Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
1
Luận văn:
“Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch
– Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam”
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
2
MỞ ĐẦU
Bắt đầu từ Đại hội Đảng năm 1986, Việt Nam đã tiến hành quá trình đổi
mới nền kinh tế, xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp,
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản
lý của Nhà nước. Công cuộc đổi mới nền kinh tế đã tạo ra nhiều thành phần kinh
tế mới, trong đó có các DNNQD. Hiện nay, các DNNQD đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước, góp phần tạo công ăn việc
làm cho người lao động, góp phần đang kể vào GDP của đất nước. Xét về mặt
quản lý thì DNNQD chính là lực lượng quan trọng góp phần nâng cao hiệu suất
và tính linh hoạt của nền kinh tế. Tuy nhiên hiện nay các DNNQD Việt Nam
chưa phát triển xứng với tiềm năng vốn có của nó vì gặp phải nhiều lý do.
Đồng thời, trong những năm qua thì ngành ngân hàng Việt Nam cũng đã
tiến hành đổi mới trong tổ chức cũng như trong hoạt động kinh doanh của mình.
Các nghiệp vụ ngân hàng ngày càng phong phú hơn, đáp ứng được ngày càng
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
4
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI
QUỐC DOANH
1.1. Tín dụng Ngân hàng Thương mại.
1.1.1. Khái niệm.
Tín dụng Ngân hàng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của
nền kinh tế hàng hoá. Nó tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội,
tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau mà người ta đưa ra các khái niệm khác
nhau về tín dụng ngân hàng:
Theo định nghĩa hiện nay thì Tín dụng Ngân hàng Thương mại (NHTM)
là mối quan hệ giữa một bên là NHTM và một bên là khách hàng của ngân hàng
dựa trên nguyên tắc tin tưởng và hoàn trả. Trong đó Ngân hàng chuyển giao tiền
hoặc tài sản cho khách hàng trong một thời hạn nhất định, đồng thời bên nhận
tiền hay tài sản phải cam kết phải hoàn trả đầy đủ theo thời hạn và kèm theo
phần lãi do hai bên thoả thuận. Theo cách khác thì tín dụng ngân hàng là sự
chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức tiền tệ hay hiên vật từ
NHTM sang người sử dụng sau đó người sử dụng hoàn trả tại một thời điểm
trong tương lai với lượng giá trị lớn hơn.
Như vậy, theo định nghĩa trên thì tín dụng NHTM được thể hiện qua các
nội dung sau:
- Ngân hàng sẽ chuyển giao cho khách hàng (người vay) một lượng giá
trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay dưới hình thái hiện vật
như hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
hàng nếu muốn được ngân hàng cho vay thì phải có tài sản để cấm cố, thế chấp
hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba được ngân hàng đồng ý.
* Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng:
- Chiết khấu thương phiếu: Là hình thức tín dụng mà khách hàng sẽ
mang thương phiếu còn hạn đến ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn. Nghiệp
vụ chiết khấu thương phiếu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa
ngân hàng và những người ký tên trên thương phiếu.
- Cho vay:
+ Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến
của ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên, không có
điều kiện để cấp hạn mức thấu chi. Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và
trình ngân hàng giấy đề nghị vay vốn và trình phương án sử dụng vốn vay. Ngân
hàng sẽ tiến hành phân tích khách hàng, xác định quy mô cho vay, thời hạn cho
vay, thời hạn giải ngân, lãi suất, tài sản đảm bảo nếu cần và sau đó ký hợp
đồng cho vay.
+ Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển
hàng hoá. Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm giấy đề nghị vay luân
chuyển, sau đó Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau về phương thức
vay, hạn mức cho vay Hạn mức cho vay có thể được thoả thuận trong một năm
hoặc vài năm, đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời gian để ngân hàng
xem xét lại mối quan hệ với khách hàng. Vì thủ tục vay chỉ phải thực hiện một
lần nên rất thuận tiện cho khách hàng.
+ Cho vay theo hạn mức: Là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng thoả
thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay. Hạn mức có thể tính cho cả kỳ hoặc
cuối kỳ, đó là số dư tại thời điểm tính.
+ Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép
khách hàng được chi trội vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
7
Vốn là yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong bất kỳ nền kinh tế nào cũng có nguồn tiền nhàn rỗi và chưa được sử dụng,
tín dụng ngân hàng đã tập trung các nguồn tiền đó thông qua hoạt động huy động
vốn của mình theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi để có thể mang nguồn vốn đó
cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
* Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản
xuất, là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế
mũi nhọn.
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị
trường thông qua các công cụ tài chính tín dụng để sử dụng có hiệu quả nhất
nguồn tài nguyên và sức lao động. Muốn phát huy thế mạnh về tài nguyên để
chuyển hướng cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội thì không
thể thiếu vai trò của tín dụng ngân hàng. Trong đó, tín dụng ngân hàng tạo nguồn
vốn bằng cách huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất linh
hoạt, phù hợp với tỉ lệ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát để đầu tư vào các lĩnh vực, các
công trình cần thiết cho đất nước nhưng đang gặp khó khăn do thiếu vốn; Bên
cạnh đó ngân hàng còn tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi
nhọn mà sự phát triển của các ngành này đóng vai trò quan trọng trong sự phát
triển của kinh tế đất nước.
* Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân
chuyển tiền tệ.
Sự phát triển của tín dụng NHTM làm tăng mạnh các hoạt động thanh
toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, từ đó thúc đẩy lưu thông tiền tệ. Đây
cũng là một biện pháp hữu hiệu để kiềm chế lạm phát.
* Tín dụng Ngân hàng thực hiện chức năng phản ánh, tổng hợp và kiểm
soát các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế.
Sự vận động của tín dụng Ngân hàng cũng như việc quản lý tập trung
thống nhất công tác tín dụng đã tạo điều kiện cho nó phản ánh một cách tổng
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
10
từ sự đánh giá của cán bộ tín dụng, từ các tổ chức liên quan, thông tin từ thị
trường, điều tra quốc tế
- Bước 3: Phân tích, thẩm định khách hàng và phương án vay vốn. Thẩm
định tư cách pháp nhân, các giai đoạn phát triển, thẩm định tình hình tài chính
của Doanh nghiệp.
- Bước 4: Thẩm định dự án đầu tư.
+ Thẩm định sự cần thiết của dự án.
+ Thẩm định phương tiện kỹ thuật, tổ chức quản lý tài chính.
Tuỳ theo từng món vay cụ thể mà cán bộ tín dụng cần xác định cụ thể
nội dung và phương pháp thẩm định thích hợp để vừa đảm bảo chất lượng và
thời gian thẩm định, tránh việc thẩm định quá rườm rà, phức tạp làm mất cơ hội
kinh doanh của khách hàng.
- Bước 5: Quyết định cho vay.
- Bước 6: Kiểm soát vốn cho vay và thu nợ gốc, lãi, tiền thuê.
1.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta đã đề ra chủ trương đổi mới
đất nước, đó là sự nghiệp đổi mới toàn diện, trên nhiều lĩnh vực Trong đó đổi
mới cơ cấu kinh tế là một trong những ưu tiên quan trọng của Nhà nước. Phương
hướng chủ yếu nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế ở nước ta là phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN, đây là bước phát triển mang tính quy luật
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
(DNNQD) là doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ
(không kể các đơn vị đầu tư nước ngoài). Bao gồm: Các doanh nghiệp tư nhân,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
11
12
* Phân loại theo ngành kinh doanh thì DNNQD bao gồm:
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, khách sạn, nhà
hàng.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực vận tải, bưu chính, viễn thông.
- DNNQD hoạt động trong các ngành dịch vụ khác.
* Phân loại theo quy mô doanh nghiệp thì DNNQD bao gồm:
- DNNQD có quy mô vừa và nhỏ: Là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập,
đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh
không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
người.
- DNNQD có quy mô lớn: Là những doanh nghiệp có tính chất tư hữu,
có số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng và số lao động lớn hơn 300 người.
1.2.3. Đặc điểm của DNNQD ở nước ta hiện nay.
1.2.3.1. DNNQD có số lượng lớn.
Trong những năm gần đây, doanh nghiệp Việt Nam nói chung và
DNNQD Việt Nam nói riêng đã tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp, số lượng
lao động và vốn. Năm 1991, một năm sau khi ban hành luật công ty và luật
doanh nghiệp tư nhân, tổng số DNNQD chỉ có 414 doanh nghiệp. Đến năm
1999, số lượng DNNQD đã tăng lên con số 30.500 doanh nghiệp. Tính bình
quân giai đoạn này, mỗi năm tăng khoảng 3.252 doanh nghiệp, tương ứng với
tốc độ tăng 32%/ năm. Đến năm 2003, số lượng DNNQD đã tăng lên 55.236
doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng 88 % trong tổng số doanh nghiệp ở nước ta.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
13
14
pháp luật còn quá thiên về phương pháp lý thuyết mà ít chú ý tới phương pháp
giải quyết các vấn đề thực tế, mặt khác chi phí đào tạo quản lý nói chung còn rất
cao. Từ những lý do trên làm cho trình độ quản lý của DNNQD còn thấp, gây ra
nhiều khó khăn trong việc quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Những người
quản lý ở các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn trong công tác tổ chức nhân
sự, trong việc hoạch định kế hoạch cũng như phân tích dự án, cơ hội đầu tư. Việc
thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý tài chính trong các doanh
nghiệp này còn chưa được nghiêm túc, chính vì thế mà họ gặp nhiều khó khăn
khi muốn tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng.
Công nghệ sản xuất của các DNNQD đã trở nên lạc hậu. Theo điều tra
thì ở các DNNQD hiện nay chỉ có 20% thiết bị hiện đại, 55% thiết bị ở mức
trung bình, còn lại là thiết bị lạc hậu. Riêng ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo
thì có đến 60% máy móc, thiết bị lạc hậu từ những năm 60. Nguyên nhân của
tình trạng này là do vốn đầu tư ban đầu của các DNNQD thường thấp, họ lại gặp
nhiều khó khăn trong việc vay vốn tín dụng trung và dài hạn cần thiết cho việc
đầu tư nâng cấp công nghệ. Ngoài ra các DNNQD không được tiếp cận đầy đủ
với những dịch vụ tư vấn để có sự hỗ trợ trong việc xác định công nghệ tương
xứng và thích hợp với khả năng tài chính nhằm hoàn thiện trình độ sản xuất và
nâng cao sức cạnh tranh của mình. Chính vì những lý do trên mà hiệu quả sản
xuất kinh doanh của các DNNQD thường rất thấp và năng lực cạnh tranh trong
thị trường trong nước cũng như ngoài nước cũng bị suy giảm.
1.2.3.4. Các DNNQD tuy hoạt động linh hoạt song thường kém hiệu
quả.
Các DNNQD hoạt động năng động, thích nghi cao với thị trường, dễ
dàng chuyển đổi, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, hầu hết các
DNNQD hiện nay làm ăn theo kiểu manh mún, chộp giật mà không tính đến lợi
ích lâu dài của doanh nghiệp mình. Nhiều doanh nghiệp khi có cơ hội thì họ tận
dụng, khai thác tối đa nhất, triệt để nhất các lợi ích trước mắt mà không có tính
toán chiến lược lâu dài. Điều đó làm cho họ luôn bị động, lúng túng khi gặp khó
trường đã thực sự trở thành đối thủ cạnh tranh trên thị trường của rất nhiều
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
16
doanh nghiệp khác. Vì vậy, sự phát triển của DNNQD sẽ làm tăng tính cạnh
tranh trên thị trường.
Cạnh tranh không những giúp các doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm,
dịch vụ đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng trên thị trường mà còn
thông qua đó sàng lọc ra các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả và không hiệu quả.
Các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả sẽ bị loại ra khỏi thị trường. Với
những ưu thế của mình, các DNNQD đã thực sự trở thành đối thủ cạnh tranh
mạnh mẽ của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là
các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước, thành phần kinh tế mà
trong nền kinh tế kế hoạch hoá trước kia luôn giữ vị trí độc tôn. Đây thực sự là
một động lực giúp cho nền kinh tế phát triển vì nó thúc đẩy tính cạnh tranh, năng
động của mọi thành phần kinh tế trong xã hội, làm cho mọi nguồn lực của đất
nước được tận dụng tối đa.
1.2.4.3. Góp phần tạo việc làm, giảm thất nghiệp.
Việt Nam là một nước có dân số trẻ, lực lượng lao động đông đảo. Khu
vực kinh tế Nhà nước không thể tạo đầy đủ công ăn việc làm cho tất cả. Sự ra
đời của DNNQD thực sự là cứu cánh cho số lao động còn lại. Mặt khác,
DNNQD cần một lượng lớn lao động giản đơn, lao động không cần đầu tư phức
tạp nên rất phù hợp với trình độ của người lao động Việt Nam. Chính vì vậy mà
DNNQD đã góp phần quan trọng vào tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp của đất
nước.
1.2.4.4. Góp phần vào quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá của
đất nước.
DNNQD hoạt động trong mọi ngành nghề nhưng chủ yếu phổ biến ở các
lĩnh vực công nghiệp, thương mại, thủ công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu. DNNQD
có thể thích nghi đón đầu công nghệ mới, chuyển đổi hướng sản xuất nhanh
chung và DNNQD nói riêng, một doanh nghiệp chỉ có thể phát triển, khẳng định
vị thế của mình thông qua hoạt động tái sản xuất mở rộng. Tuy nhiên, với nguồn
vốn nhỏ bé, cơ sở vật chất yếu kém thì việc tái sản xuất mở rộng của các
DNNQD nếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự có là rất khó.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
18
Tháo gỡ được cho doanh nghiệp các khó khăn trên, tín dụng Ngân hàng
đã giúp đỡ cho các DNNQD trong việc hỗ trợ vốn lưu động và tiến hành tái đầu
tư mở rộng sản xuất. Với nhiều hình thức cho vay khác nhau mà các DNNQD đã
được cấp thêm vốn lưu động, có thể kịp thời chớp lấy các cơ hội kinh doanh,
tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, làm cho quá trình sản xuất kinh
doanh được diễn ra liên tục. Ngoài ra, với các hình thức cho vay trung và dài hạn
còn giúp các doanh nghiệp có vốn để đầu tư dây chuyền sản xuấtvà máy móc
thiết bị. Sự tài trợ này của ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, lợi
nhuận và hiện đại hoá công nghệ của chính mình.
Như vậy, tín dụng ngân hàng chính là nguồn vốn hỗ trợ tốt nhất, quan
trọng nhất, đa dạng nhất để các DNNQD có thể tiến hành sản xuất kinh doanh
một cách thuận lợi, phát triển.
1.3.2. Giúp các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
Vai trò này bắt nguồn từ chức năng giám sát của NHTM với tư cách là
nguời cho vay đối với các DNNQD. Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín
dụng, hướng dẫn các doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả,
đồng thời đôn đốc chủ doanh nghiệp trả nợ đúng hạn. Trong quá trình giám sát,
kiểm tra, Ngân hàng phát hiện ra những nhược điểm cần khắc phục, giúp các
doanh nghiệp xác định đúng phương hướng sản xuất kinh doanh kinh doanh,
nhằm hạn chế khả năng rủi ro có thể xảy ra.
Mặt khác, một trong những điểm cơ bản nhất của tín dụng NHTM là
buộc người vay phải hoàn trả gốc (vốn vay ban đầu) và lãi sau một khoảng thời
gian nhất định. Điều này đã buộc các DNNQD khi sử dụng nguồn vốn tín dụng
dụng luôn là một vấn đề quan tâm hàng đầu của các NHTM. Chất lượng tín dụng
được tạo nên bởi các khoản tín dụng nhưng nếu chỉ bó hẹp khái niệm tín dụng
đồng nghĩa với một khoản tín dụng thì rõ ràng là không đầy đủ và không phản
ánh hết tính đa dạng và phức tạp của hoạt động tín dụng. Do đó cần hiểu chất
lượng tín dụng Ngân hàng là bao hàm toàn bộ cả lợi ích của khách hàng, ngân
hàng cũng như của nền kinh tế.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
20
Các món tín dụng của ngân hàng được xem là có chất lượng tốt khi
khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay đúng mục đích vay vốn và trong quá trình
hoạt động đạt được hiệu quả cao, từ đó giúp Ngân hàng thu được gốc và lãi.
1.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng.
Hiện nay, với sự thông thoáng về cơ chế thì ngoài NHTM Nhà nước thì
đã xuất hiện thêm các loại hình NHTM khác, đó là Ngân hàng cổ phần, Ngân
hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Chính điều này đã làm cho sự
cạnh tranh giữa các ngân hàng càng ngày càng gay gắt. Các ngân hàng buộc phải
tìm ra các giải pháp trong hoạt động để giành được chiến thắng trong cạnh tranh,
đạt được hiệu quả trong kinh doanh, nâng cao vị thế của mình trên thị trường.
Một trong những biện pháp hiệu quả nhất, quan trọng nhất là nâng cao chất
lượng tín dụng. Chất lượng tín dụng được thể hiện qua các chỉ tiêu có thể định
lượng được như dư nợ tín dụng, nợ quá hạn đồng thời nó cũng thể hiện qua
việc thu hút được khách hàng, đóng góp vào nền kinh tế Để nâng cao được
chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả, quan hệ tín dụng
phải được xây dựng dựa trên quan hệ tin tưởng, uy tín. Hiểu đúng bản chất của
chất lượng tín dụng hiện tại cũng như những nguyên nhân của những hạn chế
còn tồn tại sẽ giúp ngân hàng có những biện pháp để nâng cao chất lượng tín
dụng, đạt được hiệu quả trong kinh doanh.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, lưu thông hàng hoá thì tín
dụng ngân hàng cũng phải không ngừng phát triển, cung cấp các phương tiện để
1.4.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương
mại.
1.4.3.1. Các chỉ tiêu định tính.
Qua sự phân tích ở trên thì ta có thể thấy chất lượng tín dụng của NHTM
được thể hiện qua khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng vay vốn,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng, đóng góp cho sự tăng trưởng và
phát triển của nền kinh tế đất nước. Về mặt định tính, để đánh giá chất lượng tín
dụng của ngân hàng thì có một số nội dung sau:
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
22
* Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng của ngân hàng phụ thuộc
vào nguồn vốn của ngân hàng, nếu Ngân hàng huy động được nhiều nguồn vốn
nhàn rỗi trong xã hội thì mới có khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các
khách hàng.
* Uy tín của Ngân hàng. Nếu một Ngân hàng có uy tín thì sẽ thu hút
được nhiều khách hàng hơn. Nếu một Ngân hàng có các khách hàng là các doanh
nghiệp làm ăn hiệu qủa, luôn trả được nợ đúng hạn thì chất lượng tín dụng của
Ngân hàng đó là tốt. Chất lượng tín dụng còn thể hiện ở chỗ khả năng đáp ứng
các nhu cầu của các khách hàng, nó biểu hiện ở chỗ nhanh gọn, thuận tiện trong
thủ tục nhưng vẫn bảo đảm khả năng cung cấp vốn đầy đủ, bảo đảm được an
toàn. Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được thời gian, tiết kiệm được chi phí
và không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Bên cạnh đó, để đạt được chất lượng tín dụng
cao thì Ngân hàng phải trở thành người bạn thực sự của các doanh nghiệp, sẵn
sàng giúp đỡ, chia sẻ khó khăn với họ. Chẳng hạn, nếu thấy dự án của doanh
nghiệp có những điểm chưa hợp lý thì Ngân hàng sẽ góp ý, tư vấn cho doanh
nghiệp để doanh nghiệp điều chỉnh lại cho hợp lý. Ngoài ra, Ngân hàng cũng có
thể là người cung cấp những thông tin về thị trường một cách bổ ích cho các
doanh nghiệp.
* Sự đóng góp cho nền kinh tế địa phương cũng như toàn quốc. Nó được
giữa ngân hàng với khách hàng như thế nào? Chỉ tiêu này cao cho thấy ngân
hàng đã tạo được uy tín đối với khách hàng, cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng
phong phú thu hút được khách hàng.
1.4.3.2.4. Hiệu suất sử dụng vốn vay:
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn vay =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân
hàng với khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn
huy động. Vậy tỷ lệ này lớn là tốt hay nhỏ là tốt? Chúng ta chưa thể khẳng định
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KhoaNH - TC
24
được bởi: Nếu tiền gửi ít hơn tiền cho vay thì ngân hàng phải tìm kiếm nguồn
vốn có chi phí cao hơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơn tiền cho vay thì ngân hàng sẽ
rơi vào tình trạng thừa vốn.
1.4.3.2.5. Doanh số thu nợ :
Chỉ tiêu này cho biết Ngân hàng đã thu được về bao nhiêu tiền khi đến
hạn trả nợ của khách hàng, từ đó có thể xác định được các doanh nghiệp trả nợ
đúng hạn, cũng như xác định được tỷ lệ thu nợ cũng như số nợ quá hạn của
khách hàng.
1.4.3.2.6. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ :
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này thể hiện chất lượng của những khoản vay. Khi tỉ lệ này vượt
quá một giới hạn cho phép thì nó thể hiện sự yếu kém của hoạt động tín dụng(
Mức giới hạn của mỗi nước là khác nhau, ở Việt Nam hiện nay chấp nhận tỷ lệ
này là 5%).
được tiến hành một cách bình thường, không bị ảnh hưởng bởi lạm phát, khủng
hoảng tài chính dẫn đến khả năng cho vay và khả năng trả nợ vay không có biến
động lớn. Tuy nhiên để xã hội phát triển đi lên đòi hỏi nền kinh tế phải có sự
tăng trưởng mà tăng trưởng thì dễ dẫn đến lạm phát. Nếu chúng ta không quản lý
tốt mà lại để lạm phát ở con số cao thì các ngân hàng sẽ là người chịu thiệt thòi
nhất do đồng tiền mất giá và như vậy chất lượng tín dụng sẽ bị giảm sút nghiêm
trọng. Ngoài ra do chính sách vĩ mô của nhà nước ưu tiên hay hạn chế phát triển