Giải pháp tăng cường nguồn cung lao động Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 - Pdf 12

Lời nói đầu
Lao động, bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu được
trong quá trình sản xuất. Các đề tài về lao động luôn là những đề tài được nghiên cứu chi
tiết trong kinh tế phát triển. Lao động chính là bộ mặt của sự phát triển cho một quốc gia,
lực lượng lao động nói lên khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế của quốc gia đó. Lao
động là một trong bốn yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và nó là yếu tố quyết định
nhất, và là yếu tố đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển,và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội thì vai trò của lao động là hết sức to lớn, đóng vai trò quyết định đến kết quả của sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhận biệt được
sự quan trọng của lực lượng lao động đối với nước ta, cùng với kiến thức có được của
chuyên ngành kinh tế phát triển em đã quyết định chọn đề tài: “ Giải pháp tăng cường
nguồn cung lao động Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020”. Lao động là bộ mặt của một
quốc gia, và lực lượng lao động là yếu tố quan trọng nhất trong lao động, lực lượng lao
động là lực lượng chính, quyết định sự thành bại trong các mục tiêu quốc gia. Đối với Việt
Nam, lực lượng lao động là một thành phần rất giàu tiềm năng, nguồn lao động dồi dào,
giá cả nhân công thấp song bên cạnh đó vẫn tồn tại những khuyết điểm cần khắc phục như
sức khỏe còn chưa đảm bảo, thái độ làm việc chưa cao, trình độ tay nghề thấp. Vì vậy, việc
đưa ra các giải pháp để phát triển và khắc phục những khó khăn của lực lượng lao động
Việt Nam hiện nay là rất cần thiết. Nội dung đề tài sẽ nghiên cứu về thực trạng khó khăn
của nguồn cung lao động nước ta hiện nay và những giải pháp cho những khó khăn này
trong giai đoạn 2010 - 2020.
Đây là một đề tài có tính thực tế rất cao, bởi trong bối cảnh của đất nước ta hiện nay thì
việc phát triển lực lượng lao động là rất cần thiết, chỉ có lực lượng lao động mới là lực
lượng chính để đưa đất nước lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội.
I) Lý Thuyết về lao động và nguồn cung lao động .
1. Một số khái niệm về lao động và nguồn cung lao động
1.1 Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhắm biến đổi các vật chất tự nhiên
thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Trong quá trình sản xuất, con người
1

đơn giản.
2
Về cơ bản TTLĐ cũng chịu sự tác động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh,
quy luật độc quyền…
1.3 Khái niệm về nguồn cung lao động
Cung lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật
nhà nước có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động, những người ngoài độ
tuổi lao động(trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Nguồn cung lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trường đại học,
cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác. Nguồn cung này có thể từ những người
đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức … và, nó được bổ sung thường
xuyên từ đội ngũ những người đến độ tuổi lao động. Ở Việt Nam tổng cục thống kê quy
định nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15-60 tuổi nữ từ 15-55
tuổi) và người trên tuổi lao động đang làm việc. Cung về lao động phụ thuộc vào qui
mô,cơ cấu dân số của một nước, chất lượng của nguồn lao động (Trình độ văn hóa, cơ cấu
ngành nghề, sức khỏe… phong tục, tập quán xã hội của một nước và chính sách phát triển
nguồn nhân lực của nước đó.)
Cũng giống như các yếu tố khác của xã hội, nguồn cung lao động cũng có tính hai mặt
đó là số lượng và chất lượng của cung lao đông.
Cung lao động về giác độ số lượng bao gồm : Dân số đủ 15 tuổi trở lên và có việc làm,
những người ngoài độ tuổi lao động(trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành
kinh tế quốc dân.
Cung lao động về giác độ chất lượng cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn tay
nghề ( trí lực ), sức khỏe (thể lực ) và ý thức kỷ luật của người lao động.
1.4 Vai trò của nguồn lao động đối với phát triển xã hội.
Lịch sử loài người đã chứng minh vai trò quyết định của lao động với sự phát triển
kinh tế-xã hội. Ngay cả khi khoa học công nghệ đạt được trình độ phát triển cao, chi phối
mọi lĩnh vực đời sống, thì cũng không thể thay thế vai trò nguồn lực lao động, nhân tố của
sự sáng tạo và sử dụng công nghệ
Lao động chính là nhân tố quyết định việc tổ chức sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

Có sự khác biệt chủ yếu giữa sự thách thức phát triển mà các nước đang phát triển
gặp phải so với các nước phát triển là sự gia tăng chưa từng thấy của lực lượng lao động. Ở
4
hầu hết các nước, trung bình mỗi năm số người tìm việc làm tăng từ 2% trở lên. Sự gia
tăng nguồn lao động liên quan chặt chẽ với việc tăng dân số. Theo số liệu điều tra dân số
1-4-1999 dân sô Việt Nam là 76,32 triệu người, trong đó khoảng 39 triệu người là lực
lượng lao đông chiếm 51% dân sô. Dự báo ở nước ta mỗi năm trung bình tăng thêm hơn
một triệu lao động, đến năm 2010 thì số người lao động sẽ là khoảng 52 triệu người, và
con số này sẽ là 64.2 triệu người vào năm 2020, vì vậy sức ép về vấn đề giải quyết bài toán
lao động sẽ gây nên một áp lực không nhỏ.
Bảng 1 dân số trung bình Việt Nam qua một số mốc thời gian. (Theo số liệu tổng
cục thống kê)
Tuy nhiên, không chỉ giải quyết bài toán về việc làm, mà hiện nay Việt Nam cũng đang
phải đối mặt với một thực trang đó là nguồn lao động thì dồi dao, song trình độ lao động
và tay nghề chuyên môn của người lao động lại rất thấp.
Đã một thời Việt Nam "tự hào" có nguồn nhân lực đông, giá rẻ. Quả thực cho đến nay, so
với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam vẫn là nơi có giá rẻ về sử dụng lao động. Lợi thế
về giá rẻ lao động đang từng bước thu hẹp. Thậm chí một số chuyên gia kinh tế đã lên
tiếng cảnh báo: Tiếp tục duy trì lao động giá rẻ như hiện nay, đến một lúc nào đó lợi thế sẽ
biến thành bất lợi, thậm chí là cản trở sự phát triển kinh tế quốc dân cũng như hội nhập,
mở cửa.
Năm 2005 tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp (25%), năm 2006 là (31.9%). Theo chỉ
tiêu đã được hoạch định, đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%. Chỉ số này
hiện thời mới có gần 30%. Từ nay đến 2010 rất khó nâng thêm hơn 10%. Mặt khác, cơ cấu
đào tạo lao động của Việt Nam thể hiện sự "không giống ai" so với thế giới. Bên cạnh việc
chú trọng đúng mức đào tạo đại học và cao đẳng, nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan
5
tâm đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề. Việt Nam thì gần như ngược lại. Chỉ
số đào tạo bình quân của thế giới: 1 đại học, cao đẳng/4 trung cấp chuyên nghiệp/10 đào
tạo nghề, trong khi của Việt Nam là 1/0,98/3,02, gây ra tình trạng "thiếu thợ nhiều hơn

3 Nhật Bản 8,00 7,50 7,00 3,50 7,50
4 Đài Loan 5,37 5,62 5,00 3,86 7,62
5 Ấn Độ 5,25 5,50 5,62 6,62 6,50
6 Trung Quốc 7,12 6,19 4,12 3,62 4,37
7 Malaixia 4,50 7,00 4,50 4,00 5,50
8 Hồng Công 4,23 5,24 4,24 4,50 5,43
9 Philippin 5,80 6,20 5,60 5,40 5,00
10 Thái Lan 4,00 3,37 2,36 2,82 3,27
11 Việt Nam 3,25 3,50 2,75 2,62 2,50
6
12 Inđônêxia 2,00 3,00 1,50 3,00 2,50
.số liệu theo tổng cục thống kê
Chỉ số năng suất lao động trên đây tự nó chứng tỏ khoảng cách không nhỏ giữa các
nước trong khu vực và chỉ ra Việt Nam đang đứng ở tốp cuối, thua xa nhiều nước trong
khu vực.
Chất lượng nguồn nhân lực thấp làm cho sức cạnh tranh của lực lượng lao động nước
ta thấp. Theo tổ chức Beri, khả năng cạnh tranh của lực lượng lao động nước ta chấm theo
thang điểm 100 như sau:
- 45 điểm về khung pháp lý;
- 20 điểm về năng suất lao động;
- 40 điểm về thái độ lao động;
- 16 điểm về kỹ năng lao động;
- 32 điểm về chất lượng lao động.
Tình trạng trên không chỉ làm cho việc xuất khẩu lao động của ta khó khăn khi phải
cạnh tranh với lao động của Philippin, Thái Lan… mà còn làm cho việc thu hút lao động
vào các khu công nghiệp, khu chế xuất khó khăn hơn.
Ở một góc nhìn khác ta thấy nguy cơ thất nghiệp của người lao động còn bắt nguồn
từ khả năng điều hành sản xuất kinh doanh của đội ngũ doanh nhân nước ta hạn chế. Như
chúng ta đã biết, doanh nhân là đội ngũ giữ vị trí trọng yếu trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Thế nhưng, trình độ năng lực của đội ngũ doanh nhân Việt Nam hiện còn thấp

Đơn vị %

Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn CẢ NƯỚC
2.38 4.65 1.53 5.10 2.34 6.10
Đồng bằng sông Hồng
2.29 5.35 1.29 6.85 2.13 8.23
Trung du và miền núi phía
Bắc 1.13 4.17 0.61 2.55 2.47 2.56
Bắc Trung Bộ và duyên 2.24 4.77 1.53 5.71 3.38 6.34
8
hải miền Trung
Tây Nguyên
1.42 2.51 1.00 5.12 3.72 5.65
Đông Nam Bộ
3.74 4.89 2.05 2.13 1.03 3.69
Đồng bằng sông Cửu
Long 2.71 4.12 2.35 6.39 3.59 7.11

a. Giáo dục và trình độ lao động
Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao
kiến thức và kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời.
Giáo dục phổ thông ( giáo dục cơ bản ) nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản để phát
triển năng lực cá nhân. Giáo dục nghề và giáo dục đại học vừa giúp người học có kiến thức
đồng thời còn giúp cung cấp tay nghề, kỹ năng và chuyên môn. Với mỗi trình độ đào tạo
nhất định, người được đào tạo biết được họ sẽ phải đảm nhận những công việc gì. Yêu cầu
kỹ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp phải như thế nào.
Vai trò của giao dục đối với việc nâng cao chất lượng lao động được phân tích qua nội
dung sau.
Thứ nhất, giáo dục là cách thức để tích lũy vốn con người đặc biệt là tri thức và sẽ giúp
con người sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp thu công mới do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
dài hạn.
Thứ hai, giáo dục tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, có kỹ năng làm việc với năng
suất cao là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Vai trò của giáo dục thường được các nhà kinh tế đánh giá bằng chỉ tiêu “ tỷ suất lợi nhuận
cho giáo dục”. Về lý thuyết, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư giáo dục cũng giống như lợi nhuận
đầu tư vào bất kỳ một dự án nào khác. Đó là tỷ lệ phầm trăm của lợi nhuận từ đầu tư ở một
mức độ giáo dục nhất định với tổng các chi phí khác. So sánh chỉ số này giữa các cấp giáo
dục có thể giúp cho việc đánh giá lợi ích kinh tế của đầu tư giáo dục ở cấp nào hiệu quả
hơn.
Kết quả nghiên cứu của các nước cho thấy tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào cấp tiểu học
là cao hơn các cấp khác. Chẳng hạn, tỷ suất lợi nhuận chung của thế giới ( đầu thập niên
90) ở cấp tiểu học là 18.4%, ở cấp trung học là 13.2%, đại học là 10.9%. Các số liệu tương
ứng của Việt Nam là 10.8%, 3.8%, 3.0%. Như vậy có thể thấy rằng giáo dục tiểu học và
giáo dục cơ bản có hiệu quả hơn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Do vây
10
chính sách giáo dục của các nước đang phát triển cũng tập trung nhiều và ưu tiên nhiên hơn
cho giáo dục tiểu học.
Thứ ba, giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để người dân, đặc

biểu hiện tính trách nhiệm với công việc, có thể nói đó là một yếu tố quan trọng không
kém so với hai yếu tố ở trên. Hiện nay tác phong làm việc của người Việt Nam vẫn còn
chưa tốt. Nó được thể hiện qua sự chậm trễ hay thiếu nhiệt tinh với công việc. Ngày nay
khi đất nước đang phát triển thì việc nâng cao tính kỷ luật và tác phong làm việc là cần
thiết. Việt Nam nên học tập những nước có phong cách làm việc hiệu quả như Mỹ, Nhật
Bản...Để có thể đạt được điều này không phải là đơn giản với nước ta, cần phải có những
biện pháp thích hợp cả về khen thưởng và kỷ luật để có thể đạt được hiệu quả tốt.
II- Thực trạng nguồn cung lao động Việt Nam hiện nay
* Tổng quan về cơ cấu nguồn lao động ở Việt Nam giai đoạn 2000-2009
1 Cơ cấu lao động chia theo nhóm ngành kinh tế:
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã có tiến bộ, song còn khó khăn
và chậm chạp. Đến nay đại bộ phận lực lượng lao động vẫn tập trung trong ngành nông -
lâm - ngư nghiệp.
BẢNG 3 : Cơ cấu lao động theo nhóm ngành
Đơn vị: %
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 2009
Năm 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Nông,
lâm
nghiệp,
thuỷ sản
73,0 71,3 65,1 63,5 61,9 60,2 58,7 57,2 55,7 53,9 52,5
Công
nghiệp -
xây dựng
11,2 11,4 13,1 14,4 15,4 16,4 17,4 18,3 19,1 20,0 20,8
Dịch vụ 15,8 17,3 21,8 22,2 23,3 23,3 23,9 24,5 25,3 26,1 26,7
Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100
12
Bảng 4: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn 2000-2008

60%
80%
100%
%
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
năm
Biểu đồ cơ cấu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 - 2008
nông nghiệp công nghiệp dịch vụ
Tính đến năm 2008 tỷ trọng lao động trong nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới 52,5%,
trong ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ là 20,8% và 26.7% trong tổng số lao
động có việc làm của cả nước. Tỷ trọng lao động trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp cao
phản ảnh mức đột thu hút lao động vào các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa thực sự đủ
mạnh để có thể làm thay đổi một cách căn bản cơ cấu lao động xã hội.
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực giảm tỷ lệ
lao động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệp; năm 2000: tỷ lệ lao động có việc làm trong
khu vực nông-lâm-ngư nghiệp 65,1%, công nghiệp-xây dựng 13,1% và dịch vụ là 21,8% tỷ
lệ này tương ứng năm 2008 là 52,5%; 20,8% ; 26,7%.
Trong tổng số lao động tăng thêm từ năm 1990 đến 2008 (15.624,9 nghìn người )
Nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản đã thu hút thêm 2.148,7 nghìn người, chiếm 13,8
% tổng số tăng
13
Nhóm nghành công nghiệp – xây dựng đã thu hút thêm được 6.079,8 nghìn người, chiếm
38,9% tổng số tăng
Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm 7.396,4 nghìn người, chiếm 47,3% tổng số tăng
Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm được nhiều nhất, tiếp đến là công nghiệp xây dựng
và cuối cùng là nông, lâm nghiệp và thủy sản. Do năng suất lao động của nhóm nghành
công nghiệp – xây dựng (62.924 nghìn đồng/người) và của nhóm nghành dịch vụ ( 46.849
nghìn đồng/ người) cao hơn nhóm nghành nông, lâm nghiệp và thủy sản (13.764 nghìn
đồng / người).
Trong 3 khu vực kinh tế lớn (nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ) thì khu

KT ngoài NN 89,70 89,49 89,01 88,14 87,83 87,84 87,81 87,52
KV có vốn ĐT
nước ngoài
0,99 1,16 1,49 1,91 2,29 2,66 3,08 3,49
Nguồn:Niên giám thống kê 2007- Tổng cục thống kê
Năm 2007 lao động trong khu vực kinh tế nhà nước chỉ chiếm khoảng 9%, lao động
khu vực ngoài nhà nước chiếm trên 87%, lao động khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
chiếm tỷ lệ nhỏ nhất, là 3,49%. Chứng tỏ khu vực ngoài nhà nước trở thành khu vực chủ
yếu thu hút lao động của cả nước, đồng thời là khu vực chủ yếu giải quyết việc làm cho số
lao động tăng thêm. Bên cạnh đó tỷ lệ lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài đang có xu hướng tăng lên mạnh mẽ.
Tuy số lượng việc làm mới được tạo ra nhiều hơn và có xu hướng tăng hơn những
năm trước nhưng nhìn tổng thể vẫn còn nhiều bất cập. Tính ổn định về việc làm chưa cao,
thu nhập bình quân của người lao động ở nhiều ngành nghề còn thấp, chưa đảm bảo mức
sống tối thiểu.
3. Cơ cấu lao động theo các loại hình doanh nghiệp
BẢNG 6 : Cơ cấu lao động làm việc trong các doanh nghiệp
Đơn vị %
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
1.DNNN 59,05 53,75 48,53 43,77 39,00 32,67 28,29
- Trung ương 36,79 34,36 31,01 28,29 26,3 22,97 20,45
- Địa phương 22,26 19,39 17,52 15,48 12,69 9,70 7,84
2. DN ngoài NN 29,43 33,81 36,64 39,61, 42,90 47,76 50,18
- Tập thể 5,15 3,87 3,43 3,11 2,72 2,57 2,22
- Tư nhân 6,68 7,06 7,29 7,31 7,48 7,72 7,43
- Công ty hợp danh 0,00 0,00 0,00 0,01 0,01 0,01 0,01
- Công ty TNHH 14,61 17,74 19,81 22,09 24,15 25,75 25,91
- Công ty cổ phần 2,98 5,13 6,10 7,09 8,52 11,90 14,61
3.DN có vốn ĐTNN 11,52 12,44 14,84 16,62 18,11 19,57 21,52

Năm
Lao động độ tuổi 15 – 19
Thành thị Nông thôn
Số lượng
(nghìn
người)
Tăng/giảm
TB năm
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
(nghìn
người)
Tăng/giảm
TB năm
Tỷ lệ
(%)
1979 5.113 - 19,24 21.459 - 80,76
1989 7.620 +5,16 21,74 27.431 +2,93 78,26
1999 11.614 +5,24 26,06 32.952 +2,01 73,94
2009* 11.071* - 24,94 33.313,8* - 75,06
Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1-10-197, H.1983; Tổng điều tra dân số toàn diện
1/4/1989, H.1992; Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999. Kết quả điều tra mẫu.
H.2000; Kết quả điều tra lao động – việc làm năm 2009.
Theo bảng trên, lao động ở khu vực thành thị, trong vòng 9,5 năm (1979 – 1989)
tăng thêm 2,507 triệu, tốc độ tăng trung bình năm là 5,16%. Trong 10 năm tiếp theo (1989
– 1999) tăng gần 4 triệu, tốc độ tăng bình quân là 5,24%, cao hơn thời kỳ trước. Ngược lại,
ở khu vực nông thôn, lượng lao động dịch chuyển theo xu hướng giảm nhẹ, bình quân năm
2,93% (1979 – 1989) và 2,01% (1989 – 1999). Vì thế, tỷ lệ lao động ở khu vực thành thị
tăng lên. Năm 2009, quy mô lực lượng lao động nước ta là 44,385 triệu người, trong đó ở

Đồng bằng sông Cửu Long 9.784,5 22.08
Nguồn: Kết qủa điều tra lao động việc làm ngày 1/7/2008,
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Năm 2008, theo 8 vùng lãnh thổ, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
là 2 vùng có lực lượng lao động đồng đều chiếm hơn 22% lực lượng lao động cả nước;
thấp nhất là các vùng Tây Bắc ( 3%), tiếp đến là Tây Nguyên ( 5,8%), Duyên Hải Nam
Trung bộ ( 8,2%). Lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ đang có xu hướng tăng lực
lượng lao động của vùng Đông Nam bộ ( vùng này, tăng từ 14.22% năm 2004 lên 14.77%
lực lượng lao động cả nước năm 2008) và giảm lực lượng lao động ở các vùng Bắc Trung
Bộ (từ 12,06% năm 2004 xuống còn 11.8% năm 2005) và vùng đồng bằng sông Hồng
trong tổng số lực lượng lao động cả nước ( từ 23.47% năm 2004 xuống còn 22,75% năm
2008).
** Thực trạng chung về nguồn lao động Việt Nam
1. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giảm.
a- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm.
BẢNG 9: Tỷ lệ tham gia LLLĐ
Đơn vị tính %
Năm
Cả nước Thành thị Nông thôn
Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ
1996 75.8 79.4 72.6 65.7 71.8 60.3 78.8 81.6 76.3
1997 74.3 78.2 70.8 64.9 71.1 59.4 77.4 80.5 74.6
1998 73.7 77.5 70.3 64.4 70.4 59.1 76.9 79.9 74.1
18
1999 73.5 76.9 70.4 64.3 70.2 59.1 76.6 79.1 74.4
2000 72.3 76.1 68.8 64.1 70.5 58.5 75.1 78.0 72.4
2001 73.2 76.8 69.6 64.8 70.6 59.7 76.0 79.0 73.1
2002 72.5 76.2 69.0 64.4 69.8 59.6 75.4 78.5 72.5
2003 72 75.8 68.5 64.3 69.8 59.2 74.9 78.0 71.9
2004 71.4 75.5 67.6 63.2 69.0 58.0 74.5 77.9 71.3

LLLĐ ở khu vực nông thôn duy trì ở mức tương đối cao.
2. Tỷ lệ người trẻ tuổi trong lao động còn thấp
BẢNG 10. Số người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên
Đơn vị: Nghìn người
Năm Tổng số Thành thị Nông thôn
1996 34907,6 6463,6 28444,0
1997 34716,4 6858,9 27857,4
1998 36018,3 7222,4 28795,9
1999 35731,1 7923,8 27807,2
2000 36205,5 8185,9 28019,6
2001 37677,4 8718,9 28958,5
2002 39289,6 9195,5 30094,1
2003 39585,0 9533,6 30051,4
2004 40792,6 10140,7 30651,9
Nguồn: Thực trạng lao động - việc làm 1996 đến 2004
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của cả nam và nữ ở nhóm tuổi 15-19, 20-24 và tỷ lệ tham gia
LLLĐ của nhóm tuổi 55-59, 60-64 giảm dần từ năm 1996 đến 2005 làm cho đường cung
lao động trong những năm gần đây có chiều hướng đi xuống. Khả năng có nhiều cơ hội
học tập, sự gia tăng của lao động làm công ăn lương, và độ tuổi về hưu được quy định chặt
chẽ hơn là những nhân tố tạo ra xu hướng giảm xuống của tỷ lệ tham gia LLLĐ trong
nhóm tuổi này.
Từ năm 1996 đến 2005, tỷ lệ tham gia LLLĐ của cả nam và nữ trong cả nước tăng
từ nhóm tuổi 15-19 đến 30-34, và sau đó có xu hướng giảm đi ở các nhóm tuổi tiếp theo.
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam đạt mức cao nhất là 97-98% và của nữ là 90% ở nhóm tuổi
30-34.
Do nhóm tuổi từ 15-19 phần lớn đang ở thời kỳ học tập nên tỷ lệ tham gia LLLĐ ở
nhóm tuổi này thấp hơn nhiều so với nhóm tuổi 20-24. Tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam và
nữ ở nhóm tuổi 15-19 giảm từ 52,7% và 58,4% năm 1996 xuống 35,8% và 35,1% năm
2005 do sự gia tăng cơ hội học hành của những người trong độ tuổi này. Sự gia tăng cơ hội
học hành cũng làm giảm khoảng 11% tỷ lệ tham gia LLLĐ của cả nam và nữ trong nhóm

chế họ trong sản xuất và kinh doanh, đặc biệt là tự tạo việc làm.
Những năm qua trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn thay đổi
không đáng kể, tình trạng thu nhập thấp và thiếu việc làm ở nông thôn, trong lúc đó thu
21
nhập cao hơn ở các đô thị đã tăng sự dịch chuyển lao động, nhất là những lao động kỹ
thuật từ nông thôn tới các thành thị, và làm cho tỷ lệ lao động đã qua đào tạo giảm từ
6,91% xuống còn 5,94%. Trong số 8 vùng nông thôn, những vùng có trình độ học vấn thấp
cũng chính là những vùng có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chuyên môn thấp, vùng Tây
Bắc chỉ có 2,3%, Tây Nguyên là 3,41%.
NSLĐ nông nghiệp thấp còn vì lao động ở đây chủ yếu vẫn là lao động thủ công.
Khâu làm đất là khâu nặng nhọc nhất thì quá trình cơ giới hoá (CGH) diễn ra chậm, nếu
năm 1990 tỷ lệ cơ giới hoá là 21%, năm 1995 là 26% và năm 2007 là khoảng 30%. Một số
khâu khác như vận chuyển, ra hạt, bơm tát nước tỷ lệ CGH có sự cải thiện, như khâu ra hạt
hiện đã được CGH 80%. Tuy nhiên, việc CGH trong nông nghiệp gặp những khó khăn
nhất định, thứ nhất, quy mô ruộng đất vốn nhỏ lẻ, với bình quân ruộng đất ở đồng bằng
sông Hồng chỉ có 544m
2
, và miền Trung là 611m
2
, lại manh mún tạo việc sử dụng máy
móc cơ khí khó khăn và chi phí cao. Thứ hai, do chăn nuôi gia súc như trâu bò nhiều lên
làm cho nhu cầu sức kéo giảm. Thứ ba, yêu cầu hiện đại hoá mâu thuẫn với tình trạng lao
động dư thừa, nếu 1 ha đất làm thủ công cần 300 ngày công lao động sống, khi là máy chỉ
còn sử dụng 50 ngày công.
Phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chủ
trương lớn của nước ta, nhằm nhấn mạnh đến việc sử dụng các nguồn nhân lực một cách
hiệu quả để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển . Do vậy, các chính sách phát triển nông
thôn cần được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kết hợp hài hoà và hợp lý giữa phát triển
kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường một cách hài hoà.
Giải pháp cấp bách và là ưu tiên số một hiện nay là đào tạo nghề cho lao đông nông

các tỉnh khó khăn, huyện nghèo. Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn còn
thiếu về số lượng, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp, chất lượng còn hạn chế. Hiện
nay, có 42 trung tâm dạy nghề không có giáo viên cơ hữu; 39 trung tâm dạy nghề chỉ có 1
giáo viên cơ hữu; 100 trung tâm có từ 2-3 giáo viên cơ hữu. Ngoài ra, các cán bộ quản lý
dạy nghề ở một số cơ sở dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, thiếu kinh
nghiệm quản lý.
4. Một số thực trạng khác về chất lượng của nguồn cung lao động Việt Nam.
a. Thực trạng chất lượng lao động theo trình độ học vấn và tay nghề
23
Ta có bảng số liệu số học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật (thời điểm 31/12 hàng năm)
Bảng 11: số liệu số học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp và công nhân kỹ thuật
Đơn vị :người
Năm 2004 2005 2006 2007
Tổng số 27 339 40 698 35 358 29 144
1. Đại học (TW) 5 890 6 425 9 068 8 795
Trong đó: Dài hạn 3 579 4 604 4 881 4 725
2. Cao đẳng (TW) 4 054 2 612 2 481 3 773
Trong đó: Dài hạn 1 457 1 867 2 052 2 012
3. Trung học chuyên
nghiệp 9 845 16 934 10 842 10 509
Trong đó: Dài hạn 6 522 11 300 7 477 7 774
4. Công nhân kỹ thuật 7 466 14 580 12 967 6 067
Trong đó:-Dài hạn 1 569 2 616 1 577 1 056
Số liệu theo tổng cục thống kê
Qua những số liệu trên ta thấy học sinh tốt nghiệp cuả các trường tăng mạnh nhưng lại
có xu hướng giảm trong những năm gần đây đặc biệt là những trường trung học và công
nhân kỹ thuật (công nhân kỹ thuật năm 2004 tốt nghiệp là 7466, năm 2005 tăng mạnh lên
gần gấp đôi là 14,580, năm 2007 giảm xuống còn là 6,067). Một phần do yếu kém trong

Đồng Nai 38,9%, Tây Nguyên 49,8%. Thậm chí nhiều khu công nghiệp ở Tây Nguyên vẫn
còn nhiều công nhân lao động còn mù chữ và nhiều nơi công nhân lao động còn tái mù
chữ.
Mặt khác, do người sử dụng lao động yêu cầu tuyển chọn công nhân có trình độ từ
trung học cơ sở, nhưng thực tế họ mới học hết tiểu học và dở dang trung học cơ sở. Trình
độ học vấn thấp kéo theo trình độ chuyên môn của công nhân lao động còn thấp. Hà Nội tỷ
lệ công nhân lao động chưa qua đào tạo chuyên môn là 8,8%, Quảng Ninh là 14,5%, Điện
Biên 16,27%, Tây Nguyên là 63,3%, Đồng Nai 37,9% Tp.HCM là 52,5%. Công nhân lao
dộng có trình độ đại học ở Hà Nội là 34,5%, Tp.HCM là 35,1%, Quảng Ninh là 37% trong
khi Tây Nguyên chỉ đạt tới 6,7%. Trình độ công nhân thấp nhưng việc đầu tư và nâng cao
trình độ chuyên môn cho công nhân không được coi trọng. Theo khảo sát nghiên cứu của
25

Trích đoạn Xây dựng các chương trình đào tạo nguồn Xây dựng các đường lối hợp lý cho việc sử dụng nguồn nhân lự cở nông thôn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status