LỜI NÓI ĐẦU
Lao động, một mặt là bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào
không thể thiếu được trong quá trình sản xuất. Mặt khác lao động là một bộ phận
của dân số, những người được hưởng lợi ích của sự phát triển. Sự phát triển kinh tế
suy cho cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
con người. Lao động là một trong bốn yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và nó
là yếu tố quyết định nhất, bởi vì tất cả mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội
đều do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải
đó. Trong một xã hội dù lạc hậu hay hiện đại cũng cân đối vai trò của lao động,
dùng vai trò của lao động để vận hành máy móc.Lao động là một yếu tố đầu vào của
mọi quá trình sản xuất không thể có gì thay thể hoàn toàn được lao động.
Với Việt Nam là một nước đang phát triển và muốn có tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao thì cần đề cao vai trò của lao động trong phát triển kinh tế. Những lý do
trên là cơ sở của đề tài: “Dự báo cung lao động Việt Nam (số lượng và cơ cấu)
giai đoạn đến năm 2010”. Nội dung của đề tài là phân tích thực trạng của lao động
Việt Nam hiện nay và phương hướng giải quyết để phát huy vai trò của lao động
góp phần phát triển kinh tế.
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
I. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của nguồn lao động Việt Nam
Trang 1
1. Một số khái niệm cơ bản
a. Dân số: Là tổng số người đang tồn tại và phát triển trong phạm vi một lãnh
thổ nhất định (một nước, một châu lục hay toàn cầu…) tại một thời điểm xác định.
b. Nguồn lao động (hay lực lượng lao động). Là một bộ phận dân số trong độ
tuổi qui định thực tế có tham gia lao động (đang có việc làm), và những người
không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm. Nguồn lao động được biểu
hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng. Như vậy theo khái niệm nguồn lao động
thì có một số người được tính vào nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn
lao động. Đó là những người lao động không có việc làm, nhưng không tích cực tìm
d. Còn một bộ phận lớn lao động chưa được sử dụng.
Như trên đã phân tích, việc đánh giá tình trạng chưa sử dụng hết lao động
phải được xem xét qua các hình thức biểu hiện của thất nghiệp-thất nghiệp hữu hình
và thất nghiệp trá hình. Do sức ép về dân số và những khó khăn về kinh tế
Ở các nước đang phát triến đã tác động lớn tới vấn đề công ăn việc làm ở cả
hai khu vực thành thị và nông thôn. Tình trạng lao động thất nghiệp, thiếu việc làm
có xu hướng gia tăng đặc biệt ở khu vực thành thị. ở nước ta, năm 1998, chỉ tính
riêng khu vực thành thị thì tỷ lệ thất nghiệp là 6,85%tăng hơn 0,84%so với năm
1997. Số lao động thiếu việc làm trong các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay trên
8%, thậm chí còn có nơi lên tới 50-60%. Còn ở nông thôn, tỷ lệ thiếu việc làm
khoảng 27,65%. Tính chung cho cả nước, tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng cho
hoạt động kinh tế năm 1998 là 71,13%. Thực tế đó cho thấy, vấn đề giải quyết việc
làmđang là áp lực nặng nề đối với các nươc đang phát triển nói chung và Việt Nam
nói riêng.
Vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta được xem là vấn đề kinh tế-xã hội rất
tổng hợp và phức tạp. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000
của Việt Nam đã khẳng định “Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa tiềm năng lao
động xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược, là một tiêu chuẩn để
đinh hướng cơ cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ’’. Trên phạm vi rộng, giải quyết
việclàm bao gồm những vấn đề liên quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có
hiệu quả nguồn nhân lực; còn theo phạm vi hẹp, giải quyết việc làm chủ yếu hướng
vào đối tượng và mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu việc
làm, nâng cao hiệu quả việc làm và tăng thu nhập.
3. Khái quát về thực trạng nguồn lao động Việt Nam (1996-2003)
Trang 3
3.1. Qui mô lực lượng lao động của Việt Nam thời kỳ 1996-2003
3.2. Cơ cấu lực lượng lao động Việt Nam thời kỳ 1996-2003
a. Cơ cấu theo trình độ văn hóa
Tuy tỷ lệ biết chữ của nước ta cao so với một số nước nhưng trình độ văn
hoá vẫn thuộc loại thấp, thể hiện qua bảng sau:
Việt Nam Các nước công nghiệp
Trang 4
0,3%
2,7%
33,5%
5,5%
88%
0,5%
5%
24,5%
35%
35%
Các nhà khoa học
Kỹ sư
Chuyên viên kỹ thuật
Lao động lành nghề
Lao động không lành nghề
Hình 1 Hình 2
Nhìn vào hai hình trên cho thấy trình độ nguồn lao động nước ta chủ yếu là
LLLĐ không lành nghề. Trong khi LLLĐ lành nghề ở các nước công nghiệp chiếm
tới 35% trong tổng số LLLĐ xã hội thì nước ta chỉ có 5,5%. LLLĐ có trình độ
chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư, và các nhà khoa học của họ chiếm tới 30% còn nước ta
mới có 6,5%. Chúng ta đang rất thiếu đội ngũ lao động kỹ thuật (tính đến giữa
năm1999 số này mới có khoảng 14%). Trong một số ngành kinh tế quan trọng cần
nhiều lao động kỹ thuật nhưng hiện có rất ít. Chẳng hạn, ngành công nghiệp sản
xuất hàng tiêu dùng1,6%, ngành nông lâm ngư nghiệp 7%(hiện nay LLLĐ của
ngành này chiếm tới 3/4 tổng lao động xã hội). Vùng đồng bằng sông Cửu Long -
một trong những vùng sản xuất lương thực lớn nhất - nhưng LLLĐ đã qua đào tạo
chỉ đạt 3,68%, trong đó công nhân kỹ thuật có bằng 0,6%, trung cấp 1,55% và đại
học 0,74%. Một số khu chế xuất, khu công nghiệp cần tuyển lao động có kỹ thuật
67,48
1,74
1,04
1,03
1,49
68,78
67,07
1,70
1,01
1,00
1,35
Khu vực II
CN khai thác
CN chế biến
SX và PP điện, khí đốt và nước
Xây dựng
12,93
0,59
9,19
0,43
2,72
23,37
46,48
19,09
39,46
30,18
12,52
0,57
8,90
0,41
0,28
1,66
28,16
9,61
7,27
24,49
39,66
81,63
44,21
53,10
74,49
57,24
33,72
54,91
2,78
18,70
7,22
1,40
2,31
0,34
0,11
0,21
1,11
2,70
0,80
0,26
0,27
1,61
26,95
7,68
d. Cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ:
Hiện nay có sự thiếu cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu lao động theo vùng
lãnh thổ. Hiện nay, tỷ trọng lao động ở hai vùng đồng bằng Sông Hồng và đồng
bằng Sông Cửu Long cao nhất nước (20,5% và 21,7% tổng LLLĐ xã hội). Trong
khi đó vùng Tây Nguyên rộng lớn, LLLĐ chỉ có 4%, vùng duyên hải Miền
Trung10,4% và Đông Nam Bộ 12,7%. Sự mất cân đối này không chỉ gây nên khó
khăn cho vấn đề công ăn việc làm mà còn ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã
hội cũng như an ninh quốc phòng của quốc gia.
Trang 8