Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
Lời nói đầu
Lao động, bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu được
trong quá trình sản xuất. Các đề tài về lao động luôn là những đề tài được nghiên cứu chi
tiết trong kinh tế phát triển. Lao động chính là bộ mặt của sự phát triển cho một quốc gia,
lực lượng lao động nói lên khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế của quốc gia đó. Lao
động là một trong bốn yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và nó là yếu tố quyết định
nhất, và là yếu tố đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển,và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội thì vai trò của lao động là hết sức to lớn, đóng vai trò quyết định đến kết quả của sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhận biệt được
sự quan trọng của lực lượng lao động đối với nước ta, cùng với kiến thức có được của
chuyên ngành kinh tế phát triển em đã quyết định chọn đề tài: “ Giải pháp tăng cường
nguồn cung lao động Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020”. Lao động là bộ mặt của một quốc
gia, và lực lượng lao động là yếu tố quan trọng nhất trong lao động, lực lượng lao động là
lực lượng chính, quyết định sự thành bại trong các mục tiêu quốc gia. Đối với Việt Nam,
lực lượng lao động là một thành phần rất giàu tiềm năng, nguồn lao động dồi dào, giá cả
nhân công thấp song bên cạnh đó vẫn tồn tại những khuyết điểm cần khắc phục như sức
khỏe còn chưa đảm bảo, thái độ làm việc chưa cao, trình độ tay nghề thấp. Vì vậy, việc
đưa ra các giải pháp để phát triển và khắc phục những khó khăn của lực lượng lao động
Việt Nam hiện nay là rất cần thiết. Nội dung đề tài sẽ nghiên cứu về thực trạng khó khăn
của nguồn cung lao động nước ta hiện nay và những giải pháp cho những khó khăn này
trong giai đoạn 2010 - 2020.
Đây là một đề tài có tính thực tế rất cao, bởi trong bối cảnh của đất nước ta hiện nay thì
việc phát triển lực lượng lao động là rất cần thiết, chỉ có lực lượng lao động mới là lực
lượng chính để đưa đất nước lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế những đường lối chính sách, cũng như sự quan tâm của nhà nước
tới lực lượng lao động vẫn chưa thể giúp người lao động có được hiệu quả tốt nhất. Vì vậy
qua đề tài này, em hi vọng có thể đưa ra những biện pháp để phát triển nguồn lực lao động
của Việt Nam hiệu quả hơn trong tương lai.
về loại hàng hoá này, thì bên mua ở vào địa vị có lợi hơn trên thị trường lao động (thị
trường của bên mua). Ngược lại, nếu cầu về sức lao động trên thị trường lớn hơn cung thì
người bán sẽ có lợi thế hơn, có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn công việc, giá cả sức lao
động vì thế có thể được nâng cao (thị trường của bên bán). Bên cạnh đó, cũng như bất kỳ
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
2
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
mọi dạng thị trường khác, thị trường lao động còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác,
trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới động thái phát triển của thị trường này.
Tuy nhiên trên thực tế, do các thông tin thống kê về cung và cầu trên thị trường lao
động ở nước ta cho đến nay chưa được thu thập, xử lý và lưu giữ đầy đủ, nên việc theo dõi
phân tích thực trạng và động thái phát triển của loại thị trường này sẽ là việc làm không
đơn giản.
Về cơ bản TTLĐ cũng chịu sự tác động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh,
quy luật độc quyền…
1.3 Khái niệm về nguồn cung lao động
Cung lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật
nhà nước có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động, những người ngoài độ
tuổi lao động(trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Nguồn cung lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trường đại học,
cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác. Nguồn cung này có thể từ những người
đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức … và, nó được bổ sung thường
xuyên từ đội ngũ những người đến độ tuổi lao động. Ở Việt Nam tổng cục thống kê quy
định nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15-60 tuổi nữ từ 15-55
tuổi) và người trên tuổi lao động đang làm việc. Cung về lao động phụ thuộc vào qui
mô,cơ cấu dân số của một nước, chất lượng của nguồn lao động (Trình độ văn hóa, cơ cấu
ngành nghề, sức khỏe… phong tục, tập quán xã hội của một nước và chính sách phát triển
nguồn nhân lực của nước đó.)
Cũng giống như các yếu tố khác của xã hội, nguồn cung lao động cũng có tính hai mặt
vật chất do nền kinh tế tạo ra là cơ sở để phát triển nguồn lực lao động. Một quốc gia có
năng suất lao động cao, của cải nhiều, ngân sách dồi dào sẽ có những điều kiện về vật chất,
tài chính để nâng cao dinh dưỡng, phát triển văn hoá, giáo dục, chăm sóc y tế…nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực. Mặt khác, việc phát triển kinh tế làm xuất hiện ngành nghề
mới, công việc mới… đòi hỏi nguồn lực lao động phải không ngừng hoàn thiện.
Đối với Việt Nam thì nguồn cung lao động là lực lượng không thể thiếu trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong hoàn cảnh hiện nay khi mà
công nghệ chưa phát triển đến mức cao nhất, tài nguyên khoáng sản nhiều song không
được khai thác một cách hợp lý thì yếu tố con người đóng vai trò then chốt trong mọi lĩnh
vực hoạt động phát triển đất nước. Từ sau đồi mới nguồn lao động chính là nhân tố chính
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
4
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
đưa đất nước lên một tầm cao mới, sự sáng tạo và sử dụng các tư liệu sản xuất một cách
hợp lý của con người đã đưa Việt Nam vươn tới trường quốc tế chỉ trong vòng hơn 20
năm.
2. Đặc điểm của nguồn cung lao động ở Viêt Nam hiện nay.
2.1 Số lượng tăng nhanh nhưng chất lượng chưa đảm bảo.
Có sự khác biệt chủ yếu giữa sự thách thức phát triển mà các nước đang phát triển
gặp phải so với các nước phát triển là sự gia tăng chưa từng thấy của lực lượng lao động. Ở
hầu hết các nước, trung bình mỗi năm số người tìm việc làm tăng từ 2% trở lên. Sự gia
tăng nguồn lao động liên quan chặt chẽ với việc tăng dân số. Theo số liệu điều tra dân số
1-4-1999 dân sô Việt Nam là 76,32 triệu người, trong đó khoảng 39 triệu người là lực
lượng lao đông chiếm 51% dân sô. Dự báo ở nước ta mỗi năm trung bình tăng thêm hơn
một triệu lao động, đến năm 2010 thì số người lao động sẽ là khoảng 52 triệu người, và
con số này sẽ là 64.2 triệu người vào năm 2020, vì vậy sức ép về vấn đề giải quyết bài toán
lao động sẽ gây nên một áp lực không nhỏ.
Bảng 1 dân số trung bình Việt Nam qua một số mốc thời gian. (Theo số liệu tổng
cục thống kê)
Mức độ sẵn
có lao động
sản xuất chất
lượng cao
Mức độ sẵn
có các cán bộ
hành chính
chất lượng
cao
Mức độ sẵn
có cán bộ
quản lý chất
lượng cao
Sự thành
thạo tiếng
Anh
Sự thành
thạo công
nghệ cao
1 Hàn Quốc 7,00 8,00 7,50 4,00 7,00
2 Xingapo 6,83 5,67 6,33 8,33 7,83
3 Nhật Bản 8,00 7,50 7,00 3,50 7,50
4 Đài Loan 5,37 5,62 5,00 3,86 7,62
5 Ấn Độ 5,25 5,50 5,62 6,62 6,50
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
6
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
6 Trung Quốc 7,12 6,19 4,12 3,62 4,37
7 Malaixia 4,50 7,00 4,50 4,00 5,50
nghiệp có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh
nghiệp ở trình độ sơ cấp. Số chủ doanh nghiệp có trình độ tiến sỹ chỉ đạt 0,66%, thạc sỹ
2,33%, đại học 37,82%, cao đẳng 3,56%, trung học chuyên nghiệp 12,33%, còn lại 43,33%
ở trình độ thấp hơn.
2.2 Phần lớn lao động ở nông thôn.
Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung cấp và
hậu thuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp. Năm 2009,
dân số nông thôn Việt Nam có 62.27 triệu người, chiếm 72.4% tổng dân số cả nước. Tuy
nhiên, vấn đề là ở chỗ lao động nông thôn chiếm 3/4 lao động cả nước nhưng lại tập trung
chủ yếu trong ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng suất lao động thấp nhất và cũng là nơi
quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần do quá trình đô thị hóa và công
nghiệp hóa. Kết quả là nhiều lao động mất đất, hoặc thiếu đất dẫn đến dư thừa lao động và
thiếu việc làm. Thu nhập của lao động ở khu vực nông thôn vì thế mà thấp và thất thường
bởi tính thời vụ và rủi ro cao. Đây chính là lý do khiến tỷ lệ nghèo tập trung chủ yếu ở khu
vực nông thôn.
Có thể nói, hầu như toàn bộ lao động nông nghiệp tập trung ở khu vực nông thôn,
nếu so sánh với tổng lao động có việc làm của cả nước thì lao động nông nghiệp nông thôn
vẫn chiếm quá bán, khoảng 50.5%. Nhìn từ góc độ chuyển dịch cơ cấu lao động ta thấy, tỷ
lệ lao động nông nghiệp nông thôn đã có chuyển biến, giảm từ 82.3% năm 1996 xuống
còn 74.2% năm 2009, mức giảm tuy nhỏ so với một số nước cùng khu vực nhưng, nó đã
thể hiện được sự nỗ lực của cả một nền kinh tế..
2.3 Còn một bộ phận lớn lao động chưa được sử dụng.
Việc đánh giá tình trạng chưa sử dụng hết lao động phải xem xét qua các hình thức biểu
hiện của thất nghiệp – thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình.
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
8
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
Bảng 2: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động
trong độ tuổi năm 2009 phân theo vùng
Số liệu theo tổng cục thống kê
Do sức ép về dân số và những khó khăn về kinh tế ở các nước đang phát triển đã tác
động lớn đến vấn đề công ăn việc làm ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn, tình trạng
thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng gia tăng đặc biệt ở khu vực thành thị.
Dân số đông tạo nên thị trường nội địa rộng lớn, một yếu tố hết sức quan trọng đối với
việc phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên, do tình trạng kém phát triển và có nhiều chế độ
đối với nguồn lực khác, việc dân số phát triển nhanh chóng lại là một gánh nặng cho việc
cải thiện cơ hội tìm việc làm và điều kiện sống. Vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta được
xem là vấn đề kinh tế – xã hội rất tổng hợp và phức tạp. Chiến lược ổn định và phát triển
xã hội đến năm 2009 của Việt Nam đã khẳng đinh, “ Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa
tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược, là một tiêu
chuẩn để định hướng cơ cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ”. Trên phạm vi rộng, giải quyết
việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực. Còn theo phạm vi hẹp, giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng
và mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu việc làm, nâng cao hiệu quả
việc làm và tăng thu nhập.
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
9
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn cung lao động ở Việt Nam.
3.1 Dân số: Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Sự biến động dân số là kết
quả của quá trình nhân khẩu học và có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ
cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động.
3.2 Tỷ lệ tham gia lao động: Theo khái niệm lực lượng lao động nêu ở trên thì chỉ tiêu " tỉ
lệ tham gia lưc lượng lao động " nói chung được hiểu là tỉ số phần trăm giữa số người đủ
15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trên dân số đủ 15 tuổi trở lên. Tỷ lệ này được tính
bằng:
Tỷ lệ tham gia LLLĐ số người trong độ tuổi thuộc LLLĐ
của dân số trong độ = * 100%
90) ở cấp tiểu học là 18.4%, ở cấp trung học là 13.2%, đại học là 10.9%. Các số liệu tương
ứng của Việt Nam là 10.8%, 3.8%, 3.0%. Như vậy có thể thấy rằng giáo dục tiểu học và
giáo dục cơ bản có hiệu quả hơn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Do vây
chính sách giáo dục của các nước đang phát triển cũng tập trung nhiều và ưu tiên nhiên hơn
cho giáo dục tiểu học.
Thứ ba, giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để người dân, đặc
biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cường sức khỏe, dinh dưỡng.
Chẳng hạn tỷ lệ tử vong trẻ em giảm xuống, tỷ lệ dinh dưỡng trẻ em tăng lên, cùng với học
vấn của cha mẹ, đặc biệt là của người mẹ vì biết sin hoạt vệ sinh hơn, hay biết cách sử
dụng những thức ăn giầu chât dinh dưỡng hơn.... Với ý nghĩa trên giáo dục còn góp phần
vào việc bổ sung cho các dịch vụ y tế( giảm nhu cầu về những dịch vụ y tế)
b, Sức khỏe người lao động
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không
phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật.
Sức khỏe có tác động tới chất lượng của lao động cả hiện tài và tương lai. Người lao động
có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp bằng việc nâng
cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao trong khi làm việc.
Sức khoẻ là một vấn đề rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số nói
chung và chất lượng lao động nói riêng, nó là một trong chiến lược phát triển con người ở
mỗi quốc gia trên Thế giới. Khi nói tới sức khoẻ bao gồm 2 khía cạnh : sức khoẻ tinh thần
và thể lực con người, chúng ta thường nói “ Có sức khoẻ là có tất cả”, Bởi sức khoẻ giúp
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
11
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
con người làm việc tốt và chủ động tham gia vào các hoạt động đời sống kinh tế xã hội,
cộng đồng. Vì vậy, muốn phát triển đất nước, trước hết phải quan tâm tới yếu tố này, lấy
con người làm trung tâm .Do tầm quan trong của sức khỏe là rất lớn do đó phải tập trung
về vấn đề này ngay từ đầu. Nhà nước cần có các chính sách đặc biệt dành cho trẻ nhỏ và bà
mẹ để có thể đảm bảo được một nguồn lao động dồi dào và chất lượng ngay từ nhỏ.
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
Năm 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Nông,
lâm
nghiệp,
thuỷ sản
73,0 71,3 65,1 63,5 61,9 60,2 58,7 57,2 55,7 53,9 52,5
Công
nghiệp -
xây dựng
11,2 11,4 13,1 14,4 15,4 16,4 17,4 18,3 19,1 20,0 20,8
Dịch vụ 15,8 17,3 21,8 22,2 23,3 23,3 23,9 24,5 25,3 26,1 26,7
Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100
13
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
65.1
13.1
21.8
63.5
14.4
22.2
61.9
15.4
23.3
60.2
16.4
23.3
58.7
17.4
lao động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệp; năm 2000: tỷ lệ lao động có việc làm trong
khu vực nông-lâm-ngư nghiệp 65,1%, công nghiệp-xây dựng 13,1% và dịch vụ là 21,8% tỷ
lệ này tương ứng năm 2008 là 52,5%; 20,8% ; 26,7%.
Trong tổng số lao động tăng thêm từ năm 1990 đến 2008 (15.624,9 nghìn người )
Nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản đã thu hút thêm 2.148,7 nghìn người, chiếm 13,8
% tổng số tăng
Nhóm nghành công nghiệp – xây dựng đã thu hút thêm được 6.079,8 nghìn người, chiếm
38,9% tổng số tăng
Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm 7.396,4 nghìn người, chiếm 47,3% tổng số tăng
Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm được nhiều nhất, tiếp đến là công nghiệp xây dựng
và cuối cùng là nông, lâm nghiệp và thủy sản. Do năng suất lao động của nhóm nghành
công nghiệp – xây dựng (62.924 nghìn đồng/người) và của nhóm nghành dịch vụ ( 46.849
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
14
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
nghìn đồng/ người) cao hơn nhóm nghành nông, lâm nghiệp và thủy sản (13.764 nghìn
đồng / người).
Trong 3 khu vực kinh tế lớn (nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ) thì khu
vực công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao hơn 2 khu vực kia và cao hơn tốc độ
tăng trưởng chung của nền kinh tế nên tỷ trọng đã tăng nhanh. Tỷ trọng khu vực công
nghiệp - xây dựng trong GDP vượt mục tiêu 39-40% cho năm 2005. Trong khi đó tốc độ
tăng trưởng của khu vực dịch vụ nhìn chung còn rất chậm, đặc biệt một số ngành dịch vụ
quan trọng (ngân hàng - tài chính, khoa học công nghệ) đang chiếm tỷ trọng thấp và lại có
xu hướng giảm. Khối công nghiệp - xây dựng tuy có tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn khu
vực nông - lâm - ngư nghiệp song sức hút lao động lại không tăng tương ứng. Đó là hệ quả
của tình trạng phần lớn những ngành được tập trung đầu tư đạt tốc độ tăng trưởng cao là
những ngành cần nhiều vốn nhưng sử dụng ít lao động và những ngành thay thế nhập
khẩu. Những năm qua, cơ cấu ngành đạt được những bước tiến nhất định, dù chỉ ở trên
phương diện tỷ trọng, trong khi đó cơ cấu lao động chuyển dịch quá chậm, đến mức có thể
yếu thu hút lao động của cả nước, đồng thời là khu vực chủ yếu giải quyết việc làm cho số
lao động tăng thêm. Bên cạnh đó tỷ lệ lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài đang có xu hướng tăng lên mạnh mẽ.
Tuy số lượng việc làm mới được tạo ra nhiều hơn và có xu hướng tăng hơn những
năm trước nhưng nhìn tổng thể vẫn còn nhiều bất cập. Tính ổn định về việc làm chưa cao,
thu nhập bình quân của người lao động ở nhiều ngành nghề còn thấp, chưa đảm bảo mức
sống tối thiểu.
3. Cơ cấu lao động theo các loại hình doanh nghiệp
BẢNG 6 : Cơ cấu lao động làm việc trong các doanh nghiệp
Đơn vị %
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
1.DNNN 59,05 53,75 48,53 43,77 39,00 32,67 28,29
- Trung ương 36,79 34,36 31,01 28,29 26,3 22,97 20,45
- Địa phương 22,26 19,39 17,52 15,48 12,69 9,70 7,84
2. DN ngoài NN 29,43 33,81 36,64 39,61, 42,90 47,76 50,18
- Tập thể 5,15 3,87 3,43 3,11 2,72 2,57 2,22
- Tư nhân 6,68 7,06 7,29 7,31 7,48 7,72 7,43
- Công ty hợp danh 0,00 0,00 0,00 0,01 0,01 0,01 0,01
- Công ty TNHH 14,61 17,74 19,81 22,09 24,15 25,75 25,91
- Công ty cổ phần 2,98 5,13 6,10 7,09 8,52 11,90 14,61
3.DN có vốn ĐTNN 11,52 12,44 14,84 16,62 18,11 19,57 21,52
- 100% vốn nước ngoài 8,09 9,26 11,51, 13,29 14,99 16,49 18,42
- Liên doanh 3,44 3,18 ,3,32 3,33 3,11 3,08 3,10
Nguồn:Niên giám thống kê 2007- Tổng cục thống kê
Trong các loại hình doanh nghiệp, tổng số lao động tính đến năm 2007 la 6.715,2
nghìn người tăng 89,9% so với năm 2000, bình quân 1 năm tăng 11,9% - cao gấp nhiều lần
tốc độ tăng 2,3% / năm của toàn nền kinh tế quốc dân trong khoảng thời gian tương
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
Tăng/giảm
TB năm
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
(nghìn
người)
Tăng/giảm
TB năm
Tỷ lệ
(%)
1979 5.113 - 19,24 21.459 - 80,76
1989 7.620 +5,16 21,74 27.431 +2,93 78,26
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
17
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
1999 11.614 +5,24 26,06 32.952 +2,01 73,94
2009* 11.071* - 24,94 33.313,8* - 75,06
Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1-10-197, H.1983; Tổng điều tra dân số toàn diện
1/4/1989, H.1992; Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999. Kết quả điều tra mẫu.
H.2000; Kết quả điều tra lao động – việc làm năm 2009.
Theo bảng trên, lao động ở khu vực thành thị, trong vòng 9,5 năm (1979 – 1989)
tăng thêm 2,507 triệu, tốc độ tăng trung bình năm là 5,16%. Trong 10 năm tiếp theo (1989
– 1999) tăng gần 4 triệu, tốc độ tăng bình quân là 5,24%, cao hơn thời kỳ trước. Ngược lại,
ở khu vực nông thôn, lượng lao động dịch chuyển theo xu hướng giảm nhẹ, bình quân năm
2,93% (1979 – 1989) và 2,01% (1989 – 1999). Vì thế, tỷ lệ lao động ở khu vực thành thị
tăng lên. Năm 2009, quy mô lực lượng lao động nước ta là 44,385 triệu người, trong đó ở
thành thị là 11,071 triệu, chiếm 24,94% và ở nông thôn chiếm 75,06%. Tác động đến xu
hướng đó là do yếu tố dân số học, trong đó có di dân do công nghiệp hóa, đô thị hóa. Sự
Đông Nam Bộ 6.636,9 14.77
Đồng bằng sông Cửu Long 9.784,5 22.08
Nguồn: Kết qủa điều tra lao động việc làm ngày 1/7/2008,
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Năm 2008, theo 8 vùng lãnh thổ, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
là 2 vùng có lực lượng lao động đồng đều chiếm hơn 22% lực lượng lao động cả nước;
thấp nhất là các vùng Tây Bắc ( 3%), tiếp đến là Tây Nguyên ( 5,8%), Duyên Hải Nam
Trung bộ ( 8,2%). Lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ đang có xu hướng tăng lực
lượng lao động của vùng Đông Nam bộ ( vùng này, tăng từ 14.22% năm 2004 lên 14.77%
lực lượng lao động cả nước năm 2008) và giảm lực lượng lao động ở các vùng Bắc Trung
Bộ (từ 12,06% năm 2004 xuống còn 11.8% năm 2005) và vùng đồng bằng sông Hồng
trong tổng số lực lượng lao động cả nước ( từ 23.47% năm 2004 xuống còn 22,75% năm
2008).
** Thực trạng chung về nguồn lao động Việt Nam
1. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giảm.
a- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm.
BẢNG 9: Tỷ lệ tham gia LLLĐ
Đơn vị tính %
Năm
Cả nước Thành thị Nông thôn
Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ
1996 75.8 79.4 72.6 65.7 71.8 60.3 78.8 81.6 76.3
1997 74.3 78.2 70.8 64.9 71.1 59.4 77.4 80.5 74.6
1998 73.7 77.5 70.3 64.4 70.4 59.1 76.9 79.9 74.1
1999 73.5 76.9 70.4 64.3 70.2 59.1 76.6 79.1 74.4
2000 72.3 76.1 68.8 64.1 70.5 58.5 75.1 78.0 72.4
2001 73.2 76.8 69.6 64.8 70.6 59.7 76.0 79.0 73.1
2002 72.5 76.2 69.0 64.4 69.8 59.6 75.4 78.5 72.5
2003 72 75.8 68.5 64.3 69.8 59.2 74.9 78.0 71.9
2004 71.4 75.5 67.6 63.2 69.0 58.0 74.5 77.9 71.3
nông nghiệp, các doanh nghiệp hộ gia đình và các hoạt động kinh tế phi chính thức ở khu
vực nông thôn, cùng với sự gia tăng của lao động làm các công việc sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ trong gia đình nhưng không hưởng tiền lương, tiền công làm cho tỷ lệ tham gia
LLLĐ ở khu vực nông thôn duy trì ở mức tương đối cao.
2. Tỷ lệ người trẻ tuổi trong lao động còn thấp
BẢNG 10. Số người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
20
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
Đơn vị: Nghìn người
Năm Tổng số Thành thị Nông thôn
1996 34907,6 6463,6 28444,0
1997 34716,4 6858,9 27857,4
1998 36018,3 7222,4 28795,9
1999 35731,1 7923,8 27807,2
2000 36205,5 8185,9 28019,6
2001 37677,4 8718,9 28958,5
2002 39289,6 9195,5 30094,1
2003 39585,0 9533,6 30051,4
2004 40792,6 10140,7 30651,9
Nguồn: Thực trạng lao động - việc làm 1996 đến 2004
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của cả nam và nữ ở nhóm tuổi 15-19, 20-24 và tỷ lệ tham gia
LLLĐ của nhóm tuổi 55-59, 60-64 giảm dần từ năm 1996 đến 2005 làm cho đường cung
lao động trong những năm gần đây có chiều hướng đi xuống. Khả năng có nhiều cơ hội
học tập, sự gia tăng của lao động làm công ăn lương, và độ tuổi về hưu được quy định chặt
chẽ hơn là những nhân tố tạo ra xu hướng giảm xuống của tỷ lệ tham gia LLLĐ trong
nhóm tuổi này.
Từ năm 1996 đến 2005, tỷ lệ tham gia LLLĐ của cả nam và nữ trong cả nước tăng
từ nhóm tuổi 15-19 đến 30-34, và sau đó có xu hướng giảm đi ở các nhóm tuổi tiếp theo.
quả công việc của những người lao động chưa cao và nó được biểu hiện ở năng suất lao
động và kết quả công việc.
Chất lượng thấp của nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn thể hiện qua tỷ lệ không
biết chữ là 4,79%, tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở là 34,59% và tốt nghiệp trung học
phổ thông là 11,18%. Nếu đánh giá trình độ văn hoá bình quân theo giới tính có thể thấy số
năm đi học văn hoá trung bình của khu vực nông thôn thấp hơn thành thị, của phụ nữ thấp
hơn nam giới. Theo các nhà nghiên cứu, năng suất lao động sẽ tăng nếu người nông dân có
trình độ học vấn ở mức độ nào đó, và nếu tốt nghiệp phổ thông, mức tăng này là 11%.
Ngoài ra trình độ học vấn còn cho người lao động khả năng lĩnh hội những kiến thức, kinh
nghiệm sản xuất kinh doanh. Với chất lượng của NNL nông thôn Việt Nam như vậy sẽ hạn
chế họ trong sản xuất và kinh doanh, đặc biệt là tự tạo việc làm.
Những năm qua trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn thay đổi
không đáng kể, tình trạng thu nhập thấp và thiếu việc làm ở nông thôn, trong lúc đó thu
nhập cao hơn ở các đô thị đã tăng sự dịch chuyển lao động, nhất là những lao động kỹ
thuật từ nông thôn tới các thành thị, và làm cho tỷ lệ lao động đã qua đào tạo giảm từ
6,91% xuống còn 5,94%. Trong số 8 vùng nông thôn, những vùng có trình độ học vấn thấp
cũng chính là những vùng có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chuyên môn thấp, vùng Tây
Bắc chỉ có 2,3%, Tây Nguyên là 3,41%.
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
22
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
NSLĐ nông nghiệp thấp còn vì lao động ở đây chủ yếu vẫn là lao động thủ công.
Khâu làm đất là khâu nặng nhọc nhất thì quá trình cơ giới hoá (CGH) diễn ra chậm, nếu
năm 1990 tỷ lệ cơ giới hoá là 21%, năm 1995 là 26% và năm 2007 là khoảng 30%. Một số
khâu khác như vận chuyển, ra hạt, bơm tát nước tỷ lệ CGH có sự cải thiện, như khâu ra hạt
hiện đã được CGH 80%. Tuy nhiên, việc CGH trong nông nghiệp gặp những khó khăn
nhất định, thứ nhất, quy mô ruộng đất vốn nhỏ lẻ, với bình quân ruộng đất ở đồng bằng
sông Hồng chỉ có 544m
2
bằng chính sách hỗ trợ theo Quyết định 81/2005/QĐ-TTg giai đoạn 2006-2008 là 990.000
người. Nhiều địa phương đã khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức đoàn thể
dạy nghề cho lao động nông thôn, nhất là lứa tuổi thanh niên nhằm phát triển các nghề
truyền thống. Bình quân hàng năm, các làng nghề đã đào tạo được thêm việc làm cho
khoảng 250.000 lao động. Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn trong 3 năm từ năm 2006-2008 đã tuyển sinh được 120.322 người, trong đó quy
mô tuyển sinh năm 2008 là 48.000 học sinh, lao động nông thôn chiếm trên 85%.
Không thể phủ nhận được những thành quả của công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn mang lại. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế là thời gian qua, số lượng
và chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là dạy nghề nông nghiệp cho lao
động nông thôn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Bên cạnh đó, năng lực hệ thống các
trường đào tạo và dạy nghề còn nhiều hạn chế. Mạng lưới cơ sở dạy nghề nói chung tuy đã
phát triển nhưng lại tập trung chủ yếu ở vùng đô thị. Ở khu vực nông thôn và miền núi,
vùng sâu vùng xa, số lượng cơ sở dạy nghề rất ít. Đến nay, cả nước còn 253 huyện chưa có
trung tâm dạy nghề; 31% phòng học và 20,7% số nhà xưởng thực hành của các cơ sở dạy
nghề là nhà cấp 4, nhà tạm, tập trung chủ yếu ở các cơ sở đào tạo do địa phương quản lý,
các tỉnh khó khăn, huyện nghèo. Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn còn
thiếu về số lượng, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp, chất lượng còn hạn chế. Hiện
nay, có 42 trung tâm dạy nghề không có giáo viên cơ hữu; 39 trung tâm dạy nghề chỉ có 1
giáo viên cơ hữu; 100 trung tâm có từ 2-3 giáo viên cơ hữu. Ngoài ra, các cán bộ quản lý
dạy nghề ở một số cơ sở dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, thiếu kinh
nghiệm quản lý.
4. Một số thực trạng khác về chất lượng của nguồn cung lao động Việt Nam.
a. Thực trạng chất lượng lao động theo trình độ học vấn và tay nghề
Ta có bảng số liệu số học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật (thời điểm 31/12 hàng năm)
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
24
Đề tài kinh tế phát triển GVHD: PGS.TS: Nguyễn Thanh Hà
Nguyễn Đức Long Kinh tế phát triển 48b
25