các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động tại công ty cổ phần đầu tư tổng hợp hà nội - Pdf 24

Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về xuất khẩu lao động
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài.
Việc làm luôn là vấn đề đáng quan tâm của đất nước ta nói riêng và của các nước
trên thế giới nói chung. Đây một đề tài nóng hổi và hấp dẫn trong mọi thời kỳ phát triển
của đất nước.
Có thể nhận thấy, nước ta về cơ bản là một nước nông nghiệp, đại bộ phận nhân dân
sống ở nông thôn và làm nông nghiệp, đất ít người động, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc
làm còn cao. Hàng năm thị trường lao động trong nước lại đón thêm 1 triệu người bước
vào độ tuổi lao động. Do đó, sức ép về việc làm là rất lớn. Đứng trước tình hình đó, Đảng
và Nhà nước ta đã xác định cùng với việc giải quyết việc làm trong nước là chính thì xuất
khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng trước mắt và lâu dài. Trong chỉ
thị số 41/CT/TW ngày 22/9/1998 của Bộ chính trị ban hành đã chỉ rõ: Cùng với việc giải
quyết việc làm trong nước là chính thì XKLĐ và chuyên gia là một chiến lược quan trọng,
lâu dài và góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là bộ phận của hợp tác lao động quốc tế, góp phần
củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước.
Hơn thập niên trở lại đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hoạt động
XKLĐ cũng đã phát triển không ngừng, ngày càng có nhiều thành tựu đáng kể góp phần
cùng với các ngành kinh tế khác tạo tiền đề để đất nước ta tiến lên trong thời kỳ CNH –
HĐH. Bắt đầu từ ngày 1/7/2007, Luật đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng (gọi tắt là Luật XKLĐ) có hiệu lực pháp luật và đi vào cuộc sống. Hoạt động XKLĐ
dần đi vào đúng quỹ đạo của nó và đem lại nhiều kết quả tốt. Giải quyết việc làm cho hàng
ngàn người lao động, giảm áp lực việc làm trong nước, tăng thu nhập cho người lao động
và tăng nguồn thu cho NSNN… .
Tuy nhiên, vẫn còn có những hạn chế ảnh hưởng đến việc triển khai hoạt động này:
Do còn quen với nếp sống của nền sản xuất vừa và nhỏ, người lao động chưa quen với tác
phong sống công nghiệp, kỷ luật lao động chưa cao, chưa quen chấp nhận quan hệ chủ-
thợ, và thường chỉ nghĩ đến lợi ích ngay trước mắt. Người lao động khi đi làm việc tại
nước ngoài còn yếu về trình độ và kỹ năng làm việc, khả năng ngoại ngữ còn hạn chế…

hoạt động XKLĐ của công ty và xu hướng phát triển của hoạt động này trong bối cảnh
chung của đất nước. Em đã lựa chọn đề tài luận văn của mình là “ Các giải pháp thúc đẩy
xuất khẩu lao động tại công ty cổ phần đầu tư tổng hợp Hà Nội”
Về mặt lý luận: Luận văn đã tập hợp và hệ thống hóa lý luận về XKLĐ. Đây là cơ sở
tham khảo và vận dụng đối với các đề tài có liên quan.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo thiết
thực và hữu ích cho công ty;
Về mặt giải pháp: Luận văn đưa ra các giải pháp cụ thể để thúc đẩy hoạt động XKLĐ của
công ty HANIC được tốt hơn trong tương lai.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống lại một số lý luận cơ bản về XKLĐ làm cơ sở cho phần phân tích thực
trạng;
- Phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề XKLĐ tại công ty cổ phần đầu tư tổng hợp
Hà Nội.
SV: Đỗ Thị Quyên 2 Lớp 42A4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

- Đề xuất các giải pháp và đưa ra một số kiến nghị để thúc đẩy hoạt động XKLĐ tại
công ty cổ phần đầu tư tổng hợp Hà Nội trong thời gian tới
1.4 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Trong thời gian từ 2007- đầu 2010. Tập trung chủ yếu là số
liệu năm 2007- 2009.
Không gian: Tại công ty đầu tư tổng hợp Hà nội - Tầng 6 tòa nhà Viglacera, xã Mễ
Trì, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. Cụ thể ở Ban quản lý XKLĐ của công ty tại địa chỉ giao
dịch của công ty: Nhà vườn B42- Nguyễn Thị Định, Trung hòa- Nhân chính, Hà nội.
Nội dung nghiên cứu: Bàn đến XKLĐ là rất rộng, bao gồm xuất khẩu lao động tại
chỗ và XKLĐ trực tiếp ra nước ngoài. Phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ đề cập
đến Xuất khẩu lao động trực tiếp ra nước ngoài. Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến lý luận, thực tiễn của XKLĐ và các giải pháp nhằm thúc đẩy XKLĐ tại công ty
cổ phần đầu tư tổng hợp Hà Nội trong thời gian tới.

hai bên chấp thuận trong hợp đồng cung ứng lao động.
Về bản chất, XKLĐ- đơn thuần là tìm kiếm việc làm ở nước ngoài, thường với kỹ
thuật cao hơn, điều kiện tốt hơn và thu nhập cao hơn , là cơ hội thuận lợi trong quá trình
lập nghiệp.
2.1.1.2 Các khái niệm liên quan
* Di dân quốc tế: Di dân quốc tế được hiểu là quá trình di chuyển lao động từ nước
này sang nước khác để tìm việc làm. Nếu xét theo khía cạnh dân số học thì XKLĐ cũng là
một quá trình di dân quốc tế. Do vậy, việc đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài
cũng là tham gia vào quá trình di dân quốc tế.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, di dân lao động quốc tế dưới hình thức XKLĐ gia
tăng mạnh và đã góp phần tích cực vào chiến lược giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo
sự ổn định và phát triển đất nước.
* Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá
trình tạo ra của cải xã hội. Nó phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu
tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội.
* Lực lượng lao động: Lực lượng lao động là một bộ phận của dân số, trong độ tuổi
quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm, đang tích cực
tìm việc làm.
SV: Đỗ Thị Quyên 4 Lớp 42A4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

Đây là lực lượng rất quan trọng, họ là người tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Hiện
nay, Bộ luật Lao động Việt Nam quy định tuổi lao động đối với nam từ 15 đến 60 tuổi,
đối với nữ từ 15 đến 55 tuổi.
* Chủ sử dụng lao động: Chủ sử dụng lao động là những ông chủ tư liệu sản xuất
đồng thời là người quản lý điều hành doanh nghiệp( DNTN) hoặc là những người được
người chủ tư liệu sản xuất ủy quyền thuê mướn, bổ nhiệm để trực tiếp thực hiện công việc
quản lý điều hành DN và được quyền sử dụng và trả công người lao động.
* Người lao động: Bao gồm tất cả những người làm việc với các chủ sử dụng lao
động nhằm mục đích lấy tiền và thuộc quyền điều hành của người chủ trong thời gian làm

Và XKLĐ cũng là dựa trên nền tảng của lý thuyết này.
Ví dụ: Việt Nam là nước có lợi thế về lao động giá rẻ nhưng lại thiếu các tư liệu sản
xuất. Trong khi đó, các nước khác có nền kinh tế phát triển, tư liệu sản xuất có nhưng lại
thiếu lao động.
Kết quả là Việt Nam và các nước này sẽ ký các hiệp định thương mại với nhau.
Trong đó, Việt Nam sẽ cung ứng lao động cho họ.
Thứ hai, trong thời đại toàn cầu hóa, khi mà cả thế giới cùng chung trong ngôi nhà
toàn cầu, nó sẽ tạo ra mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ
chức hay các cá nhân ở các góc độ khác nhau từ kinh tế văn hóa xã hội… đặc biệt ở lĩnh
vực kinh tế xảy ra các dòng chảy luân chuyển hàng hóa và các nguồn lực ( vốn, khoa học
công nghệ). Trong bối cảnh toàn cầu hóa như vậy, sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia
diễn ra mạnh mẽ trên rất nhiều mặt, trong đó có sự hợp tác lao động quốc tế. Hội nhập
kinh tế quốc tế và XKLĐ là quá trình tất yếu khách quan của bất kỳ quốc gia nào.
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của các công trình năm trước.
Ở nước ta XKLĐ đã có từ rất lâu, nó xuất hiện trong những năm 80 của thế kỷ XX.
Tuy nhiên chỉ trong khoảng thời gian gần đây, hoạt động này mới được nhắc đến nhiều.
Việc nghiên cứu về nó còn khá mới mẻ, song cũng có một số công trình nghiên cứu về
những vấn đề liên quan đến XKLĐ. Chúng ta có thể điểm qua một số công trình sau:
Thứ nhất về khía cạnh quy trình XKLĐ có một số công trình nghiên cứu sau:
- Hoàn thiện quy trình XKLĐ sang thị trường Nhật Bản tại công ty cổ phần nhân
lực và thương mại VINACONEX MEC- Tác giả: Lại Thị Ánh Nguyệt, Luận văn tốt nghiệp
khoa Thương mại Quốc tế, trường Đại học Thương mại- 2009
- Một số giải pháp nhằm hoạt thiện quy trình XKLĐ tại công ty cổ phần cung ứng
nhân lực và thương mại Sông Đà Simco- Tác giả Đặc Văn Biên, Luận văn tốt nghiệp
khoa Thương mại Quốc tế, trường Đại học Thương Mại- 2008.
Các luận văn tập trung nghiên cứu sâu về quy trình của việc thực hiện một hợp đồng
cung ứng lao động, đưa ra các giải pháp để hoàn thiện các quy trình đó tốt hơn. Tuy
nhiên, luận văn lại chưa chỉ ra được vai trò của XKLĐ, chưa bàn đến vấn đề nghiên cứu
thị trường trong việc thực hiện XKLĐ. Trong phần các nhân tố ảnh hưởng cũng chưa
trình bày được nhân tố ngành có ảnh hưởng như thế nào…

Bởi: + XKLĐ thực hiện chức năng kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận của DN và
làm tăng ngân sách của nhà nước. Thực hiện hoạt động này, tất cả các bên đều có mong
muốn mang lại lợi ích kinh tế cho mình. Họ luôn tính toán đến chi phí đầu ra và các lợi
ích thu vào để đưa ra quyết định cuối cùng.
+ XKLĐ là hoạt động mang tính xã hội vì nó thể hiện ở việc giải quyết việc làm, ổn
định, cải thiện đời sống nhân dân…Hơn nữa, đây là hoạt động được cả xã hội quan tâm và
có thể tham gia.
- XKLĐ là một dịch vụ đặc biệt, cung cấp hàng hóa đặc biệt và vượt ra khỏi biên
giới quốc gia.
Sở dĩ XKLĐ có đặc điểm này vì hàng hóa của XKLĐ là sức lao động của người lao
động và nó không thể tách rời chủ thể. Sự chuyển giao quyền sử dụng sức lao động chỉ
chấm dứt khi người lao động chấm dứt hợp đồng và trở về nước.
SV: Đỗ Thị Quyên 7 Lớp 42A4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

- XKLĐ là sự kết hợp hài hòa giữa sự quản lý vĩ mô của nhà nước và sự chủ động,
tự chịu trách nhiệm của các tổ chức XKLĐ.
Cũng giống như các hoạt động kinh tế khác, XKLĐ chịu sự điều hành, giám sát của
nhà nước, nó phải tuân theo pháp luật của nhà nước.
- XKLĐ đảm bảo lợi ích của cả ba bên: nhà nước, tổ chức xuất khẩu lao động,
người lao động.
- XKLĐ là hoạt động là hoạt động mang tính cạnh tranh và có liên quan đến an ninh
quốc gia.
Trên thị trường lao động, XKLĐ tuân theo các quy luật thị trường. Sự cạnh tranh
giữa các chủ thể trong vấn đề này là một quy luật tất yếu khách quan. Đây là sự cạnh
tranh giữa các nước với nhau, cạnh tranh giữa các DN về nguồn cung lao động cũng như
việc giành và chiếm lĩnh thị trường. Sự cạnh tranh công bằng sẽ là động lực cho việc nâng
cao chất lượng của hoạt động XKLĐ.
2.4.1.2 Vai trò của XKLĐ
a) Xét trên góc độ vĩ mô

doanh…
Với bản thân người lao động:
+ Trước hết, người đi XKLĐ có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi cảnh nghèo đói,
cải thiện cuộc sống bản thân và gia đình.
+ Là cơ hội để người lao động tiếp thu kỹ năng làm việc, quản lý, tích lũy trình độ
tay nghề và kinh nghiệm thực tiễn để tạo việc làm trong nước khi trở về.
Kết luận: Như vậy, dù đứng ở góc độ vi mô hay vĩ mô thì XKLĐ đều có vai trò quan
trọng trong việc đem lại những lợi ích kinh tế cho các chủ thể tham gia vào hoạt động
này.
2.4.2 Các hình thức xuất khẩu lao động.
Hình thức XKLĐ là cách thức thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài do nhà nước quy định.
Tại điều 6 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng quy định: Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo một trong các hình thức sau
đây:
a) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt
động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép
hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
b) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng
thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài;
c) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập
nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực
tập nâng cao tay nghề;
d) Hợp đồng cá nhân.
Ở nước ta hiện nay chủ yếu XKLĐ ở hai hình thức đầu tiên. Theo đó các DN được
cấp phép XKLĐ phải chủ động tìm kiếm thị trường, chủ động trong việc ký kết hợp đồng
với cá đối tác nước ngoài để thực hiện các thủ tục đưa NLĐ đi làm việc theo đúng pháp
luật của Việt Nam và nước pháp luật của nước tiếp nhận lao động. Các DN phải có trách
nhiệm quản lý NLĐ của DN mình.

biện pháp phòng tránh.
Bên cạnh việc nghiên cứu thị trường, DN cần có hoạt động nhận dạng lại chính
mình- tức là xem DN mình có điểm mạnh, điểm yếu nào? Với những tình hình thực tế đó
thì DN có thể đáp ứng được nhu cầu không. Có thực hiện tốt công việc này thì DN mới có
thể giành được thành công.
2.4.3.2 Tìm kiếm và lựa chọn đối tác.
Đây chính là khâu DN sẽ lựa chọn các nước mà mình sẽ đưa người lao động sang
làm việc. Để tiến hành tìm kiếm và lựa chọn đối tác, DN có thể tiến hành theo hai cách
sau:
SV: Đỗ Thị Quyên 10 Lớp 42A4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

+ Nghiên cứu tại phòng ( Desk research): Với cách nghiên cứu này thì DN chỉ việc
dựa vào các hồ sơ, tài liệu có liên quan đến đối tác để tiến hành phân tích và lực chọn đối
tác phù hợp nhất: DN sẽ phân tích hồ sơ của đối tác (dựa vào kết quả của hoạt động
nghiên cứu thị trường ở trên) kết hợp với các hợp đồng lao động mà đối tác đã đề nghị với
DN.
Phương pháp này khá đơn giản, chi phí không cao, nhưng kết quả thường không xác
thực.
+ Nghiên cứu tại chỗ ( Field research): Với cách nghiên cứu này thì DN cần phải
đến tại đại bản doanh của khách hàng( đối tác của DN) để tìm hiểu tình hình thực tế diễn
ra như thế nào, tình hình đó có phù hợp với những gì mà họ đã đưa ra cho DN hay không.
Từ những nghiên cứu đó, DN sẽ dựa vào khả năng đáp ứng của mình để tiến hành lựa
chọn khách hàng.
Phương pháp nghiên cứu này khá tốn kém, đòi hỏi DN phải có tiềm lực lớn, kết quả
đưa ra khá chính xác, tin cậy.
Việc nghiên cứu để tìm ra được các đối tác phù hợp nhất cho việc đặt quan hệ hợp
tác là vô cùng quan trọng. Bởi nó liên quan trực tiếp tới quyền lợi và trách nhiệm của mỗi
bên như: Các khoản chi phí mà DN và người lao động phải trả, tiền lương, điều kiện làm
việc của người lao động phải được đảm bảo…

 Nội dung chính của hợp đồng cung ứng lao động bao gồm nội dung sau:
Thứ nhất: Về đối tượng của hợp đồng:
Hai bên thống nhất về qui mô lao động, ngành nghề cụ thể, trình độ học vấn, trình
độ tay nghề, giới tính, độ tuổi của người lao động
Thứ hai: Các nội dung liên quan về lao động
- Địa điểm làm việc
Hợp đồng phải ghi rõ là NLĐ sẽ làm việc tại đâu, xí nghiệp nào, địa chỉ cụ thể của
nơi đó. Trong điều kiện này, bên XKLĐ qui định rõ “ Không đưa NLĐ tới làm việc tại
những nơi mà không có sự thỏa thuận giữa hai bên bằng văn bản” và “ Không đưa lao
động tới làm việc tại những nơi tranh chấp về lãnh thổ hoặc những nơi có chiến sự ”.
- Thời hạn làm việc.
Thời gian làm việc của NLĐ tính từ lúc NLĐ tới nước tiếp nhận lao động, quy định
này liên quan đến trả lương cho NLĐ.
Thời gian chấm dứt hợp đồng phải được tính kể từ ngày NLĐ rời khỏi nước tiếp
nhận lao động. Thời hạn làm việc này tùy thuộc vào quy định của từng nước và từng công
việc mà NLĐ tham gia.
- Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi
Để đảm bảo quyền lợi của NLĐ, hợp đồng phải chỉ rõ: thời gian làm việc trong
ngày, các ngày nghỉ lễ theo luật, thời gian làm thêm giờ Giờ làm việc và chế độ làm việc
của NLĐ phải phù hợp với pháp luật quốc tế và luật lao động ở nước sở tại, không nhiều
hơn 8 tiếng/ ngày; 6 ngày/ tuần. Lao động Việt Nam phải được trả lương cho những ngày
nghỉ như lao động của nước sở tại.
- Điều kiện làm việc – sinh hoạt.
Bên nhập khẩu lao động có trách nhiệm cung cấp và tổ chức nơi ở hợp vệ sinh, môi
trường cho NLĐ, cũng như các tiện nghi sinh hoạt cần thiết cho NLĐ. Đồng thời phải có
trách nhiệm trang bị các công cụ, dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết để đảm bảo các điều
kiện an toàn cho NLĐ trong quá trình làm việc.
- Bảo hiểm của người lao động.
Không như các loại hàng hóa khác, việc bảo hiểm con người rất phức tạp. Việc bảo
hiểm còn mang tính phòng ngừa chứ không chỉ giới hạn trong việc đền bù thông thường.

bên tiếp nhận lao động sẽ lựa chọn đối tượng phù hợp trong số những người đã sơ tuyển,
hoặc bên tiếp nhận lao động sẽ trực tiếp tuyển chọn với sự giúp đỡ của bên XKLĐ.
- Trách nhiệm vận chuyển
Để tới được nơi làm việc, NLĐ phải trải qua ba chặng đường:
Từ địa điểm tập trung trong nước đến sân bay nội địa.
Từ sân bay nội địa tới sân bay nước tiếp nhận lao động
Từ sân bay nước tiếp nhận lao động tới địa điểm làm việc.
Nội dung của chặng 1 do bên XKLĐ chịu trách nhiệm, nội dung chặng 3 do bên tiếp
nhận lao động chịu, nội dung chặng 2 là đối tượng của đàm phán.
Ngoài ra còn một số điều khoản khác:
- Điều kiện bất khả kháng.
- Tranh chấp, khiếu nại, trọng tài xử lý.
- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
- Các điều khoản bổ sung: Điều khoản bắt buộc, chấm dứt hợp đồng.
SV: Đỗ Thị Quyên 13 Lớp 42A4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

 Nguyên tắc ký kết hợp đồng cung ứng lao động.
Hợp đồng cung ứng lao động được ký kết dựa trên sự bình đẳng tự nguyện giữa
các bên. Không bên nào được ép buộc bên nào.
Phải dựa trên nguyên tắc thỏa thuận song phương.
Hợp đồng được ký phải tuân thủ pháp luật của nhà nước Việt Nam và nước tiếp
nhận lao động.
2.4.5 Tổ chức thực hiện hợp đồng
2.4.5.1 Xin giấy phép thực hiện hợp đồng
Hợp đồng cung ứng lao động phải được đăng ký với Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội. Nó có hiệu lực sau khi được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chấp thuận.
Hồ sơ đăng ký Hợp đồng cung ứng lao động bao gồm:
+ Văn bản đăng ký Hợp đồng cung ứng lao động của doanh nghiệp dịch vụ;
+ Bản sao Hợp đồng cung ứng lao động, có bản dịch bằng tiếng Việt;

Đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề và các điều
kiện khác theo yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động;
Được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng kiến thức cần thiết;
Không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam, và
cấm nhập cảnh của nước tiếp nhận lao động.
- Trước khi tuyển chọn lao động, DN phải thông báo công khai tại trụ sở và địa bàn
tuyển chọn các yêu cầu về giới tính, độ tuổi, công việc mà NLĐ sẽ đảm nhiệm, nơi là việc
và thời hạn của hợp đồng, điều kiện làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền công, các
khoản và mức phí đóng góp, quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ.
- DN trực tiếp tuyển chọn lao động. Chậm nhất sau 5 ngày kể từ ngày NLĐ dự
tuyển, DN phải thông báo kết quả công khai cho NLĐ. Sau 6 tháng kể từ ngày trúng
tuyển, DN chưa đưa NLĐ đi được thì phải thông báo rõ lý do cho NLĐ biết. DN ký hợp
đồng với bệnh viện do ngành y tế quy định để khám sức khỏe cho NLĐ. DN chỉ được
tuyển chọn những người có đủ sức khỏe theo kết luận của bệnh viện
- Doanh nghiệp chỉ được phép tuyển dụng sau khi nhận được sự đồng ý của Bộ lao
động thương binh xã hội về kết quả đồng ý đăng ký hợp đồng cung ứng lao động của DN.
DN không được tuyển lao động sang những ngành nghề và khu vực cấm hay nguy hiểm
cho người lao động.
2.4.5.3 Đào tạo và giáo dục định hướng lao động
Đào tạo lao động xuất khẩu: Là quá trình học tập làm cho người lao động có thể
thực hiện được chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn đối với công việc của họ sẽ đảm
nhiệm khi đi làm việc ở nước ngoài - Bộ luật lao động.
Đây là yêu cầu bắt buộc, nó giúp người lao động vững vàng hơn về công việc của
mình, giúp họ làm việc có hiệu quả hơn.
Nội dung của đào tạo LĐXK là:
 Đào tạo nghiệp vụ: Đây là việc dạy cho người lao động những kiến thức cơ
bản về công việc mà họ sẽ làm khi sang bên nước ngoài. Đào tạo cho họ các nghiệp vụ,
quy trình khi tiến hành công việc.
Thời gian tiến hành đào tạo nghiệp vụ từ khi người lao động được tuyển, nó kéo
dài khoảng 2- 3 tháng tùy thuộc vào công việc.

công ty tiến hành lập hồ sơ của họ và gửi cho đối tác nước ngoài để họ thẩm định, lựa
chọn. Hồ sơ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài gồm có:
- Đơn đi làm việc ở nước ngoài;
- Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường
trú hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người lao động và nhận xét về ý thức chấp hành
pháp luật, tư cách đạo đức;
- Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp;
- Văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ, chuyên môn, tay nghề và chứng chỉ bồi dưỡng
kiến thức cần thiết;
- Giấy tờ khác theo yêu cầu của bên tiếp nhận lao động.
2.4.6 Tổ chức xuất khẩu lao động.
SV: Đỗ Thị Quyên 16 Lớp 42A4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các yêu cầu về số lượng cũng như chất lượng của lao
động, DN tiến hành đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài. Các công việc cần
thực hiện:
- Xin giấy phép XKLĐ: Theo quy định hiện hành, việc XKLĐ phải được Bộ
LĐTB& XH chấp thuận. Mỗi hợp đồng XKLĐ phải được xem xét kỹ lưỡng trước khi
được cấp “ giấy phép đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài”. Giấy phép này là
cơ sở để các DN XKLĐ làm hộ chiếu cho NLĐ.
- Làm thủ tục hộ chiếu, xin thị thực xuất cảnh: Đây là một khâu chiếm nhiều thời
gian trong quá trình chuyển giao NLĐ. Hiện nay, theo quy định mới việc cấp hộ chiếu và
thị thực xuất cảnh cho đối tượng lao động do Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ nội vụ thực
hiện, công việc này chiếm 20- 25 ngày.
- Tổ chức đưa NLĐ ra sân bay: DN XKLĐ phải chịu trách nhiệm và chi phí cho
NLĐ đi từ nơi tập trung ra sân bay. Để tránh việc NLĐ nhầm địa điểm, chậm giờ, thất lạc
hành lý…Công ty nên thuê phương tiện trở NLĐ và có thể cho NLĐ mặc áo đồng phục
của công ty…
2.4.7 Quản lý lao động.

gây tổn thất cho doanh nghiệp và đối tác thì công ty tiến hành khấu trừ vào khoản tiền của
họ, thậm chí có thể phải bắt người lao động bồi thường thiệt hại do họ gây ra.
Sơ đồ 2.1 Quy trình thực hiện XKLĐ
SV: Đỗ Thị Quyên 18 Lớp 42A4
Chính phủ nước ngoài
DN sử dụng lao động
nước ngoài
Ký hiệp định hợp
tác XKLĐ
Chính phủ Việt Nam
DN XKLĐ Việt Nam Tìm kiếm thị
trường, đối tác
Ký thỏa thuận hợp tác 2 bên
Ký hợp đồng cung ứng lao
động
Tuyển lao động
Đào tạo giáo dục định hướng
Tổ chức khám tuyển, thi tuyển
Tổ chức đưa đi XKLĐ
Quản lý lao động
Trao đổi và tiếp nhận lao động về nước
Thanh lý hợp đồng
Tái xuất lao động được ra hạn hợp đồng
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng xuất khẩu
lao động tại công ty cổ phần đầu tư tổng hợp Hà Nội.
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu hoạt động XKLĐ tại công ty.
3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu.
3.1.1.1 Phương pháp đánh giá qua bảng hỏi.

thu được kết quả tốt nhất.
3.1.1.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin, dữ liệu cơ bản từ các nguồn nghiên cứu chính thống có liên
quan đến XKLĐ. Các số liệu được thu thập trong khoảng thời gian 10 trở lại đây, đặc biệt
là các năm 2008- đầu năm 2010. Các dữ liệu này phục vụ cho việc viết chương 2 + 3. Quá
trình tìm hiểu và thu thập số liệu thứ cấp này rất quan trọng, bởi nó sẽ ảnh hưởng tới các
đánh giá nhận xét thực trạng hoạt động XKLĐ, có liên quan đến các giải pháp trong
chương 4 của luận văn.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau:
- Các loại sách, giáo trình chính thống ( ĐH Thương Mại, ĐH Kinh tế quốc dân,
NXB Lao động xã hội…)
- Các báo, tạp chí chuyên ngành; các tạp chí có nội dung liên quan.
- Các luận văn, chuyên đề có nội dung liên quan.
SV: Đỗ Thị Quyên 20 Lớp 42A4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

- Các văn bản pháp luật: Bộ luật lao động; Luật người lao động đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài theo hợp đồng lao động, các nghị quyết, thông tư liên quan…
- Các báo cáo của Bộ lao động thương binh xã hội, các báo cáo của công ty cổ phần
đầu tư tổng hợp Hà Nội.
- Các thông tin, bài viết trên các Website…
3.1.2 Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
3.1.2.1 Phương pháp so sánh thống kê
Phương pháp này phản ánh việc lựa chọn sắp xếp các số liệu thu thập được từ các
nguồn khác nhau vào trong một tiêu chí nhất định. Sau đó tiến hành so sánh các số liệu đó
với nhau để đưa ra các nhận xét của mình về đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp so sánh thống kê giúp cho ta có cái nhìn tổng quan về tình hình đối
tượng nghiên cứu thông qua việc so sánh các số liệu với nhau.
3.1.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp.
Phương pháp phân tích tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các dữ liệu, thông tin từ

nhập của người dân, tính hấp dẫn của các việc làm trong nước. Bởi khi nền kinh tế trong
nước phát triển, cơ hội việc làm tăng với mức thu nhập cao ổn định, thì người lao động
không nhất thiết phải tham gia XKLĐ. Khi đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động XKLĐ của
công ty.
Tất cả các yếu tố này đều có những ảnh hưởng nhất định tới việc hoạch định và
triển khai chiến lược kinh doanh của DN.
Một ví dụ cụ thể cho thấy tác động của yếu tố này tới hoạt động XKLĐ của công ty,
đó là sự suy giảm kinh tế năm 2008, đã làm cho cầu lao động của hầu hết các thị trường
đều giảm mạnh, dẫn đến việc ngưng trệ của hoạt động XKLĐ trong những tháng cuối
năm 2008 và đầu 2009.
 Yếu tố văn hóa xã hội ( của nước tiếp nhận lao động)
Đối với hoạt động XKLĐ thì việc am hiểu văn hóa của nước sở tại là vô cùng quan
trọng, nó có ảnh hưởng đến kết quả công việc của người lao động. Yếu tố văn hóa bao
gồm: Các giá trị xã hội, các văn hóa truyền thống, nối sống, tôn giáo và cơ cấu dân cư.
Một doanh nghiệp khi chuẩn bị cung cấp dịch vụ đưa người lao động ra nước ngoài
làm việc thì DN đó phải tìm hiểu về dân số lao động trong nước, lực lượng lao động ra
sao, có khả năng đáp ứng được nhu cầu việc làm hay không. Tiếp đến là tìm hiểu về văn
hóa xã hội của nước tiếp nhận lao động, các văn hóa truyền thống trong hoạt động kinh
doanh, những điều nên làm và không nên làm. DN cần chú ý tới các yếu tố văn hóa vùng
miền trong một đất nước.
Trong việc giáo dục định hướng cho người lao động trước khi ra nước ngoài làm
việc, DN cần phải giới thiệu cụ thể cho họ hiểu về văn hóa của nước đó, các quan hệ ứng
xử trong công việc, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới công việc của họ. Đặc biệt cần quan
tâm tớ yếu tốn tôn giáo, nên tránh vi phạm vào các điều cấm của tôn giáo.
 Yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, đất đai,
sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển, sự
trong sạch của môi trường nước, không khí, .Tác động của các điều kiệu tự nhiên đối
với các quyết sách trong kinh doanh từ lâu đã được các doanh nghiệp quam tâm. Trong
rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để

thuận lời cho DN thực hiện các mục tiêu của mình. Một chính phủ mạnh, thực thi hữu
hiệu các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, sẽ là môi trường thuận lợi để DN yên tâm
đầu tư cho hoạt động kinh doanh. Trong xã hội ổn định về chính trị, rủi ro chính trị thấp
thì sẽ thu hút được sự đầu tư của các DN.
 Yếu tố khoa học kỹ thuật
Đây là yếu tố năng động và luôn luôn có sự biến động. Những áp lực và đe dọa từ
môi trường công nghệ có thể là: sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường
ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe dọa các sản phẩm truyền thống của
ngành hiện hữu. Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện tại bị lỗi thời và
tạo ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng
cạnh tranh. Sự ra đời của công nghệ mới làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanh nghiệp
SV: Đỗ Thị Quyên 23 Lớp 42A4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại

hiện có trong ngành. Sự bùng nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời công nghệ có
xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắn thời gian khấu
hao so với trước.
Đối với hoạt động XKLĐ, khoa học công nghệ thể hiện sự tác động qua:
- Công tác đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động. DN sẽ áp dụng các
phương pháp hiện đại để đạt hiệu quả tốt hơn.
- Thực tế cho thấy, các nước tiếp nhận lao động nước ngoài đều là những nước có
nề kinh tế phát triển, họ áp dụng nhanh chóng các thành tựu của KHCN vào trong sản
xuất với máy móc thiết bị hiện đại. Vì vậy, các đòi hỏi của họ với công nhân cũng ngày
càng cao, người lao động phải biết sử dụng các máy móc, biết vận hành các dây truyền
sản xuất hiện đại. Đây là điều mà mỗi DN XKLĐ đều phải quan tâm để đào tạo cho lao
động của mình sao cho đáp ứng tốt các đòi hỏi của họ.
Hiện nay, lao động của chúng ta vẫn còn yếu về trình độ và tay nghề. Nhược điểm
này cần được khắc phục trong thời gian sớm nhất, có như vậy mới nâng cao chất lượng
của lao động XK Việt Nam.
- Công tác quản lý người lao động trong nước cũng như nước ngoài sẽ được hiệu

được. Nó quyết định tới hiệu quả hoạt động của công ty.
Việt Nam có nguồn lao động khá dồi dào: dân số Việt Nam đông, đứng thứ 14 trong
những nước đông dân nhất trên thế giới, tốc độ tăng dân số năm 2005 là 1,35%. Hàng
năm, lực lượng lao động được bổ sung hơn 1 triệu người. Nguồn lao động Việt Nam có
các phẩm chất quý giá, đó là cần cù, chịu khó, thông minh, khéo léo…Tuy nhiên chất
lượng nguồn lao động của Việt nam còn thấp. Khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị
trường, nguồn lao động Việt Nam không chỉ yếu kém về chuyên môn, kỹ thuật, công
nghệ, mà còn yếu kém cả về tác phong và kỷ luật lao động, trình độ tổ chức quản lý…
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả lao động trong nước mà nó còn là rào cản
lớn khi người lao động ra nước ngoài làm việc.
Chất lượng và số lượng nguồn lao động của DN khi tham gia vào XKLĐ mà đảm
bảo được các yêu cầu của đối tác thì không chỉ có DN mà người lao động cũng có lợi. Nó
làm giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh, tạo uy tín cho DN và người lao động Việt
Nam, đồng thời có được các khoản thu nhập cao. Nếu người lao động không có trình độ
chuyên môn, ý thức kỷ luật kém, thường xuyên bỏ trốn…thì rất nguy hiểm cho bản thân
họ, đồng thời còn tăng chi phí do vi phạm hợp đồng, mất uy tín của DN
 Đối tác của DN- các nước sử dụng lao động mà công ty muốn đặt quan hệ.
Đây là các đối tác sử dụng lao động tại nước ngoài, cũng giống như nguồn cung lao
động trong nước, các đối tác này có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định
chiến lược XKLĐ của DN. Các nước này sẽ xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động của
nước mình để đưa ra mức cầu nhất định cho nước XKLĐ và các DN trong nước thông
qua việc thu thập các dữ liệu: nhu cầu tuyển dụng, yêu cầu tuyển dụng, các chính sách,
pháp luật của của nước đối tác mà DN sẽ căn cứ để xây dựng kế hoạch hoạt động của
mình. Nếu các nước đối tác có các yếu tố thuận lợi mà DN có khả năng đáp ứng được thì
sẽ tạo đà cho DN xúc tiến hoạt động của mình. Ngược lai, nước đối tác mà có những bất
kỳ một rào cản nào, hoặc họ gặp khó khăn về kinh tế thì đều ảnh hưởng đến việc XKLĐ
của DN.
3.2.3 Các yếu tố nội tại
Là những yếu tố thuộc về bản thân tổ chức, bên trong doanh nghiệp. Các yếu tố này
sẽ cho DN biết điểm mạnh, điểm yếu của mình. Qua đó sẽ phát huy điểm mạnh và có các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status