Tình hình quản lý thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội huyện Văn Giang - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc ta góp phần đảm bảo
ổn định đời sống cho cán bộ, công chức, quân nhân và ngời lao động, ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nớc, bảo vệ tổ
quốc. Chính vì vậy, từ khi thành lập nớc đến nay, Nhà nớc đã quan tâm thờng
xuyên đến việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH đối với cán bộ, công chức,
quân nhân và ngời lao động của các thành phần kinh tế.
Để hoạt động BHXH tồn tại và phát huy đợc tác dụng của mình đối với
ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc thì vấn đề đầu tiên là phải
quan tâm đến hoạt động của quỹ BHXH vì quỹ BHXH là xơng sống của bất kỳ
một hệ thống BHXH nào, muốn vậy cơ quan BHXH phải thực hiện tốt công tác
thu-chi quỹ BHXH.
Cơ quan BHXH huyện Văn Giang đợc thành lập và bắt đầu đi vào hoạt
động từ 1/01/2000 đến nay đã đạt đợc những thành tựu đáng kể về hoạt động
thu-chi quỹ BHXH: nh thu quỹ BHXH ngày càng tăng, chi đúng đối tợng, chi
kịp thời... bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục, một số cơ
sở lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trốn nộp BHXH, một số cơ sở nợ đọng
BHXH ...điều này làm cho hiệu quả hoạt động của quỹ BHXH còn cha cao và
còn phải nhờ vào Ngân sách Nhà nớc. Nh vậy, vấn đề quản lý hoạt động thu-chi
quỹ BHXH có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của hệ thống BHXH Việt
Nam cũng nh BHXH các tỉnh, huyện trong cả nớc. Do vậy, trong quá trình thực
tập tại cơ quan BHXH huyện Văn Giang em đã chọn đề tài: Tình hình quản lý
thu-chi quỹ BHXH tại BHXH huyện Văn Giang làm chuyên đề thực tập.
Nội dung của chuyên đề ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm các phần sau:
Chơng I : Tổng quan về BHXH và quỹ BHXH
Chơng II: Tình hình quản lý thu-chi quỹ BHXH tại cơ quan BHXH
huyện Văn Giang
Chơng III: Một số ý kiến và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu-chi
quỹ BHXH tại cơ quan BHXH huyện Văn Giang


Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mớn nhân công trở nên phổ
biến. Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng về sau đã phải cam
kết cả việc bảo đảm cho ngời làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang
trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản
v.v...Trong thực tế, nhiều khi các trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không
phải chi ra một đồng nào. Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra
một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn.Vì thế, mâu thuẫn chủ- thợ
phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ phải thực hiện cam kết.
Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và tác động nhiều mặt đến đời
sống kinh tế-xã hội. Do vậy, Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu
thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng đợc vai trò của Nhà nớc, mặt khác
buộc cả giới chủ và thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc
tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê. Số
tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm
vi quốc gia. Quỹ này còn đợc bổ sung từ Ngân sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm
đảm bảo đời sống cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính
nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc
dàn trải, cuộc sống của ngời lao động và gia đình họ ngày càng đợc đảm bảo ổn
định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và đợc bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra
bình thờng, tránh đợc những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ
tập trung đợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng. Khả năng giải quyết các
phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên
đợc thế giới quan niệm là BHXH đối với ngời lao động.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
3
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
Vậy BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối
với ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng
lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập

Qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề của giới chủ
và giới thợ, cùng với sự đổi mới của quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất n-
ớc, cùng với trình độ chuyên môn và nhận biết về BHXH của ngời lao động
ngày càng đợc nâng cao, cách chủ động khắc phục khi không may xảy ra rủi ro
với họ ngày càng đợc hoàn thiện.Tuy nhiên chỉ khi có sự ra đời của BHXH thì
những tranh chấp cũng nh những khó khăn mới đợc giải quyết một cách ổn thoả
và có hiệu quả nhất. Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội
loài ngời trong quá trình phát triển đất nớc.
Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên
trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần
thiết phải tiến hành bảo hiểm cho ngời lao động. Vì vậy, BHXH đã trở thành
nhu cầu và quyền lợi của ngời lao động và đợc thừa nhận là một nhu cầu tất yếu
khách quan, một trong những quyền lợi của con ngời nh trong Tuyên ngôn nhân
quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10-12-1948 đã nêu:
Tất cả mọi ngời với t cách là thành viên của xã hội có quyền hởng
BHXH.
II. Vai trò và nguyên tắc của BHXH
1. Vai trò của BHXH
Đối với ngời lao động
Trong cuộc sống hàng ngày, con ngời không thể tránh khỏi những rủi ro
nh ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu rồi chết ..Tất cả
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
5
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
những rủi ro này đều có thể xảy ra đối với bất cứ ngời lao động nào, tại bất cứ
thời điểm nào trong bất cứ hoàn cảnh nào trong cuộc sống hàng ngày của con
ngời. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi đất nớc đang ngày càng hoàn thiện
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì những rủi ro này lại càng diễn ra
một cách thờng xuyên và có tính chất ngày càng phổ biến hơn vì sự biến động
về thị trờng lao động và sản xuất kinh doanh đa dạng hơn, phức tạp hơn. Khi

hiệu quả lao động sản xuất của doanh nghiệp cũng nh nâng cao thu nhập cho
ngời lao động và góp vào việc phát triển nền kinh tế của đất nớc.
1.3. Đối với xã hội
Trớc tiên cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động
dịch vụ, cơ quan BHXH là một Doanh nghiệp sản xuất ra những dịch vụ
bảo hiểm cho ngời lao động, một loại dịch vụ mà bất cứ ai cũng cần đến
(không phải chỉ cán bộ, công nhân viên chức mới cần). Nếu các doanh nghiệp
này càng sản xuất ra nhiều loại bảo hiểm (đáp ứng đa dạng các nhu cầu) thì giá
trị của những sản phẩm dịch vụ này cũng đợc tính trực tiếp vào tổng sản phẩm
xã hội.
Thứ hai, với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nớc, BHXH sẽ bảo hiểm cho ngời lao động, hoạt động BHXH sẽ giải quyết
những trục trặc, rủi ro xảy ra đối với những ngời lao động, góp phần tích
cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức
lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao
động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc nâng cao năng
suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp của ngời lao động khi gặp phải rủi ro bằng
cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách
tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
7
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
Thứ ba, với t cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh mẽ
tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nớc, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân
hàng. Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo tồn và phát
triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu t phát triển
phần nhàn rỗi của quỹ. Phần này có tác động không nhỏ tới sự phát triển đất
nớc, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới góp
phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho ngời lao đông. Từ đó góp phần
giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nớc, góp phần tăng thu nhập cá nhân

lao động, ngời lao động cũng có trách nhiệm phải tự BHXH cho mình.
Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trờng, trong đó Nhà nớc
có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế xã hội trên phạm vi cả nớc. Với
vai trò này Nhà nớc có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng
thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Cùng với sự
tăng trởng sự phát triển kinh tế xã hội, cũng có những kết quả bất lợi không
mong muốn. Những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến
những rủi ro cho ngời lao động. Khi xảy ra tình trạng nh vậy nếu không có
BHXH thì Nhà nớc vẫn phải chi Ngân sách để giúp đỡ ngời lao động dới một
dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống ngời lao động ổn định
mà còn làm cho sản xuất kinh tế xã hội của đất nớc ổn định. Vì vậy, khi trong
xã hội loài ngời xuất hiện BHXH một dạng đảm bảo đời sống tiến bộ hơn đối
với ngời lao động- so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì Nhà nớc càng có
điều kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia dạng hoạt động đó.
Đối với ngời sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tơng tự nh trên
nhng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. ở đó giữa ngời lao động và ngời
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
9
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ngời sử dụng lao động muốn ổn
định và sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu t để có máy móc thiết bị
hịên đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống của ngời lao
động mà mình sử dụng. Khi ngời lao động làm việc bình thờng thì phải trả lơng
(trả công) thoả đáng cho ngời lao động. Khi họ gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp.. trong đó có rất nhiều trờng hợp gắn với quá trình lao
động, với những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì phải có trách
nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có nh vậy ngời lao động mới yên tâm tích cực lao
động sản xuất góp phần tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho
doanh nghiệp.
Đối với ngời lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không phải

và Nhà nớc đều nhận đợc nhiều lợi ích. Nhng lợi ích nhận đợc không phải luôn
luôn nh nhau, thống nhất với nhau mà trái lại có lợi ích có lúc lại mâu thuẫn với
nhau. Chẳng hạn việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời hạn nghỉ làm việc và hởng
trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho ngời lao động nhng lại gây khó khăn cho ngời
chủ sử dụng lao động, nếu giảm hậu quả bất lợi cho ngời sử dụng lao động thì
Nhà nớc lại phải gánh chịu.
Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi làm, nhng
thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu.
Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lơng nh trợ cấp
ốm đau, thai sản, hu trí tuổi già chứ không phải là trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp
BHXH. Nh đã biết, tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho ng-
ời lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, chỉ ngời lao động có
sức khoẻ bình thờng, có việc làm bình thờng và thực hiện công việc nhất định
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
11
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
mới có tiền lơng. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực hiện đợc
công việc nhất định hoặc không việc làm mà trớc đó có tham gia BHXH thì chỉ
có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lơng tạo ra đợc. Còn nếu cố
tìm cách trả trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì không một ngời lao
động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lơng mà ngợc lại
họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản để hởng trợ cấp. Hơn nữa cách lập quỹ, phơng
thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH bằng tiền
lơng lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền lơng thì chẳng khác gì bị rủi ro
đem rủi ro của mình dàn trải hết cho những ngời khác.
Nh vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi
làm. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ cấp
thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày. Chỉ khi đó
BHXH mới có ý nghĩa an sinh.
Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện.

tế xã hội của đất nớc trong từng giai đoạn phát triển cụ thể.
BHXH của một nớc gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện
kinh tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là với sự điều chỉnh, sự
đồng bộ của nền pháp chế của nớc đó. Trong tình hình nớc ta, kinh tế thị trờng
theo định hớng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế xã hội đang chuyển
động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải bảo đảm chắc chắn,
tính toán thận trọngvà có bớc đi phù hợp.
Mỗi nguyên tắc trên đây không tồn tại và phát huy tác dụng một cách đơn
lẻ mà chúng vận động trong một hệ thống chặt chẽ. Bởi vậy, cần vận dụng
chúng một cách tổng hợp và hợp lý vào mỗi vấn đề cụ thể thì mới có thể đạt
hiệu quả nh mong muốn.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
13
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
III Bản chất của BHXH .
BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá. Khi trình độ phát
triển, kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH
có điều kiện ra đời phát triển. Vì vậy các nhà kinh tế cho rằng sự ra đời và phát
triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm
phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có hệ thống BHXH vững
mạnh đợc. Kinh tế càng phát triển hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ
BHXH càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú.
Vì vậy, thực chất của BHXH là thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh
tế cho ngời lao động và gia đình họ. BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu
nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nớc (GDP) để thoả mãn an toàn kinh tế
cho ngời lao động và an toàn xã hội. BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản
chất xã hội. Về mặt kinh tế nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập đời sống của
ngời lao động và gia đình họ luôn đợc bảo đảm trớc những rủi ro, bất trắc xã
hội. Về mặt xã hội, do có sự san sẻ rủi ro của BHXH, ngời lao động chỉ phải
đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhng xã hội

mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy
định khác;
- Ngời lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ
quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể;
- Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ
thuộc lực lợng vũ trang;
- Ngời giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà
nớc, Đảng, đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện;
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
15
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
- Công chức, viên chức nhà nớc làm việc trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp; ngời làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung ơng đến
cấp huyện;
Các đối tợng trên đi học, thực tập, công tác điều dỡng ở ngoài nớc mà vẫn h-
ởng tiền lơng hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tợng thực hiện BHXH bắt
buộc.
Các đối tợng quy định trên gọi chung là ngời lao động.
Cùng với đối tợng tham gia BHXH đợc mở rộng hơn so với trớc đây, thì loại
hình tham gia BHXH cũng đợc thống nhất: BHXH bắt buộc và BHXH tự
nguyện. Vấn đề này bớc đầu đã tạo ra sự bình đẳng giữa những ngời lao
động thuộc các thành phần kinh tế. Với đối tợng đã đợc quy định nh trên,
hiên nay nớc ta có khoảng 15% lực lợng lao động tham gia BHXH.
IV. quỹ BHXH .
Trong đời sống kinh tế xã hội, có rất nhiều loại quỹ khác nhau nh: quỹ
tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lơng, quỹ tiền thởng, quỹ phúc
lợi, quỹ tiết kiệm...Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là tập hợp các
phơng tiện tài chính cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu định trớc. Quỹ
lớn hay quỹ nhỏ biểu thị khả năng về mặt phơng tiện và vật chất để thực hiện
công việc cần làm.

- Các nguồn khác (nh cá nhân và tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu t
phần quỹ nhàn rỗi).
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho
ngời lao động đợc phân chia cho cả ngời sử dụng lao động và ngời lao động trên
cơ sở quan hệ lao động. Đi ều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi
ích giữa hai bên. Về phía ngời sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH
cho ngời lao động sẽ tránh đợc thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
17
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
lớn khi có rủi ro xảy ra đối với ngời lao động mà mình thuê mớn. Đồng thời nó
còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo đợc mối quan hệ tốt đẹp
giữa chủ- thợ. Về phía ngời lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình
vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa
ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Mối quan hệ chủ-thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì
thế, cũng nh nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu
đợc tham gia đóng góp của Nhà nớc. Trớc hết các luật lệ của Nhà nớc về BHXH
là những chuẩn mực pháp lý mà cả ngời sử dụng lao động đều phải tuân theo,
những tranh chấp chủ-thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải
quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác
nhau, Nhà nớc không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH
chắc chắn và ổn định.
Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành từ các
nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng góp của các bên
tham gia BHXH có khác nhau.
Về phơng thức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ và
mức lơng cá nhân và quỹ lơng của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại
nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân đối

Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH đợc sử
dụng để trợ cấp cho các đối tợng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống
cho bản thân và gia đình họ, khi đối tợng tham gia BHXH gặp rủi ro. Thực
chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong công ớc 102
tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ:
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
19
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp cho ngời còn sống ( trợ cấp mất ngời nuôi dỡng)
9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH . Tuỳ điều kiện kinh tế
xã hội mà mỗi nớc tham gia công ớc Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức
độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện đợc ba chế độ. Trong đó, ít nhất phải
có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9). Mỗi chế độ trong hệ thống trên
khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội tài chính, thu nhập, tiền l-
ơng .v.v Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến các yếu tố
sinh học; tuổi thọ bình quân của quốc gia, nhu cầu dinh dỡng; xác suất tử
vong
Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hởng BHXH phải tính đến một
loạth các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ cũng nh từng chế độ
BHXH cụ thể. Chẳng hạn khi xác định điều kiện hởng trợ cấp BHXH tuổi già
phải dựa vào cơ sở sinh học là tuổi đời và giới tính, của ngời lao động là chủ
yếu. Bởi vì tuổi già để hởng trợ cấp hu trí của mỗi giới, mỗi vùng, mỗi quốc gia

của mức quy định.
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn đợc
sử dụng cho chi phí quản lý nh: Tiền lơng cho những ngời làm việc trong hệ
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
21
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
thông BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi
khác Phần quỹ nhàn rỗi phải đ ợc đem đầu t sinh lợi. Mục đích đầu t quỹ
BHXH là nhằm bảo toàn và tăng trởng nguồn quỹ.
Quá trình đầu t quỹ BHXH phải đảm bảo nguyên tắc: an toàn, có lợi nhuận, có
khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế- xã hội.
chơng II
Tình hình quản lý thu- chi quỹ BHXH
tại
cơ quan BHXH huyên VĂN GIANG
I/ Giới thiệu về BHXH Việt Nam và BHXH huyện Văn Giang
1. Giới thiệu về BHXH Việt Nam
Sự ra đời và phát triển của BHXH Việt Nam
BHXH Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội nhng tồn tại ở nhiều
hình thức, nhiều chế độ mà cha thể hiện rõ bản chất của BHXH. ở nớc ta,
BHXH đã có mầm mống từ thời phong kiến Pháp thuộc. Sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945, chính phủ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà - nay là Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, đã ban hành sắc lệnh số 29/SL ngày 12/03/1947 thực
hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hu trí. Các chế độ này đợc thực hiện
đối với những ngời làm việc trong các cơ quan từ cơ sở đến Trung ơng. Tuy
nhiên, do chiến tranh và khả năng kinh tế còn có hạn, cho nên chỉ một bộ phận
lao động xã hội đợc hởng quyền lợi BHXH.
Trờng ĐHKTQD-HN Khoa: Kinh Tế Bảo Hiểm
22
Chuyên đề tốt nghiệp

BHXH tỉnh
Cơ cấu tổ chức BHXH Việt Nam có mối quan hệ với Bộ LĐTB và XH là
mối quan hệ cộng tác bình đẳng cùng thực hiện một mục tiêu là thực hiện
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
23
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
BHXH đối với ngời lao động công bằng và đúng chế độ v.v... đợc thể hiện qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1

Quan hệ ngang:
Quan hệ dọc :Trờng ĐHKTQD-HN Khoa: Kinh Tế Bảo Hiểm
24
Chính Phủ
Hội đồng
quản lý
BHXH Việt Nam
Bộ
LĐ-TB và XH
BHXH tỉnh, thành
phố
Sở LĐ-TB và XH
tỉnh, thành phố
BHXH
quận, huyện
Phòng LĐ-TB
quận, huyện

Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
25

Trích đoạn Quản lý kinh phí chi trả BHXH Quản lý chi cho hoạt động bộ máy và những hoạt động khác Thực trạng công tác quản lý thuchi quỹ BHXH đợc phản ánh ở3 nội dung lớn sau: Những kết quả đạt đợc của BHXH huyện Văn Giang Có chơng trình quy hoạch đào tạo và sử dụng cán bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status