Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại toàn cầu hóa, các yếu tố sản xuất được di chuyển từ nước này
sang nước khác đã trở thành hiện tượng phổ biến. Điều này phù hợp với những quy
luật kinh tế đã tồn tại từ lâu cũng như đã được chứng minh trong thực tiễn các nền
kinh tế. Lao động với tư cách là một yếu tố sản xuất quan trọng cũng đang vượt
biên giới để tìm nơi có mức thu nhập cao hơn. Trên thế giới, tình trạng thất nghiệp
tại hầu hết các quốc gia đã và đang là vấn đề gây đau đầu cho chính phủ các nước.
Việt Nam với dân số 86 triệu dân thì giải quyết việc làm luôn được đặt ra là một vấn
đề mang tính chiến lược quốc gia, do đó hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài, còn gọi là hợp tác lao động quốc tế hay xuất khẩu lao động
được Đảng và nhà nước ta xác định là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại quan trọng,
một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm.
Đã coi xuất khẩu lao động là một trong những hướng để tăng thu nhập quốc
dân và là biện pháp để giải quyết sức ép về việc làm, thì cần thiết phải tìm ra những
giải pháp đầu tư, đào tạo và tìm kiếm phát triển thị trường. Xét trên khía cạnh vi mô
thì đó là giải pháp nõng cao chất lượng của công ty xuất khẩu lao động và chính
những người lao động. Qua phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động tại
công ty cổ phần nhân lực và thương mại Vinaconexmec, em xin kiến nghị một số
vấn đề nhằm tăng cường công tác xuất khẩu lao động của cơng ty thông qua đề tài:”
Giải pháp tăng cường xuất khẩu lao động của công ty cổ phần nhân lực và
thương mại Vinaconexmec” . Kết cấu của đề tài như sau:
Chương 1: Sự cần thiết của vấn đề tăng cường xuất khẩu lao động ở công ty
Vinaconexmec.
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động tại công ty
Vinaconexmec.
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác xuất khẩu lao động của cơng ty
Vinaconexmec
Em xin chân thành cảm ơn thầy Ngô Thắng Lợi đã tận tình hướng dẫn em và
em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa đã giúp em xây dựng
và hoàn thành đề tài này
động ra trên hơn 10 thị trường thế giới như: Lybia, UAE, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài
Loan, Myanma, Lào, Cyrus, Ailen, Cơ oét… từng bước tạo việc làm, tăng thu nhập
cho người lao động, góp phần giảm bớt những tệ nạn xã hội và đem lại nguồn thu
đáng kể cho ngân sách nhà nước.
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
Thực hiện chủ trương cổ phần hóa của đảng, nhà nước và chính phủ ,
Vinaconex là công ty đầu tiên được chọn thí điểm theo mô hình này. Phát triển
từ trung tâm xuất khẩu lao động và thương mại Vinaconex thuộc tổng công ty
Vinaconex, công ty cổ phần nhân lực và thương mại Vinaconex Mec được ra đời
trong giai đoạn này, đã được sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy
chứng nhận đăng kí kinh doanh ngày 3 tháng 5 năm 2007. Công ty nắm cổ phần
chi phối tại hai công ty là Vinamex và Vinatra, hoạt động theo mô hình công ty
mẹ và công ty con
Công ty cổ phần nhân lực và thương mại Vinaconexmec thuộc tổng công ty
cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam Vinaconex, được Bộ lao động
thương binh và xã hội cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm
việc ở nước ngoài số 196/LĐTBXH-GP ngày 16 tháng 07 năm 2009, được tổng cục
du lịch cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế số 0824/2008/TCDL-GP LHQT
ngày 20 tháng 05 năm 2008.
Là một trong những đơn vị đứng đầu trong hoạt động xuất khẩu lao động và
chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài, trong gần 20 năm kể từ ngày thành lập
VINACONEXMEC đã đưa hơn 60.000 lượt lao động đi làm việc tại trên 30 nước
trên thế giới như các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ như Tiệp Khắc, Bungari,
Nga và các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, U.A.E…với nhiều nhóm nghề đa
dạng như: công nhân – chuyên gia. Qua đó Vinaconexmec đã không ngừng khẳng
định thương hiệu và uy tín của mình trong lĩnh vực xuất khẩu lao động cả ở trong
nước và trên thế giới.
Trong suốt quá trình hoạt động, công ty đã đạt được nhiều danh hiệu thi
dày kinh nghiệm, chương trình du lịch phong phú, ấn tượng như: du lịch sinh thái,
du lịch mạo hiểm…
1.1.2.2. Nhiệm vụ.
Vinaconexmec ra đời trong hoàn cảnh đất nước có nhiều khó khăn khi nước
ta bước đầu chuyển cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Nhiều ngành, nhiều
doanh nghiệp lớn nhỏ thiếu công ăn việc làm nghiêm trọng. Đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam mới là bước đầu, vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật còn
hạn chế, tình hình này đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp, đời sống của người dân
gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, thấy rõ trách nhiệm của mình, bằng sự cố
gắng vượt bậc, công ty đã đưa và quản lý lực lượng cán bộ công nhân xây dựng ở
nước ngoài tăng cả về số lượng và chất lượng đặc biệt là chất lượng quản lý. Để đạt
được những thành tích đó, ngay từ đầu tất cả cán bộ và công nhân viên của công ty
đã xây dựng cho mình một số nhiệm vụ.
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
- Xây dựng và thực hiện có hiệu quả các kế hoạch hành động sản xuất và
kinh doanh của công ty phù hợp với những chính sách và cơ chế hiện hành của nhà
nước. Quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, mở rộng các hoạt động sản xuất kinh
doanh, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước.
- Thực hiện tốt các chính sách về tuyển dụng, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân
lực cho công ty để không ngừng nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên trong
công ty. Đồng thời thực hiện nghiêm túc luật lao động cũng như có những hình thức
đãi ngộ cần thiết đối với lao động trong công ty.
- Chuyển đổi hoạt động xuất khẩu lao động đơn thuần thành mô hình công ty
đào tạo và cung ứng nhân lực quốc tế ( xuất- nhập khẩu lao động). Xuất khẩu lao
động ra các thị trường nước ngoài đồng thời cũng là đơn vị hàng đầu cung cấp
nguồn lao động kĩ thuật cao, chuyên gia cho các doanh nghiệp trong nước.
- Hướng tới cung cấp chọn gói lao động cho các nhà máy, dự án, công trình
ở nước ngoài cũng như trong nước theo đơn đặt hàng và tiến tới trở thành nhà thầu
CHỈ TIÊU Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Vốn chủ sở hữu
10.294.399.645 15.617.660.890 35.679.985.746 51.607.022.767
Vốn kinh doanh
21.456.742.908 33.583.545.163 179.816.678.257 267.042.187.615
Số cán bộ công
nhân viên
25 34 54 67
Nguồn: Phòng tài chính kế toán công ty Vinaconex Mec
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
Như vậy có thể thấy rằng, vốn kinh doanh của cơng ty tăng liên tục qua các
năm. Trong năm 2006, vốn chủ sở hữu của công ty đạt 10.294.399.645 đồng, đến
năm 2007, con số này đã tăng lên là 15.617.660.890 ( gấp 1,5 lần). Qua các năm,
bằng lợi nhuận kinh doanh để lại, và đặc biệt từ năm 2008, công ty Vinaconex Mec
đã lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra thị trường, thu hút vốn từ thị trường chứng
khoán nhằm tăng vốn điều lệ, do đó năm 2008, vốn chủ sở hữu của công ty đạt
35.679.985.746 ( tăng gấp 3 lần so với năm 2006 và gấp 2 lần năm 2007). Năm
2009 vừa qua, mặc dù chịu tác động khủng hoảng kinh tế trong nước và thế giới,
mức vốn chủ sở hữu của công ty vẫn tiếp tục gia tăng và đạt con số tương đối ấn
tượng đó là 51.607.022.767. Như vậy, thông qua những biến động về vốn của công
ty trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2009, có thể thấy rằng vốn chủ sở hữu của công
ty đã tăng liên tiếp qua các năm ( mức tăng trung bình là 175%/ năm). Việc gia tăng
vốn chủ sở hữu cho thấy, hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm vừa
qua là tương đối tốt, và hoạt động thu hút vốn thông qua kênh phát hành cổ phiếu
trên thị trường chứng khoán đạt hiệu quả cao.
Bên cạnh vốn chủ sở hữu, trong giai đoạn vừa qua, để đáp ứng được nhu cầu
kinh doanh của mình, Vinaconex Mec đã áp dụng linh hoạt đòn bẩy tài chính, thông
qua các công cụ nợ khác để tăng mức vốn kinh doanh liên tiếp qua các năm. Nếu
- Mua bán, bảo dưỡng mô tô, xe máy, mua bán các phụ tùng và các bộ phận
phụ trợ của mô tô, xe máy.
- Mua bán vật liệu xây dựng.
- Kinh doanh hàng may mặc, dệt lụa.
- Mua bán máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải.
- Mua bán nguyên vật liệu ngành công nông nghiệp, thuỷ tinh.
- Mua bán nông lâm, thuỷ hải sản, lương thực (trừ lâm sản Nhà nước cấm).
- Kinh doanh dịch vụ giao nhận, vận chuyển hàng hoá.
- Sản xuất, chế biến và mua bán lương thực, thực phẩm; Chăn nuôi gia cầm,
gia súc.
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá
- Sản xuất, gia công các mặt hàng phục vụ cho các ngành giao thông vận tại,
xây dựng.
4. Du lịch
- Lữ hành nội địa và quốc tế.
Trong 20 năm hình thành và phát triển ( Trung tâm xuất khẩu lao động trước
đây) nay là công ty cổ phần nhân lực và thương mại Vinaconexmec, với phương
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
châm chỉ đạo là đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên hoạt động xuất
khẩu lao động được công ty xác định là lĩnh vực kinh doanh chính ngay từ những
ngày đầu thành lập. Với uy tín cao và thương hiệu nổi tiếng, công ty trực tiếp tư
vấn, tuyển dụng, đào tạo đưa người lao động đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài;
quản lý và chịu trách nhiệm với lao động từ khi nhập học cho đến khi hết hạn hợp
đồng; luôn đặt quyền lợi của người lao động lên hàng đầu, hạn chế mức thấp nhất
rủi ro cho người lao động. Đến nay công ty đã xứng đáng với sự tin cậy của lãnh
đạo tổng công ty và trở thành đơn vị kinh doanh hàng đơn vị hàng đầu trong các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động của cả nước góp phần vào công cuộc xây dựng
hiện đại hóa, công nghiệp hóa của đất nước.
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
khác, ngoài hoạt động xuất khẩu lao động, nguồn vốn đầu tư cho hoạt động xuất
khẩu lao động chiếm một tỉ lệ rất nhỏ chỉ khoảng 5%. Tuy là một lĩnh vực kinh
doanh chính, nhưng hoạt động xuất khẩu lao động của công ty Vinaconex Mec chỉ
chiếm một chi phí tương đối nhỏ trong tổng hoạt động của công ty.
Tuy nhiên để có thể nhìn nhận một cách chính xác, ta phải xét về mặt cơ cấu
của tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh và cơ cấu về lợi nhuận trước thuế của
công ty. Về cơ cấu doanh thu như sau: năm 2006 doanh thu từ hoạt động xuất khẩu
lao động chiếm tỉ trọng 86,5% trong tổng doanh thu của công ty, năm 2007 là
81,92%, năm 2008 là 40,49% và con số này trong năm 2009 vừa qua là 37,42%.
Như vậy hoạt động xuất khẩu lao động đã chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng doanh
thu của công ty.
Xét về cơ cấu của lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu lao động trong tổng lợi
nhuận trước thuế của công ty Vinaconex Mec như sau: năm 2006 đạt 48,98% trong
tổng lợi nhuận trước thuế của công ty, năm 2007 đạt 44,38%, năm 2008 đạt 31,75%
và năm 2009 tỉ trọng lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu lao động là 44,26%. Tỉ trọng
lợi nhuận của hoạt động xuất khẩu lao động trong tổng lợi nhuận trước thuế của
công ty tương đối cao ( trong giai đoạn từ 2006- 2009 trung bình chiếm 42,34%
trong tổng lợi nhuận )
Như vậy hoạt động xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh doanh dịch vụ
chính của công ty Vinaconex Mec. Trong thời gian vừa qua đã có sự đầu tư cho
hoạt động này, và nó cũng đã mang lại những kết quả đáng kể cho hoạt động kinh
doanh của công ty Vinaconex Mec.
1.3. Sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động ở công ty
Vinaconexmec.
Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hay còn
gọi là xuất khẩu lao động hay hợp tác lao động quốc tế, đã bắt đầu từ những năm
1980. Và cho tới nay, hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia luôn được Đảng
và Nhà nước ta xác định là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển
nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho
lao động, góp phần tích cực vào việc giải quyết việc làm cho xã hội. Đồng thời hoạt
động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã nâng cao một cách đáng kể
đời sống của người dân, bởi nó tạo cơ hội cho người lao động tăng thu nhập, tích
lũy vốn cải thiện đời sống của bản thân và gia đình họ. Rất nhiều những gia đình
nghèo ở Việt Nam có con em đi xuất khẩu lao động đã thoát được cảnh nghèo và
vươn lên làm giàu bởi tính chung người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thu
nhập bình quân bằng 10-15 lần so với thu nhập của người lao động trong nước.
Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu lao động chiếm tỉ trọng lớn trong tổng
doanh thu của các đơn vị trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, theo thống kê của một
số doanh nghiệp thì tỉ suất lợi nhuận bình quân trên doanh thu của hoạt động xuất
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
khẩu lao động là khoảng 20%, như vậy có thể thấy rằng đây là hoạt động kinh
doanh có chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả về kinh tế hay lợi nhuận cao cho các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.
Xuất khẩu lao động là hoạt động đã đem lại những lợi ích kinh tế xã hội lớn.
Đối với nhà nước giúp làm giảm sức ép về thất nghiệp, là nguồn thu ngoại tế chính,
đồng thời gián tiếp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Đối với người lao động, đi làm việc ở nước
ngoài là cơ hội để họ có mức thu nhập cao hơn, và tạo cho họ hành trang tốt hơn sau
khi về nước nhờ những trang bị về kiến thức đã tiếp thu được từ những đất nước
phát triển mà họ làm việc. Đặc biệt đối với những doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực này thì đó là nguồn thu quan trọng, mang lại mức lợi nhuận lớn cho các
doanh nghiệp. Từ những lý do trên, có thể thấy rằng hoạt động xuất khẩu lao động
và chuyên gia ra nước ngoài đã đang và ngày càng được đẩy mạnh. Do đó, xét trên
bình diện vĩ mô, việc tăng cường hoạt động xuất khẩu lao động tại công ty
Vinaconex Mec là phù hợp với xu hướng chung của cả nước và quan điểm chỉ đạo
của Đảng và Chính Phủ Việt Nam.
Xuất khẩu lao động là lĩnh vực truyền thống gắn liền với sự ra đời và phát
nước và xuất khẩu lao động.
Trong thời gian tới, Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex
tiếp tục mở rộng hoạt động trong lĩnh vực Xuất khẩu lao động, coi đây là một lĩnh
vực hoạt động quan trọng có ý nghĩa xã hội sâu sắc, trong đó đặc biệt chú trọng việc
tăng cường mở rộng thị trường và tăng số lượng ngành nghề. Với thuận lợi là nhà
thầu uy tín ở Việt Nam với trên 5000 cán bộ và công nhân có trình độ tay nghề cao,
Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex sẽ chú trọng đến việc cung
cấp lao động qua việc nhận thầu các công trình ở nước ngoài. Như vậy việc tăng
cường chức năng xuất khẩu lao động là một tất yếu để có thể đáp ứng được những
yêu cầu mới trong công tác xuất khẩu lao động của công ty trong thời gian sắp tới.
Như đã biết, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh doanh dịch vụ của
công ty Vinaconex Mec. Không những thế, đây còn là hoạt động đem lại mức lợi
nhuận lớn nhất cho công. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của hoạt động này tại
công ty Vinaconex Mec đạt mức tương đối cao: năm 2006 là 30,72%, năm 2007 là
27,48%, năm 2008 là 29,79% và năm 2009 co số này đạt 37,13%. Như vậy đây là
hoạt động mang lại doanh thu chính cho công ty, lại có mức đầu tư cho hoạt động
tương đối nhỏ ( so hơn rất nhiều so với mức đầu tư cho các hoạt động kinh doanh
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
khác của công ty Vinaconex Mec). Do đó đây là một lợi thế lớn của công ty khi có
tỉ lệ sinh lời trên một đồng vốn đầu tư là khá cao, để tăng cường được ưu thế này,
thì tăng cường và mở rộng hoạt động xuất khẩu lao động của công ty Vinaconex
Mec là điều cần thiết.
Từ những phân tích trên cả trân bình diện vĩ mô và vi mô, từ chiến lược và
những nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn tiếp theo, và xét trên khía cạnh chi phí và
hiệu quả kinh doanh thì đẩy mạnh xuất khẩu lao động ở công ty cổ phần nhân lực
và thương mại Vinaconex Mec là xác định là một vấn đề tất yếu của giai đoạn tiếp
theo này trong tiến trình phát triển của công ty.
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
Thanh lý hợp đồng
Tìm hiểu thị trường, đàm phán hợp
đồng, kí kết hợp đồng với đối tác
Thông báo tuyển chọn, tổ chức tuyển
chọn lao động
Kí hợp đồng với người lao động
Đào tạo và giáo dục định hướng cho
người lao động
Kiểm tra sức khỏe, xin visa nhập/quá
cảnh
Tổ chức cho lao động xuất cảnh
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
nhân sử dụng lao động, và chỉ một phần nhỏ với các đại lý hay công ty môi giới lao
động nước ngoài vì giảm được chi phí môi giới và tạo điều kiện tốt hơn cho người
lao động. Do đó trung bình mỗi năm công ty kí kết khoảng gần 100 hợp đồng với
đối tác các nước, tất cả các hợp đồng đều được thực hiện thành công.
Trước khi kí kết hợp đồng, công ty phải tiến hành các nghiên cứu về thị
trường, tìm hiểu cặn kẽ về đối tác, và xem xét kĩ các điều khoản trong hợp đồng.
Công ty sẽ thẩm định khảo sát kỹ các điều kiện đảm bảo việc làm, sinh hoạt cho
người lao động trước khi đến làm việc của đối tác nước ngoài. Các hợp đồng về
xuất khẩu lao động thường bao gồm các nội dung chính là: thông tin về công ty tiếp
nhận và cung ứng lao động, số lượng và tiêu chuẩn lao động cần sử dụng, loại hình
công việc, địa điểm làm việc, mức lương cơ bản, tiền thưởng, thời gian làm việc,
chi phí đi lại, chi phí đào tạo, phí môi giới…Công ty sẽ cố gắng đàm phán với đối
tác nước ngoài để họ chấp nhận một mức phí vừa phải nhằm giảm chi phí cho người
lao động và tăng doanh thu cho công ty. Hơn nữa các điều khoản về thu nhập và
điều kiện làm việc của người lao động cũng được công ty đặc biệt quan tâm để đảm
bảo cho lợi ích của người lao động.
2.1.2. Thông báo tuyển chọn và tổ chức tuyển chọn lao động.
Sau khi kí kết các hợp đồng xuất khẩu lao động với đối tác nước ngoài, công
để tránh những tranh chấp phát sinh sau này. Hợp đồng được kí kết trên sự tự
nguyện của cả công ty và người lao động. Nội dung hợp đồng ký giữa công ty và
người lao động cần rõ ràng, đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên.
2.1.4. Đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động
Doanh nghiệp sẽ thực hiện đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao
động trước khi họ xuất cảnh. Đây là một khâu vô cùng quan trọng vì nó tạo ra chất
lượng lao động xuất khẩu của công ty. Công ty sẽ tổ chức đào tạo và giáo dục định
hướng cho người lao động tại hệ thống ba trường đào tạo nghề của công ty
Vinaconexmec đó là: Trường đào tạo nhân lực và Thương mại Vinaconex, Trường
trung cấp nghề kỹ thuật xây dựng và nghiệp vụ và Trung tâm đào tạo và dạy nghề
Vinaconex.
Tại đây người lao động được học ngoại ngữ theo quốc gia mà lao động sẽ
làm việc tại đó. Để trang bị vốn ngoại ngữ cần thiết cho người lao động trước khi đi
xuất khẩu, tại các trường đào tạo của mình, công ty đã sử dụng các giáo viên ngoại
ngữ có trình độ chuyên môn và kĩ năng giảng dạy.
Thực hiện giáo dục định hướng cho người lao động, giúp người lao động
nắm vững được luật pháp tại nước làm việc, tránh trường hợp đáng tiếc xảy ra khi
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
người lao động không biết được các quy định của luật pháp. Và một phần quan
trọng hơn nữa là phổ biến cho người lao động về các phong tục, tập quán, nền
văn hóa, điều kiện làm việc và sinh hoạt để họ có những vốn kiến thưc, sự hiểu
biết cơ bản khiến cho họ khỏi bỡ ngỡ và có thể thích nghi được với môi trường
làm việc mới.
Tiến hành dạy nghề cho lao động phổ thông với những công việc có yêu cầu
công nhân lành nghề. Sau đó trực tiếp kiểm tra và cấp chứng chỉ cho người lao
động. đảm bảo rằng chỉ đưa đi những lao động đã đủ điều kiện về trình độ kĩ năng
như yêu cầu trong hợp đồng đã kí với nước ngoài.
Như vậy chất lượng lao động có tốt hay không phụ thuộc một phần lớn ở
visa. Với một số các thị trường Châu Âu và Châu Mĩ như: Mỹ, Australia, Anh visa
cho người lao động tương đối khó xin. Thậm chí đã từng có trường hợp công ty đã
kí được hợp đồng cung ứng lao động với chủ sử dụng tại Séc, được Đại sứ quán VN
xác nhận điều kiện khả thi hợp đồng nhưng do bị ách tắc trong khâu làm visa nhập
cảnh LĐ nên đã phải huỷ bỏ hợp đồng. Có thời điểm việc cấp visa cho lao động của
công ty rất chậm so với yêu cầu của doanh nghiệp và có thời điểm hầu như bị bế
tắc. Nhiều lao động đã chờ đợi quá lâu đã thất vọng bỏ cuộc.
2.1.6. Tổ chức đưa người lao động đi xuất cảnh.
Sau khi đã có đầy đủ thủ tục, công ty sẽ tiến hành xuất cảnh cho họ: mua vé
máy và giúp họ làm các thủ tục cần thiết ở sân bay. Thông thường vé máy bay sẽ
được tính vào chi phí của người lao động, cũng có những đơn hàng, chủ sử dụng sẽ
chịu chi phí đi lại này cho người lao động.
Công ty sẽ cử người đưa người lao động tới tận nơi làm việc, đảm bảo cho
người lao động có được công việc và điều kiện về ăn ở như trong hợp đồng đã kí
với đối tác, và kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh, tránh cho người lao động có
tâm lý lo lắng và bỡ ngỡ cho họ khi lần đầu bước chân tới một đất nước mới.
2.1.7. Quản lý người lao động ở nước ngoài.
Sau khi người lao động đã nhận được công việc, không chỉ dừng lại ở đó,
công ty sẽ tiếp tục quản lý người lao động ở nước ngoài. Lao động của công ty tại
các thị trường hầu hết đều được chủ sử dụng đánh giá cao là chăm chỉ, thông minh,
tiếp thu nhanh, được các thị trường đón nhận. Nhưng người lao động còn thiếu ý
thức kỉ luật, chưa có tác phong công nghiệp nên còn xảy ra các vụ việc vi phạm
pháp luật và luật lao động như: đánh nhau, trốn việc, uống rượu, bỏ ra ngoài làm,
phá vỡ hợp đồng. Đôi khi người lao động chưa hiểu hết về pháp luật của nước sở
tại, chưa hình dung được hậu quả do những hành vi thiếu suy nghĩ của mình gây ra.
Có trường hợp những lao động bị trục xuất về nước vì những hành vi ăn cắp vặt.
Những vấn đề này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới công ty, do đó chỉ có doanh mới
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
tìm hiểu một số thị trường chính của công ty.
Ba nhóm thị trường mục tiêu của công ty Vinaconex Mec là:
• Thị trường Trung Đông – Bắc Phi: bao gồm Algieria, Lybia, UAE,
Kuwait
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
• Thị trường Châu Á: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Myanma, Bruney, Inđonexia, Lào
• Thị trường Châu Âu: cộng hòa Séc, Rumani, Đức, Bulgaria.
Bảng3: Số lượng lao động xuất khẩu trên các thị trường chính của công ty ( từ năm 1993 – 1999)
Năm
Thị Trường
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Hàn Quốc 799 1404 466 242 332 542 1240 177 523 541 442 374 255 12 0
Lybia 1365 2368 1598 1074 991 350 515 138 65 100 109 18 68 94 169 753 1829
Nhật Bản 10 10 10 10 15 15 43 64 117 139 32 15 41 27 65 59 27
Đài Loan 0 789 523 81 220 258 85 19 14 7
Mailaixia 0 0 0 1264 1636 284 24 14 72 55 2
UAE 0 41 0 0 56 7 4 904 385 13
Lào 706
Quatar 32 43 0
Arap XEUT 136
Angieria 224 438 62
Liên Bang Nga 198 238
Rumani 66
Nguồn: Phòng xuất khẩu lao động 1- công ty Vinaconex Mec
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
2.2.1. Thị trường Châu Á
Vinaconexmec lại tương đối nhỏ. Nguyên nhân là do phía Nhật yêu cầu lao động
xuất khẩu sang phải có tay nghề cao, thường là kĩ sư công nghệ thông tin, kĩ sư cơ
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngụ Thắng Lợi
khí, những lao động này phải có trình độ cao về chuyên môn cũng như tiếng Nhật,
bên cạnh đó là những thủ tục rất khắt khe. Không chỉ thế một nguyên nhân quan
trọng hơn nữa là do số lượng thực tập sinh bỏ trốn ngày càng nhiều. Hiện nay công
ty đã co những quy định nhằm củng cố và phát triển đối với thị trường này.
Trong những năm gần đây, do sự già hóa về dân số và tỉ lệ sinh thấp, dẫn đến
sự thiếu hụt trầm trọng nhân lực, làm cho nhu cầu về tu nghiệp sinh tại Nhật tăng
lên, bình quân mỗi năm tiếp nhận tới 70000 tu nghiệp sinh, đối với Việt Nam cho
đến nay đã đưa gần 40.000 tu nghiệp sinh sang Nhật Bản. Hiện nay có khoảng 89
doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam được phép đưa tu nghiệp sinh sang làm
việc tại Nhật, nhưng Vinaconexmec là công ty có số lượng lao động đưa sang Nhật
Bản vào loại nhiều nhất.
Nhưng Nhật Bản là một thị trường tiềm năng do nhu cầu nhập khẩu vè lao
động lớn, do đó trong thời gian tới công ty Vinaconexmec tiếp tục đẩy mạnh việc
khai thác thị trường này. Trong giai đoạn tiếp theo này, đây sẽ vẫn là thị trường
xuất khẩu lao động có nhu cầu cao của công ty Vinaconex Mec, tuy nhiên nhu
cầu về lao động và cơ cấu ngành nghề tại thị trường này sẽ có nhiều thay đổi.
Công nhân lành nghề và lao động có trình độ cao sẽ được khuyến khích nhập
khẩu, trong khi đó việc tuyển dụng dưới hình thức tu nghiệp sinh những lao động
không có nghề sẽ giảm hẳn.
2.2.1.2. Thị trường Hàn Quốc.
Hàn Quốc là thị trường lớn thứ hai của công ty Vinaconex MEC (chỉ đứng
sau Lybia), từ năm 1993 đến nay công ty đã đưa 7349 lượt lao động sang Hàn Quốc,
cùng với thị trường Nhật Bản và Lybia, Hàn Quốc là thị trường được khai thác từ
năm 1993. Từ năm 1990 đến năm 2006, số lượng lao động đưa sang thị trường này
rất lớn, có năm đã đưa được 523 lao động, . Tuy nhiên trong những năm gần đây, số
trọng tới việc đầu tư mới.
2.2.1.3. Thị trường Đài Loan.
Công ty Vinaconex Mec bắt đầu đưa những lao động đầu tiên sang Đài Loan
từ đầu năm 2000 và đây cũng là thời điểm thị trường này của công ty phát triển rực
rỡ nhất.Trong những năm vừa qua đây là thị trường tương đối ổn định do nhu cầu
tiếp nhận lao động tương đối cao, thu nhập và công việc của người lao động tốt và
chủ sử dụng đánh giá cao khả năng làm việc của lao động Việt Nam. Do đó trong
những năm từ 2000 cho tới 2005, công ty đã đưa đi một số lượng lớn lao động. Từ
năm 2005 chính phủ Đài Loan đã cấm lao động giúp việc của Việt Nam do tỷ lệ bỏ
về cao. Do đó trong bốn năm gần đây, việc đưa lao động cuả công ty vào thị trường
Đài Loan giảm đáng kể. Mặt khác do nền kinh tế giảm sút tỉ lệ thất nghiệp trong
nước tăng cao ( gần 6% tương đương với số người thất nghiệp khoảng 800.000
người ), cùng với các chính sách của chính phủ liên quan tới người lao động nước
ngoài nên đã hạn chế khả năng thu hút lao động vào thị trường Đài Loan. Bên cạnh
SV: Vũ Thị Thu Phương Lớp: Kế hoạch 48A
25