Công tác quản lý thu, chi quỹ Bảo Hiểm Xã Hội - Pdf 10

Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
LỜINÓIĐẦU
Hiện nay kinh tế thị trường đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng
đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, đưa mỗi đất nước phát triển. Tuy nhiên bên
cạnh đó, sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng. Dù là một
nước xã hội chủ nghĩa hay nước tư bản thì quyền con người vẫn luôn được đặt
lên hàng đầu. Do vậy các quốc gia đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ quyền
con người, trong đó có BHXH. Có thể nói BHXH là một chính sách xã hội
không thể thiếu được của một quốc gia: “Tất cả mọi người với tư cách là thành
viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đóđược đặt trên cơ sở sự thoả
mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhu cầu cho nhân cách và sự tự do
phát triển con người” (Tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948- Đại hội đồng
Liên hợp quốc). Là một nước xã hội chủ nghĩa, với bản chất là nhà nước của
dân, do dân, vì dân, BHXH đã vàđang ngày càng trở thành một công cụ hữu hiệu
đểđất nước ta chống lại những khiếm khuyết do nền kinh tế thị trường mang lại,
bảo vệ quyền con người vàđã thể hiện được tính ưu việt của chếđộ ta-chếđộ xã
hội chủ nghĩa. Nhưng để hoạt động được đòi hỏi BHXH phải có một nguồn tài
chính nhất định. Đó là quỹ BHXH. Làm thế nào để nguồn quỹ này được dồi dào,
lớn mạnh, làm thế nào để có thểđảm bảo cân đối quỹđược lâu dài, đó là câu hỏi
khó giải đáp không chỉđối với BHXH nói riêng mà cảđất nước nói chung.
Trước đây quỹ BHXH nước ta thuộc ngân sách Nhà nước, người lao động
không phải đóng BHXH nhưng vẫn được hưởng. Từ khi quỹ BHXH tách khỏi
ngân sách Nhà nước trở thành một nguồn quỹđộc lập thì quỹ thực hiện theo
nguyên tắc cóđóng-có hưởng. Tuy nhiên do Nhà nước chỉ hỗ trợ khi cần thiết
(thường là khi quỹ thâm hụt), cho nên quỹ vẫn phải chi trả chếđộ cho các đối
tượng là người lao động có thời gian tham gia công tác trước ngày 1/1/1995
không phải đóng BHXH, bộ phận này chiếm số lượng rất lớn trong lực lượng lao
Đềán chuyên nghành
1
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
động, do vậy ảnh hưởng rât nhiều đến việc bảo tồn và tăng trưởng quỹ. Nếu ngân

dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v.v…Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn
thụđộng và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển việc, thuê mướn nhân công trở nên phổ
biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải
Đềán chuyên nghành
3
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một thu nhập nhất định để họ
trang trải những nhu cầu cần thiết khi không may bịốm đau, tai nạn, thai
sảnv.v…Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ
không phải chi một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải
bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không mong muốn. Vì thế mâu thuẫn
chủ thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ phải thực hiện cam
kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động đến nhiều mặt
đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước phải đứng ra can thiệp vàđiều hoà
mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng cường vai trò của Nhà nước, mặt
khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng
tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người
làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành quỹ tiền tệ tập trung
trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi
cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến
bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người
lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng
được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi vàđược bảo vệ, sản xuất
kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì
vậy,nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh
chóng.Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên
được thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Như vậy Bảc
hiểm là sự bảo đảm thay thế hoặc bùđắp một phần đối với người lao dộng khi họ

này đãđược tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
Đềán chuyên nghành
5
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
+Đền bù cho cho người lao động những khoản thu nhập bị mất đểđảm bảo
nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu sống của dân cư và các nhu
cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con
người vàđược Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn
Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên
của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội, quyền đóđược đặt cơ sở `trên sự
thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự
do phát triển con người”. Ở nước ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong
chính sách bảo hiểm xã hội. Ngoài BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có
cứu trợ xã hội vàưu đãi xã hội.
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của nhà nước và xã hội về thu nhập và các
điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội, trong những trường
hợp bị bất hạnh, rủi ro, đói nghèo, không đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối
thiểu của bản thân và gia đình. Sự giúp đỡ này được thể hiện bằng các nguồn
quỹ dự phòng của Nhà nước, bằng tiền hoặc vật đóng góp của các tổ chức xã hội
và những người hảo tâm.
Ưu đãi xã hội là sựđãi ngộđặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước,
của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với nhưng người hay một bộ phận xã hội
có nhiều cống hiến cho xã hội. Chẳng hạn những người có công với nước, liệt sỹ
và thân liệt sỹ, thương binh, bệnh binh. Đều làđối tượng được hưởng đãi ngộ của
Nhà nước, của xã hội, ưu đãi xã hội tuyệt nhiên không phải là sự ban ơn, bố thí,
mà nó là một chính sách xã hội có mục tiêu chính trị-kinh tế -xã hội, góp phần
Đềán chuyên nghành

không vượt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng
giữa tất cả những người lao động.
Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài người lao
động còn có người sử dụng người lao động và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ
của Nhà nước. Người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm
của họđể bảo hiểm cho người lao động mà họ sử dụng. Còn cơ quan BHXH nhận
sựđóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phải có trách nhiệm
quản lý, sử dụng quỹđể thực hiện mọi công việc về BHXH đối với người lao
động. Mối quan hệ ràng buộc này chính làđặc trưng riêng có của BHXH. Nó
quyết định sự tồn tại, hoạt động và phát triển của BHXH một cách ổn định và
bền vững.
III. CHỨCNĂNGCỦA BHXH
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:
- Thay thế hoặc bùđấp một phần thu nhập cho người lao động tham gia
bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động
hoặc mất việc làm.Sự bảo đảm thay thế hoặc bùđắp này chắc chắn sẽ xảy
ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽđến với tất cả mọi người lao
dộng khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn
mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu
nhập, người lao động cũng sẽđược hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng
phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng
phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết
định nhiệm vụ, tính chất và cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia
BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những những
người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH.
Đềán chuyên nghành
8
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm

Khithực hiện BHXH, các nước đều phải lựa chọn hình thức, cơ chế và mức
độ thoả mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán, khả năng trang trải
vàđịnh hướng phát triển kinh tế -xã hội của nước mình. Đồng thời, phải nhận
thức thống nhất các quan điểm về BHXH sau đây:
1. Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là bộ phận quan trọng
nhất trong chính sách BHXH.
Mục đích chủ yếu của chính sách này nhằm đảm bảo đời sống cho người
lao động và gia đình họ, khi người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập do bị
giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm. Ở nước ta, BHXH nằm trong hệ
thống các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Thực chất, đây là một trong
những loại chính sách đối với con người nhằm đáp ứng một trong những quyền
và nhu cầu hiển nhiên của con người, nhu cầu an toàn về việc làm, an toàn lao
động, an toàn xã hội.v.v... Chính sách BHXH còn thể hiện trình độ văn minh,
tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
Trong một chừng mực nhất định, nó còn thể hiện tính ưu việt của một chếđộ xã
hội. Nếu tổ chức và thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ làđộng lực to lớn phát
huy tiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
2. Người sử dụng lao phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho người
lao động.
Người sử dụng lao động thực chất là các tổ chức là các tổ chức, các doanh
nghiệp và các cá nhân có thuê mướn lao động. Họ phải có nghĩa vụđóng góp vào
Đềán chuyên nghành
10
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
quỹ BHXH và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chếđộ BHXH đối với người
lao động mà mình sử dụng theo đúng luật pháp quy định. Người sử dụng lao
động muốn ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh thì ngoài việc phải chăm lo
đểđầu tưđể có máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo
tay nghề vàđời sống cho người lao động mà mình sử dụng. Khi người lao động

đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu.
Quan điểm này vừa phản ánh tính cộng đồng xã hội vừa phản ánh nguyên
tắc phân phối lại quỹ BHXH cho người lao động tham gia BHXH. Trợ cấp
BHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lương. Mà tiền lương là khoản tiền mà người
sửdụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện được những công việc
nào đó. Nghĩa là chỉ người lao động có sức khoẻ bình thường, có việc làm bình
thường và thực hiện được những công việc nhất định mới có tiền lương. Khi đã
bịốm đau, tai nạn hay tuổi già không làm việc được mà trước đó có tham gia
BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lương do lao
động tạo ta được. Nếu mức trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một
người lao động nào phải cố gắng tìm kiếm việc làm và tích cực làm việc để có
lương, mà ngược lại sẽ lợi dụng BHXH đểđược nhận trợ cấp. Hơn nữa cách lập
quỹ BHXH theo phương thức dàn trảI rủi ro BHXH bằng tiền lương lúc đang đi
làm. Và như vậy thì chẳng khác gì người lao động bị rủi ro qua rủi ro của mình
để dàn trải hết cho những người khác.
5. Nhà nước quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy thực
hiện chính sách BHXH.
Bởi vì BHXH là một bộ phận cấu thành lên các chính sách xã hội, nó vừa
là nhân tốổn định, vừa là nhân tốđộng lực phát triển kinh tế xã hội. Cho nên, vai
trò của nhà nước là rất quan trọng. Thực tếđã chỉ rõ nếu không có sự can thiệp
Đềán chuyên nghành
12
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
của nhà nước, nếu không có sự quản lý vĩ mô của nhà nước thì mối quan hệ giữa
người lao động và người sử dụng lao động sẽ không được duy trì bền vững.
Hơn nữa, BHXH được thực hiện qua một quy trình, từ việc hoạch định
chính sách, đảm bảo vật chất đến việc xét trợ cấp…. Vì vậy nhà nước quản lý
toàn bộ quy trình này, hay có giới hạn về mức độ và phạm vi.
Trước hết, phải khẳng định rằng việchoạch định chính sách BHXH là khâu
đầu tiên quan trọng nhất. Sự quản lý của nhà nước về vấn đề này thể hiện ở việc

Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối
quang hệ tốt đẹp giữa chủ- thợ. Về phía người lao động, sựđóng góp một phần để
BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình,
vừa cóý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Mối quan hệ chủ-thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì thế,
cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu
được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Trước hết các luật lệ của Nhà nước về
BHXH là những chuẩn mực pháp lý mà cả người lao động và người lao động
đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ- thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở
vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp mức độ can
thiệp khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ
BHXH chắc chắn vàổn định. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ bảo BHXH
đều được hình thành từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và
mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau.
Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao
động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng phải căn cứ vào
mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai
Đềán chuyên nghành
14
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của của người lao động được
cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế kinh tế quốc dân để xác định mức đóng
góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động
phải chịu toàn bộ chi phí cho chếđộ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế
và trợ cấp gia đình, các chếđộ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao
động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy
định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý
BHXH.
Đềán chuyên nghành

người tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả các chếđộ hưu trí,
tử tuất và 5% để chi các chếđộốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp.
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chếđộ hưu trí
và tử tuất.
Đềán chuyên nghành
16
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm đểđảm bảo thực hiện các chếđộ BHXH đối
với người lao động.
- Các nguồn khác.
Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết
định sự cân bằng thu chi quỹ BHXH. Vì vậy quỹ này phải được tính toán một
cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ quan trọng
chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học
khác nhau để xác định. Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán
khác nhau :
- Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từđó
có cơ sở xác định mức đóng phí.
- Quy định mức phí BHXH trước rồi từđó xác định mức hưởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng
BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.
Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhưng xác định phí BHXH lại khá
phức tạp vì nó liên quan đến cả người lao động, người sử dụng lao động và nhà
nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động vàđiều kiện
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH phải
đảm bảo các nguyên tắc : cân đối thu chi, lấy sốđông bù sốít và có dự phòng.
Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH vàđiều
chỉnh sao cho tối ưu nhất.
Phí BHXH xác định theo công thức :

1. Giai đoạn khởi đầu sự phát triển của BHXH ở nước ta
Sau ngày hoà bình lặp lại, từ năm 1960, sau khi hoàn thành kế hoạch 3 năm
cải tạo và phát triển kinh tế, văn hoá xã hội miền Bắc bước vào kế hoạch dài hạn
5 năm lần thứ nhất. Lực lượng công nhân viên chức lúc này càng ngày tuyển
dụng càng đông hơn để phục vụ cho yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hôịở miền
Bắc, trước tình này, Nhà nước cần thiết phải bổ sung chính sách bảo hiểm xã hội
cho phù hợp với tình hình vàđáp ứng được mục tiêu không ngừng cải thiện đời
sống cho công nhân viên chức. Vì vậy, ngày 27/12/1961 Chính phủ ban hành
điều lệ tạm thời theo Nghịđịnh số 218/Chính về các chếđộ bảo hiểm xã hội cho
công nhân viên chức nhà nứoc. Điều lệ quy định:
+ Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là công nhân viên chức nhà nước,
lực lượng vũ trang.
+ Đã hình thành nguồn để chi trả cho các chếđộ bảo hiểm xã hội trong ngân
sách Nhà nước. Nguồn hình thành trên cơ sởđóng góp của xí nghiệp, còn lạI do
ngân sách nhà nước cấp. Mức đóng góp của các xí nghiệp là 4,7% so với tổng
quỹ lương. Trong đó 1% để chi cho các chếđộ dài hạn và 3,7% chi cho 3 chếđộ
ngắn hạn. Đối với phần ngân sách Nhà nước, hàng năm Quốc hội thông qua ngân
sách cấp cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức
làm việc trong khu vực Nhà nước.
+ Áp dụng 6 chếđộ xã hội là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu chí, và tử tuất cho công nhân viên chức.
Đềán chuyên nghành
19
Nguyễn Thị Hương Lớp BảoHiểm 42A
Tiếp đến, ngày 18/9/1985, cùng với việc cải tiến chếđộ tiền lương, Hội
đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghịđịnh số 236/HĐBT về việc bổ sung, sửa đổi
chếđộ bảo hiểm xã hội cho công nhân chức Nhà nước và lực lượng vũ trang
trong giai đoạn này thể hiện những vấn đề trọng tâm là:
Thứ nhất,đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là công nhân viên chức nhà
nước và lực lượng vũ trang. Lực lượng này đến năm 1985 chiếm khoảng 12%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status