chủ yếu và thường gặp nhất là nhóm vi khuẩn Gram âm. Tác nhân
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
5
vi khuẩn có thể được coi là tác nhân sơ cấp hoặc thứ cấp gây bệnh cho các loài
thủy sản (Inglis et al, 1993).
Theo Từ Thanh Dung và ctv (2004), đã phân lập từ 181 mẫu cá tra bệnh
mủ gan thu được 108 dòng vi khuẩn Edwardsiell ictaluri. Mẫu thu được từ
các vùng nuôi cá tra phát triển mạnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ. Từ
năm 1998 bệnh mủ gan phát hiện đầu tiên trên cá tra nuôi ở Đồng Bằng Sông
Cửu Long (ĐBSCL) và gọi là bệnh BNP (bacillary necrosis of Pagasius)
(Ferguson et al, 2001). Ngoài ra vi khuẩn này cũng là nguyên nhân gây bệnh
nhiễm trùng máu cấp tính trên cá nheo Mỹ với tỷ lệ hao hụt khá cao (Autin và
Autin, 1993). Một số tác giả đã tìm thấy một số bệnh phổ biến trên cá tra như:
bệnh gan thận mủ do vi khuẩn E. ictaluri, bệnh xuất hyết do vi khuẩn A.
hydrophila, A. sobria và A. caviae. Trong đó, vi khuẩn E. ictaluri là nguyên
nhân gây thiệt hại kinh tế nguy hiểm nhất trong các mô hình nuôi công nghiệp
ở ĐBSCL. (Dung et al., 2008).
Một loại vi khuẩn cũng gây thiệt hại không kém trên động vật thủy sản
là Aeromonas, tác nhân gây nhiễm trùng máu xuất huyết ở một số loài cá như:
cá basa, cá bống tượng, cá rô phi, cá trê giống,… Đây là bệnh nhiễm khuẩn
nên có thể xảy ra ở các giai đoạn khác nhau từ cá giống , cá thịt và cá bố mẹ
đều có thể bị tác hại bởi bệnh này. Tỷ lệ tử vong ở động vật thủy sản từ 30 –
70% nhưng ở giai đoạn giống của ba ba và cá trê có thể lên đến 100% (Đỗ Thị
Hòa và ctv, 2004).
2.2 Các nghiên cứu mô học
cá bị lở loét (EUS). Tác giả mô tả dấu hiệu bệnh lý và những thay đổi cấu trúc
tế bào của đối tượng nhiễm bệnh. Do cá lở loét có nhiều tác nhân sơ cấp và cơ
hội xâm nhập gây bệnh (nấm, vi khuẩn) nên tác giả đã chia thành 5 dạng biểu
hiện của bệnh tương ứng với từng dạng sẽ có những biến đổi trong cấu trúc
mô. Ngoài ra Chinabut (1991), cũng có những nghiên cứu về mô bệnh học
trên cá trê trắng, tác giả không nghiên cứu trên cá bệnh mà chỉ nghiên cứu trên
cá khỏe và khảo sát mô ở các cơ quan như hệ cơ, hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ
bài tiết, hệ sinh dục… kết quả nghiên cứu để làm cơ sở so sánh khi nghiên cứu
mô cá bệnh.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực mô học, chủ
yếu trên các đối tượng nuôi phổ biến hiện nay như theo luận văn tốt nghiệp
của Nguyễn Quốc Thịnh (2002), bước đầu nghiên cứu mô bệnh học bệnh đốm
trắng trong nội tạng cá tra cho thấy khi cá bị trắng gan các cơ quan bị hủy hoại
nặng nhất là gan, thận và tỳ tạng kế đến là mang và cuối cùng bị ảnh hưởng
nhẹ nhất là tim và cơ. Các tổn thương vi thể chủ yếu là hoại tử dạng hạt.
Không ngừng ở đó Nguyễn Quốc Thịnh và ctv (2004), đã nghiên cứu mô
bệnh học trên cá tra trắng gan thể hiện nhiều thay đổi về cấu trúc, đặc biệt ở
gan, thận và tỳ tạng có hiện tượng xung huyết, xuất huyết và nhiều vùng bị
hoại tử trầm trọng xuất hiện ở hầu hết các vùng chức năng của các cơ quan kể
trên. Vi khuẩn cũng đã được tìm thấy trên mẫu mô của các cơ quan này,
những vi khuẩn này tạo thành bó ở rìa các vết hoại tử. Đồng thời ở mang cá
bệnh có sự dính lại của các tia mang làm cản trở hoạt động hô hấp của cá.
Trần Thị Ngọc Hân (2006), khảo sát mô học cá tra bị bệnh mủ gan
trong điều kiện gây cảm nhiễm kết quả cho thấy các cơ quan như gan, thận tỳ
tạng đều bị biến đổi có hiện tượng xung huyết. Các cơ quan tim và dạ dày,
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
7
bóng hơi và ruột ít biến đổi. Mang cấu trúc ít biến đổi có hiện tượng dính lại
và phình to của sợi mang thứ cấp. Mô da và cơ không có sự biến đổi. Đồng
sp, Trichodina sp, Myxobolus sp là rất cao và một kết quả phân tích khác tìm
thấy các loài ký sinh trùng như Dactylogyrus, Myxobolus và Ichthyonyctus
xuất hiện ở tất cả các nhóm cá khảo sát. Trong đó Balantidium chỉ thấy ở ruột
cá bệnh trắng gan, trắng mang nặng (Phạm Thị Phương Tiến, 2008).
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
8
Cá bị bệnh trắng gan trắng mang được quan sát có biểu hiện là mang có
màu trắng nhạt, nội tạng vàng rơm, xoang bụng chứa dịch, lớp chất nhầy trên
da, mang và bên trong ruột rất ít. Đặt biệt là máu chuyển sang màu hồng hơi
trắng kem. Bên cạnh đó cá còn có dấu hiệu của hiện tượng thiếu máu. Tình
trạng thiếu máu ngày càng nghiêm trọng khi cá có biểu hiện trắng gan, trắng
mang trong thời gian dài. Theo nghiên cứu của Phạm Thị Phương Tiến (2008),
kết luận trên cá tra bệnh trắng gan trắng mang nhẹ, hồng cầu giảm đi 18,7% so
với cá khỏe, 26,6% so với cá bị không bệnh này trong cùng ao nuôi. Trong khi
đó ở cá tra bệnh trắng gan trắng mang nặng là 4,57% và 6,48%. Theo kết quả
phân tích vi sinh của Phạm Ngọc Khỏe (2008), và Phạm Thị Phương Tiến
(2008), thì tác nhân gây bệnh trắng gan trắng mang trên cá tra không phải là vi
khuẩn. Đây cũng là vấn đề còn phải tìm hiểu sâu hơn để tìm ra tác nhân gây
nên bệnh trắng gan trắng mang trên cá tra nuôi để có biện pháp phòng trị thích
hợp.
trường TSA (Trypticase Soy Agar), EIA (Edwardsilla ictaluri agar) (EIA,
Merck), cồn 70
o
, cồn đốt, hóa chất nhuộm gam, môi trường O/F, bộ test API
20E,…
Hóa chất phân tích mô học: cồn, dung dịch formol 10%, Xylen, Parafin, sáp
ong, dung dịch Mayer
’
s albumin, dung dịch Haematocyline & Eosin (H & E),
keo dán Enterlan.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu mẫu
Tiến hành thu mẫu cá tra (10 con/ao) tại 4 ao được theo dõi để kiểm tra ký
sinh trùng và vi sinh. Định kỳ 4 ngày thu mẫu một lần. Thu 6 lần trong suốt
chu kỳ theo dõi. Kích thước cá giống trung bình là 10±1cm.
3.3.2 Phương pháp phân tích ký sinh trùng (theo tài liệu thực tập Giáo
Trình Bệnh 1, Khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ, 2008).
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
10
Phương pháp kiểm tra ký sinh trùng
Kiểm tra ngoại ký sinh trùng: dùng dao cạo nhẹ lớp nhớt trên da, vây, mang để
lên lam, thêm 1 giọt nước muối sinh lý. Đậy lamelle lại và quan sát ký sinh
trùng dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 10X-40X.
Xác định tỷ lệ cảm nhiễm (TLCN) và cường độ cảm nhiễm (CĐCN)
TLCN(%) =
Số cá nhiễm ký sinh trùng
X 100
Tổng số cá kiểm tra
Con cá/ cơ quan/ lame/ thị trường
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
11
Mẫu cá cho phân tích phải còn sống hoặc gần chết, cố định mẫu bằng
dung dịch Formol trung tính 10%. Sau 24-48 giờ tiến hành rửa dưới vòi nước
sau đó chuyển sang cồn 70% để bảo quản và xử lý mẫu.
Cắt tỉa và định hướng
Mẫu trước khi đưa vào qui trình mẫu phải cắt tỉa và định hướng cho
mẫu đạt kích cỡ phù hợp và đưa mẫu vào catsset tiến hành xử lý.
Xử lý mẫu (được thực hiện trên máy)
Đúc khối
Việc đúc khối được tiến hành với paraffin nóng chảy (57- 60
o
C). Cho
một ít paraffin vào khuôn. Sau đó cho mẫu bỏ vào khuôn, đặt mẫu ngay ngắn
và ấn mẫu sát với đáy khuôn, tiếp tục đổ paraffin đầy khuôn và để trên bàn
lạnh để khối paraffin rắn lại và tách ra khỏi khuôn, mẫu được giữ cố định.
Cắt mẫu
1h
Cồn 100%
1h
Xylen
30 phút
Xylen
40 phút
Paraffin + Xylen
(1:1) 1h
Paraffin + Sáp ong
(1:1) 1h
Paraffin + Sáp ong
(7:3) 1h
Hình 3.1 Sơ đồ qui trình xử lý mẫu mô
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
12
Quá trình nhuộm mẫu được thực hiện trên máy và tiến hành theo qui
trình sau:
Haematocylin
1 phút
Rửa nước
5 phút
Rửa nước
5 phút
1% acid alcohol
10 giây
Rửa nước
1 phút
Eosin
2 phút
Cồn 95%
5 phút
Cồn 100%
5 phút
Cồn 100%
5 phút
Xylen
5 phút
Xylen
5 phút
Hình 3.2 Sơ đồ qui trình nhuộm mẫu mô (H&E)
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
13
PHẦN IV
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
Trong quá trình theo dõi đã tiến hành thu 4 ao trong đó có 2 ao TGTM,
1ao TGTM kết hợp có xuất hiện mủ gan và 1 ao cá khỏe không bị TGTM tại
a
b
Hình 4.1.a. Nội tạng cá khỏe màu sắc đồng nhất
b. Nội tạng cá TGTM, toàn bộ có màu trắng nhạt
a
b
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
14
Theo Nguyễn Thị Bạch Loan (2004), mang là cơ quan hô hấp chính của
hầu hết các loài cá, có nhiệm vụ lấy oxy từ môi trường ngoài đưa vào máu
đồng thời thải CO
2
từ máu trong cơ thể cá ra môi trường bên ngoài. Quá trình
trao đổi khí và nước tiến hành qua vách của các tia mang và các sợi mang nhỏ.
Nhìn chung cá bị TGTM cơ quan có sự biến đổi nhiều nhất là gan và mang.
4.3 Kết quả kiểm tra kí sinh trùng
Qua kết quả kiểm tra kí sinh trùng trên 2 cơ quan da và mang đã xác
định được 4 giống thuộc 3 ngành như sau:Giống Trichodina thuộc nghành
trùng lông Ciliphora, giống Myxobolus và giống Henneguya thuộc nghành
trùng bào tử sợi Cnidosporidia, giống Dactylogyrus thuộc nghành giun dẹp
Platyhelminthes.
Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm của ký sinh trùng trên cá
khỏe và cá bệnh được trình bày cụ thể ở bảng 4.1 và 4.2
Bảng 4.1: Cường độ cảm nhiễm kí sinh trùng hiện diện trên từng cơ quan.
Địa
điểm
Tên kí sinh
Mang (6 bào nang/lamelle) Da (2 bào nang/lamelle)
Mang(17bào nang/lamelle)
Dactylogyrus
Mang (3 cá thể/lamelle) Mang (9 cá thể/ lamelle)
Ao 3
Trichodina
Da (17 cá thể/lamelle)
Mang (25 cá thể/lamelle)
Da (17 cá thể/lamelle)
Mang (26 cá thể/ lamelle)
Myxobolus
Da (3 bào nang/lamelle)
Mang (2-4
bào nang/(lamelle)
Da (2 bào nang/lamelle)
Mang (6 bào nang/ lamelle)
Ao 4
Trichodina
Da (13 cá thể/ lamelle)
Mang (7 cá thể/lamelle)
Da (4 cá thể/ lamelle)
Mang (7 cá thể/ lamelle)
Myxobolus
(43.54%), đây là tỷ lệ nhiễm gây nguy hiểm cho cá theo tiêu chuẩn nghành
của bộ thủy sản (2004), chỉ cho phép tỷ lệ nhiễm ≤ 30%. Theo thông tin từ hộ
nuôi trên thì nguồn nước cấp vào chủ yếu được lấy trực tiếp từ sông không qua
xử lý, đây là một trong những điều kiện làm đàn cá nhiễm ký sinh trùng với
cường độ cao. Theo Từ Thanh Dung (2004), Trichodina và Myxobolus
thường xuất hiện ở những nơi có hàm lượng chất hữu cơ cao, đáy ao tích tụ
nhiều bùn kết hợp với tình trạng quản lý ao nuôi kém. Với mật độ nhiễm cao
có thể làm cá bỏ ăn, bơi lội không bình thường, có thể dị hình như cong đuôi,
da có nhiều chỗ đen, nắp mang cá có thể mở ra, nắp mang có nhiều đốm trắng
tròn, mô bị sưng to do các bào tử ký sinh trên cung mang, cá hoạt động yếu
dần và chết.
Riêng 2 nhóm còn lại là Dactylogyus và Henneguya xuất hiện với tỷ lệ
không cao, Dactylogyrus chiếm (19.03%) ở cá bệnh và 9.55% ở cá khỏe. Đặc
biệt là nhóm Henneguya chỉ bắt gặp trong 1 đợt thu mẫu với tỷ lệ cảm nhiễm
3.24% theo tiêu chuẩn nghành của bộ thủy sản (2004), tỷ lệ cảm nhiễm đối với
giống Hennegyua gây nguy hiểm đối với cá hương và cá giống là >30%. Như
vậy, mặc dù ao cá không xảy ra bệnh nhưng trong môi trường ương nuôi cá có
sự hiện diện của tác nhân gây bệnh cũng gây ảnh hưởng xấu đến quá trình
ương. Nếu cải tạo ao và quản lý môi trường ao tốt, sẽ hạn chế được rất nhiều
vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe cá nuôi.
Nhìn chung khi cá bị TGTM có tỷ lệ cảm nhiễm ký sinh trùng cao hơn
so với cá khỏe, khảo sát này không có sự khác biệt so với nghiên cứu của
Kí sinh trùng
Tỉ lệ cảm nhiễm (%)
Cá khỏe Cá TGTM
Da Mang Da Mang
Trichodina
45.65 30.43 51.61 41.93
Myxobolus
17.39 26.08 24.19 43.54
Trong 8 chủng vi khuẩn trên 5 chủng được chọn ra để định danh bằng bộ kit
API 20E thể phản ứng lysine dương tính, có khả năng sử dụng đường glucose
(phụ lục G). Các chỉ tiêu còn lại cho kết quả âm tính. Các chỉ tiêu này giống
với các chỉ tiêu của chủng chuẩn E.HO2. Theo Crumlish et al (2002), các
chủng phân lập được từ 12 cá tra bị gan thận mủ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Hình 4.3 Đĩa tách ròng vi khuẩn
E. ictaluri trên cá tra, 48 giờ. Hình 4.4 Kết quả nhuộm Gram vi khuẩn
E. ictaluri trên cá tra (E100X).
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
17
khi định danh bằng bộ kit API 20E cho kết quả dương tính với lysine, có sử
dụng đường glucose, âm tính với các chỉ tiêu còn lại. Như vậy có thể kết luận
5 chủng vi khuẩn được định danh bằng bộ kit API 20E là Edwarsiella ictaluri.
Vậy có thể kết luận 3 chủng còn lại thuộc giống Aeromonas hydrophyla.
Hình 4.5 Kết quả sử dụng kit API 20E để xác định đặc
điểm sinh hóa của vi khuẩn E.ictaluri
Hình 4.8 Kết quả sử dụng kit API 20E để xác định đặc điểm
sinh hóa của vi khuẩn A. hydrophyla
Hình 4.7 Kết quả nhuộm Gram vi
khuẩn A. hydrophyla (E100X)
Hình 4.6 Đĩa vi khuẩn A. hydrophyla
trên môi trường TSA, 24 giờ.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
18
4.5 Kết quả mô học
4.5.1 Mang
Theo Nguyễn Bạch Loan (2004), cấu tạo của mang cá gồm các lá
mang, lược mang, xương cung mang, động mạch ra vào mang và các dây thần
kinh, mang có nhiệm vụ hô hấp lấy oxy từ môi trường vào cơ thể và thải CO
2
ra bên ngoài quá trình này được tiến hành qua vách của các tia mang và sợi
mang nhỏ.
Khi cá có dấu hiệu TGTM, Mang cá khi bị TGTM màu sắc nhợt nhạt,
chuyển từ màu đỏ tươi sang hồng nhạt, nếu bệnh nặng mang chuyển sang
Hình 4. 9 A: Mang cá khỏe, màu đỏ tươi có nhiều tế bào máu.
B: Một cung mang cá khỏe, các tia mang có màu đỏ tươi
A B
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version