Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Thương mại quốc tế (TMQT) đóng một vai trò rất quan trọng vào sự
thành công của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày nay
không có một quốc gia nào có thể thực hiện một chính sách đóng cửa mà
vẫn phồn vinh được. Trong bối cảnh đó TMQ`T đóng vai trò mũi nhọn thúc
đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới đặc biệt là hoạt
động xuất khẩu. Chỉ thông qua hoạt động chúng ta mới có thể phát huy hết
lợi thế so sánh của mình, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đồng thời
mở rộng giao lưu văn hoá, xã hội, có cơ hội tiếp xúc và học hỏi kinh nghiệm
khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới.
Trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thì mặt hàng
nông sản đã và đang tạo ra nhiều công ăn việc làm, tận dụng lợi thế so sánh
một cách có hiệu quả. Hiện nay sau lúa gạo, cà phê là mặt hàng xuất khẩu
chủ lực đứng thứ hai của Việt Nam, mỗi năm đem lại cho đất nước 19 - 20%
tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu.
Công ty xuất nhập khẩu (XNK) INTIMEX là một công ty XNK tổng
hợp. Những năm trước đây công ty chủ yếu là nhập khẩu. Nhưng hiện nay
công ty đang chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu. Trong các mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu của công ty thì cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Tuy
mới tham gia xuất khẩu cà phê từ năm 1997, song cà phê đã dần dần khẳng
định được vị trí của mình trong các mặt hàng xuất khẩu của công ty. Năm
1999 giá trị kim ngạch xuất khẩu (KNXK) cà phê mới là 3.546.698USD
chiếm 6,5% tổng KNXK thì đến năm 2001 giá trị KNXK cà phê đã là
27.203.293USD chiếm 52,1% tổng KNXK của công ty và đến năm 2002 giá
trị kim ngạch xuất khẩu là 37.654.028 USD chiếm 56,21%tổng kim ngạch
xuất khẩu. Đây là một thành quả mà công ty đã đạt được. Tuy nhiên trong
tình hình khó khăn hiện nay, cà phê biến động thất thường giá cả không ổn
định, hoạt động xuất khẩu cà phê đã đạt được những thành quả cao song vẫn
còn tồn tại những yếu kém : nghiên cứu thị trường còn kém, hoạt động thu
mua chưa tốt, thiếu vốn lượng thông tin không đầy đủ kịp thời. Vì vậy mà
ngoài trên cơ sơ tiền tệ (Hoạt động xuất khẩu bao gồm cả việc kinh doanh
trong các khu chế xuất, khu công nghiệp).
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện trên cơ sở các mối quan hệ xã hội
và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất
hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Kinh doanh xuất khẩu dựa trên cơ sở phân công lao động và chuyên
môn hoá quốc tế, dựa trên sự so sánh của từng quốc gia. Lý thuyết lợi thế so
sánh của David Ricardo, học thuyết Hecksher – Ohlin, lý thuyết lợi thế tuyệt
đối của Adam Smith đã chứng minh rõ về lợi ích của các quốc gia khi tham
gia TMQT nói chung và tham gia hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Xuất khẩu có vị trí quan trọng trong sự phát triển và tăng trưởng kinh tế
cuả mỗi quốc gia. Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng đối với những nước
đang phát triển như Việt Nam.
2.Một số lý thuyết về thương mại quốc tế
2.1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Theo Adam Smith một nước chỉ sản xuất các loại hàng hoá sử dụng tốt
nhất các loại tài nguyên của nó. Tư tưởng lợi thế tuyệt đối được Adam
Smith viết trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc ”. Ông cho rằng lợi ích
TMQT mang lại cho các quốc gia bắt nguồn từ nguyên tắc phân công. Ông
cho rằng chuyên môn hoá, tiến bộ kỹ thuật và đầu tư là những động lực của
phát triển kinh tế. Ông đã chứng minh rằng trao đổi hàng hoá đã giúp cho
các nước tăng giá trị tài sản của mình, trên nguyên tắc phân công quốc tế.
Ông cho rằng mỗi quốc gia cần tiến hành chuyên môn hoá sản xuất những
ngành hàng có “lợi thế tuyệt đối ” tiêu chuẩn của ngành cần chuyên môn hoá
đó là những điều kiện tự nhiên về địa lý và khí hậu chỉ có ở các nước đó.
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
3
Luận văn tốt nghiệp
Từ lý thuyết trên của Adam Smith suy ra rằng mọi người đều có lợi
ích, khi tập trung sản xuất để trao đổi các sản phẩm chuyên môn hoá có lợi
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
4
Luận văn tốt nghiệp
- Đầu tư nước ngoài (bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp ), vay nợ, các nguồn viện trợ.
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ.
- Thu từ xuất khẩu
Trong các nguồn viện trợ trên nguồn quan trọng nhất đó là xuất khẩu.
Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu. Ở nước
ta thời kỳ 1986- 1990 nguồn thu về xuất khẩu chiếm 3/4tổng nguồn thu
ngoại tệ , năm 1994 thu về xuất khẩu đã đảm bảo 80% về nhập khẩu so với
24,6% năm 1986 và xu hướng năm sau kim ngạch xuất khẩu đều tăng hơn
năm trước. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát
triển là do thiếu tiềm năng về vốn, do đó nguồn từ bên ngoài được coi là
nguồn vốn chủ yếu. Nhưng mọi cơ hội về đầu tư hay vay nợ nước ngoài, chỉ
tăng khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu của
nước đó. Vì vậy xuất khẩu là nguồn vốn chủ yếu để việc trả nợ thành hiện
thực.
3.1.2.Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế
hướng ngoại.
Thay đôỉ cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất, đó là thành
quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá ở nước ta, là phù hợp với xu
hướng nền kinh tế thế giới. Sự tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể được nhìn nhận theo các hướng sau:
- Xuất khẩu những sản phẩm của nước ta cho nước ngoài.
- Xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới, để tổ chức sản xuất và
xuất khẩu những sản phẩm mà các nước khác cần. Điều đó có tác động tích
cực tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát triển
3.2.Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Kinh doanh xuất khẩu cũng chính là một hoạt động kinh doanh quốc tế
đầu tiên của doanh nghiệp. Mọi doanh nghiệp luôn hướng tới hoạt động xuất
khẩu những sản phẩm và dịch vụ của công ty ra nước ngoài. Xuất khẩu còn
tồn tại ngay cả khi công ty đã thực hiện các hình thức cao hơn trong kinh
doanh. Có nhiều nguyên nhân khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện
hoạt động xuất khẩu các nguyên nhân đó có thể là :
- Sử dụng khả năng vượt trội ( hoặc những lợi thế ) của công ty
- Giảm được chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lượng sản
xuất ( tính kinh tế nhờ quy mô )
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
6
Luận văn tốt nghiệp
- Nâng cao được lợi nhuận của công ty.
- Giảm được rủi ro , tối thiểu hoá được nhu cầu.
- Thông qua các hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ
hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới. Qua đó có động
lực, điều kiện để phát triển kỹ thuật công nghệ, phát triển hệ thống kênh
phân phối .
- Xuất khẩu đảm bảo cho các doanh nghiệp luôn tăng cường kỹ năng quản
lý, đặc biệt là kỹ năng quản lý hoạt động xuất khẩu, bán hàng trên thị
trường thế giới, quản lý dự án và những xu hướng biến động của tỷ giá
hối đoái.
- Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp nhập khẩu máy móc,
thiết bị tái đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư cho nghiên
cứu phát triển, marketing ...
- Sản xuất hàng xuất khẩu còn giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao
động vào làm việc, tạo thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên, tăng
khả năng quay vòng vốn nhanh, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
II.NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
dễ, nhanh, rẻ...
* Những vấn đề nghiên cứu thị trường
- Nghiên cứu cung, cầu thị trường
+ Nghiên cứu cung thị trường:
o Số lượng hàng hoá cung ứng trên thị trường
o Có bao nhiêu người cung ứng loại hàng hoá như doanh nghiệp
o Chu kỳ sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường
o Từ đó doanh nghiệp xác định được khối lượng hàng hóa cung
ứng ra thị trường và có kế hoạch sản xuất phù hợp.
+ Nghiên cứu cầu thị trường.
o Thống kê số lượng khách hàng có khả năng mua
o Số lượng mua bình quân/một khách hàng
o Nhịp độ mua
Qua nghiên cứu những nội dung trên doanh nghiệp biết được dung
lượng của thị trường.
- Nghiên cứu phân tích những điều kiện của thị trường
o Điều kiện về quy chế pháp lý: quy chế về giá, quy chế về những hoạt
động thương mại, hạn ngạch, chuyển tiền về nước...
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
8
Luận văn tốt nghiệp
o Điều kiện về tài chính: thuế quan, chi phí vận chuyển, bảo hiểm vận
chuyển, giá thành xuất khẩu, thay đổi tỷ giá hối đoái ...
o Điều kiện về kỹ thuật: vận chuyển, lưu kho, tiêu chuẩn sản phẩm, khả
năng sản xuất của doanh nghiệp.
o Điều kiện về con người, tâm lý, những điều cấm kỵ về xã hội và văn
hoá, khả năng trình độ của nhân viên, trình độ ngoại ngữ...
- Nghiên cứu về giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới.
+ Giá quốc tế có tính chất quyết định đối với một loại hàng hoá nhất
định trên thị trường thế giới. Giá đó được dùng trong giao dịch ngoại
Bước 5 : Sơ bộ đánh giá kết quả kinh doanh của việc kinh doanh. Hiệu
quả kết quả của hoạt động kinh doanh, chủ yếu được đánh giá thông qua các
chỉ tiêu : Tỷ suất ngoại tệ, thời gian hoàn vốn, tỷ xuất doanh lợi...Doanh
nghiệp phải xem xét kỹ các chỉ tiêu trên, để đảm bảo cho phương án kinh
doanh lập ra có hiệu quả.
3.Công tác tạo nguồn hàng
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một công ty, một địa
phương, một vùng, hoặc toàn bộ đất nước có khả năng và đảm bảo xuất
khẩu được, nghĩa là nguồn hàng cho xuất khẩu phải đảm bảo các tiêu chuẩn
về chất lượng quốc tế .
Tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là toàn bộ các hoạt động từ đầu tư đến
sản xuất, kinh doanh cho đến các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, ký kết
hợp đồng, vận chuyển bảo quản, sơ chế, phân loại, nhằm tạo ra hàng hoá có
đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu. Như vậy công tác tạo nguồn hàng
cho xuất khẩu có thể được chia thành các hoạt động chính.
- Loại những hoạt động sản xuất và tiếp tục sản xuất hàng hoá cho
xuất khẩu. Đối với những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu thì
hoạt động này là cơ bản và quan trọng nhất.
- Là những hoạt động nghiệp vụ công tác tạo ra nguồn hàng cho xuất
khẩu thường do các tổ chức ngoạ thương làm chức năng trung gian cho
xuất khẩu hàng hóa.
4.Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu
4.1.Giao dịch đàm phán trong hoạt động xuất khẩu
Giao dịch đàm phán trong hoạt động xuất khẩu, là một quá trình trong
đó diễn ra sự trao đổi, bàn bạc giữa các doanh nghiệp ngoại thương và khách
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
10
Luận văn tốt nghiệp
hàng nước ngoài, về các điều kiện mua bán, một loại hàng hoá để đi đến
thoả thuận nhất trí giữa hai bên .
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
11
Luận văn tốt nghiệp
- Bước 4 : Xác nhận
Xác nhận là sự chấp nhận bằng văn bản, mà hai doanh nghiệp và khách
hàng đã bàn về các điều kiện trong các đơn chào hàng sau khi đã trải qua sự
hoàn giá.
♦ Các hình thức đàm phán
- Đàm phán giao dịch qua thư điện .
Ngày nay thư chào hàng điện tử vẫn là phương tiện chủ yếu, để tiến
hành giao dịch, giữa những người xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc ban
đầu, thường qua thư từ, sau này khi hai bên có điều kiện gặp gỡ trực tiếp thì
việc duy trì quan hệ cũng phải qua thư tín thương mại .
- Hội chợ thương mại
Thông qua hội chợ thương mại, công ty đã tạo lập được những cuộc
gặp gỡ trực tiếp với khách hàng, đây là một phương thức hữu hiệu, để công
ty tạo lập mối quan hệ với khách hàng. Qua hội chợ công ty thu thập những
thông tin phản hồi trực tiếp từ phía các nhà nhập khẩu, các nhà nhập khẩu
trong tương lai
4.2.Ký kết hợp đồng
Hợp đồng xuất khẩu là loại hàng xuất khẩu mua bán đặc biệt, trong đó
người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu một loại hàng hoá nhất định,
với một khối lượng cụ thể cho người mua, còn người mua có nghĩa vụ trả
cho người bán một khoản tương đương với gía trị lô hàng bằng một phương
thức thanh toán nào đó.
Về thực chất hợp đồng xuất khẩu là một thoả thuận, về các điều kiện
mua bán hàng hóa như: tên hàng , khối lượng hàng, chất lượng, giá cả, điều
kiện giao hàng, điều kiện thanh toán ... giữa các doanh nghiệp và các khách
hàng cụ thể. Những thoả thuận này, được thể hiện bằng các hình thức văn
bản nhất định.
Ký kết hợp
đồng XK
Kiểm tra
L/C
Xin giấy
phép XK
Chuẩn bị
hàng hoá
Thuê tàu
Kiểm tra
hàng hoá
Làm thủ tục
hải quan
Giao hàng
lên tàu
Làm thủ tục
thanh toán
Giải quyết
khiếu nại
Luận văn tốt nghiệp
5.2.Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu
Thu gom tập trung thành lô hàng xuất khẩu : Doanh nghiệp tiến
hành thu gom hàng hóa từ nhiều chân hàng. Cơ sở để tiến hành thu gom
hàng hoá là hợp đồng kinh tế được ký kết giữa doanh nghiệp và chân hàng.
Đóng gói bao bì xuất khẩu: Việc đóng gói bao bì căn cứ theo yêu cầu
trong hợp đồng đã ký kết, nó có ý nghĩa rất quan trọng, với quá trình kinh
doanh bao bì vừa phải đảm bảo chất lượng của hàng hoá, vừa thuận tiện cho
quá trình vận chuyển bốc xếp hàng hoá, tạo ấn tượng và làm cho người mua
có cảm tình với hàng hoá của doanh nghiệp.
Kẻ ký mã hiệu hàng hoá xuất khẩu : Ký hiệu bằng chữ hay số, hình
hải quan. Thủ tục hải quan là công cụ của nhà nước về quản lý các hành vi
buôn bán XNK theo pháp luật .
* Các bước tiến hành.
- Khai báo hải quan: Chủ hàng có trách nhiệm kê khai đầy đủ các chi tiết về
hàng hoá một cách trung thực và chính xác lên tờ khai để cơ quan kiểm tra
thuận tiện theo dõi.
- Xuất trình hàng hoá và nộp thuế: Hàng hoá xuất khẩu phải được xắp xếp
một cách trật tự thuận tiện cho việc kiểm soát.
- Thực hiện các quyết định của hải quan: Đây là công đoạn cuối cùng của
quá trình hoàn thành thủ tục hải quan. Đơn vị xuất khẩu có nghĩa vụ thực
hiện một cách nghiêm túc các quy định của hải quan đối với lô hàng cho
phép xuất khẩu hoặc không cho phép xuất khẩu.
5.7.Giao hàng lên tàu.
Thực hiện các điều kiện giao nhận hàng trong hợp đồng xuất khẩu đến
thời gian giao hàng doanh nghiệp phải làm thủ tục giao nhận hàng. Nếu việc
vận chuyển bằng đường biển thì thực hiện các công đoạn sau:
- Lập bảng đăng ký hàng chuyên chở căn cứ vào các chi tiết hàng xuất
khẩu
- Xuất trình bảng đăng ký chuyên chở cho người vận tải để nhận sơ đồ
xếp hàng.
- Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ giao hàng.
5.8.Làm thủ tục thanh toán.
- Tiền tệ thanh toán
- Tỷ giá hối đoái
- Thời hạn thanh toán
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
15
Luận văn tốt nghiệp
- Phương thức thanh toán
- Điều kiện đảm bảo hối đoái
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
16
Luận văn tốt nghiệp
giữa doanh nghiệp và người mua hàng. Nhiệm vụ của khách hàng là phải
củng cố niềm tin với khách hàng truyền thống. Đánh giá việc thực hiện hợp
đồng sẽ đem lại nhiều lợi ích, kinh nghiêm bổ ích cho các hợp đồng xắp tới.
III.YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT
ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP.
1.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh
nghiệp
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một môi
trường kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh là không thể thiếu đối
với doanh nghiệp, nó tạo tiền đề, những thuận lợi cũng như những khó khăn
trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp kinh
doanh XNK, môi trường kinh doanh đặc biệt quan trọng bởi kinh doanh
TMQT phức tạp hơn kinh doanh thương mại trong nước.
1.1.Chính sách kinh tế vĩ mô.
Các nước khác nhau có chính sách thương mại khác nhau thể hiện ý trí
và mục tiêu của nhà nước trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động
TMQT có liên quan tới nền kinh tế đất nước. Các chính kinh tế vĩ mô có ảnh
hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp.
1.1.1.Thuế quan
Thuế là số tiền nào đó đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu hoặc
nhập khẩu, tính theo tỷ lệ phần trăm đối với tổng khối lượng hàng hoá XNK
hay kết hợp cả hai cách trên.
Việc tính thuế nhập khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất
khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại. Thuế khiến cho một phần kinh doanh của doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu được chuyển vào tay nhà nước, nhưng trong
xu hướng tự do hoá hiện nay việc đánh thuế xuất khẩu sẽ giảm dần.
kinh tế khác biệt của nước nhập khẩu. Việc nhà nhập khẩu thâm nhập vào
thị trường các nước nhập khẩu dễ dàng hay khó khăn phụ thuộc vào mối
quan hệ kinh tế chính trị, luật pháp giữa các nước.
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
18
Luận văn tốt nghiệp
Trong xu thế toàn cầu và tự do hoá thương mại, việc tham gia các tổ
chức thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định song phương và
đa phương sẽ là một hoạt động xuất khẩu của nước mình.
1.3.Các yếu tố liên quan đến thị trường nước ngoài
1.3.1.Môi trường văn hoá của nước nhập khẩu.
Môi trường văn hóa có ảnh hưởng rất lớn đến thị hiếu, phong cách tiêu
dùng của khách hàng. Ngoài ra nó còn ảnh hưởng tới thói quen quản lý, thói
quen kinh doanh và phong cách sử dụng trong kinh doanh. Mỗi quốc gia đều
có phong tục tập quán những quy tắc, những điều cấm kị riêng của mình. Để
hoạt động xuất khẩu không bị thất bại, nhà xuất khẩu phải nghiên cứu kỹ
xem những người mua ở nước ngoài chấp nhận mặt hàng này hay mặt hàng
kia như thế nào và họ sử dụng chúng ra sao. Để thích nghi được với môi
trường nước ngoài, nhà xuất khẩu phải tạo ra được những cơ sở cho việc
hành động để đạt được mục đích. Sự thích nghi này phải được xây dựng trên
cơ sở : có những hiểu biết ban đầu về nước đó, có khả năng tự hoà nhập bản
thân với môi trường, linh hoạt trong môi trường văn hoá khác biệt, có sự
quan tâm đến thị trường đó, có khả năng tự điều chỉnh...
1.3.2.Các yếu tố cung trên thị trường thế giới
Sự biến động cung cầu trên thị trường thế giới, có ảnh hưởng trực tiếp
tới hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở trong nước, nhất là đối với những nước
có quy mô nhỏ như Việt Nam. Xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá của
nước mình ra thị trường nước ngoài, việc xuất khẩu hàng hóa không thể diễn
ra ở một thị trường nhất định mà nó diễn ra ở nhiều nước trên thế giới. Tình
hình biến động cung cầu trên thị trường thế giới sẽ ảnh hưởng tới biến động
Đối với doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu, thông qua hệ thống
thu mua xuất khẩu chủ động được nguồn hàng, chủ động và ổn định trong
kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hàng hoá xuất khẩu, uy tín
của doanh nghiệp.Kinh nghiệm cho thấy các doanh nghiệp kinh doanh hàng
xuất khẩu không phải chỉ có vốn lớn mà còn có hệ thống chân hàng mạnh,
hệ thống thu mua rộng khắp hoạt động thường xuyên bám sát thị trường.
1.4.3.Khả năng nắm bắt và sử lý thông tin của cán bộ kinh doanh của
doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh hiện nay thông tin đóng một vai trò quan
trọng, có nắm bắt và sử lý thông tin một cách nhanh nhạy, chính xác kịp thời
mới có thể đề ra chiến lược kinh doanh hợp lý. Thị trường là yếu tố quan
trọng góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Đối với cán bộ kinh doanh
trong doanh nghiệp việc trau dồi kiến thức về nghiệp vụ và khả năng sử
dụng ngoại ngữ trong kinh doanh có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp.
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
20
Luận văn tốt nghiệp
1.4.4.Chủng loại, chất lượng hàng hoá xuất khẩu của doanh nghiệp
Việc lựa chọn chủng loại hàng hoá xuất khẩu của doanh nghiệp có ảnh
hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, phải lựa chọn loại hàng
hoá nào đang được người tiêu dùng ưa chuộng và vấn đề được nhiều nhà
xuất khẩu quan tâm nó cũng chiếm một vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy
xuất khẩu của doanh nghiệp.
1.4.5.Mối quan hệ bạn hàng và uy tín của doanh nghiệp.
Mối quan hệ bạn hàng và uy tín của doanh nghiệp ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp .chính nhờ mối quan hệ tốt
với bạn hàng và uy tín đã được thiết lập từ trứơc đó doanh nghiệp có thể
tăng cường mối quan hệ với bạn hàng truyền thống cũng như qua bạn hàng
này mà khách hàng có thể tăng thêm những khách hàng mới nhờ uy tín của
- Chỉ tiêu lợi nhuận trên chi phí
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí =
100x
doanhkinhphÝChi
nhuËnlîiTæng
%
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng chi phí kinh doanh thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
*Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ bỏ ra để xuất khẩu
Hiệu quả của việc xuất khẩu được xác định bằng so sánh số ngoại tệ
thu được do xuất khẩu với chi phí bỏ ra cho việc xuất khẩu hàng hoá đó .
Tỷ suất xuất khẩu =
tÖingongbthuDoanh
tÖnéingbChiphÝ
¹»
»
- Tỷ suất xuất khẩu lớn hơn tỷ giá hối đoái tức là chi nhiều hơn thu dẫn
tới hoạt động kinh doanh không hiệu quả .
- Tỷ suất khẩu nhỏ hơn tỷ giá hối đoái tức là chi ít hơn thu nên hoạt
động kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả.
2.2.Chỉ tiêu định tính
Bên cạnh những chỉ tiêu mang tính định lượng như trên hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp còn được xác định bằng những chỉ tiêu định tính.
Đó chính là mối quan hệ bạn hàng và uy tín trong kinh doanh của doanh
nghiệp. Đây là chỉ tiêu không thể đánh giá được một cách cụ thể, nó thể
hiện việc doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hay không cũng phụ thuộc
nhiều vào mối quan hệ bạn hàng cũng như uy tín của doanh nghiệp.
IV.KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA
VIỆT NAM
1.Vài nét về ngành cà phê Việt Nam
Nam hiện đang là nước xuất khẩu cà phê đứng đầu Châu á và đứng thứ hai
trên thế giới, hàng năm đem lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho đất nước,
phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước, nâng cao đời sống của
nhân dân nói chung cũng như người trồng cà phê nói riêng. Việt Nam đã
ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thị trường quốc tế.
1.2.Quy mô diện tích, sản lượng, năng suất cà phê của Việt Nam
Bảng 1 : Quy mô diện tích, sản lượng, năng suất cà phê của Việt Nam
(Từ 1990 - 2002)
Niên vụ Diện tích (ha) Sản lượng ( tấn ) Năng suất
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
23
Luận văn tốt nghiệp
(tấn/ha)
1990 - 1991 135.500 82.500 0,61
1991 - 1992 135.500 131.400 0,97
1992 - 1993 143.000 145.200 1,02
1993 - 1994 148.800 179.000 1,20
1994 - 1995 164.600 212.450 1,29
1995 - 1996 186.000 235.000 1,26
1996 - 1997 254.000 262.000 1,43
1997 - 1998 296.000 400.000 1,35
1998 - 1999 350.000 420.000 1,20
1999 - 2000 420.000 600.000 1,43
2000 - 2001 520.000 800.400 1,54
2001 - 2002 500.000 900.000 1,8
(Nguồn : Báo cáo hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam)
Qua bảng số liệu trên ta thấy diện tích trồng cà phê của Việt Nam tăng
rất mạnh và còn tiếp tục tăng. Niên vụ 1990 - 1991 Việt Nam mới có diện
tích trồng cà phê là 135.500 ha, nhưng đến niên vụ 2001 - 2002 Việt Nam đã
có tổng diện tích trồng cà phê là 500.000 ha. Như vậy chỉ sau 11 năm diện
Bảng 2 : sản lượng cà phê của những nước sản xuất chính
Đơn vị : Triệu bao
2000 –2001 2001 -2002 2002 - 2003
Barzil 34,1 33,7 46,9
Colombia 10,5 11,0 10,9
Indonesia 6,5 6,0 5,8
Mexico 4,8 4,7 5,3
Việt Nam 15,3 12,3 10,5
Thế giới 117,0 110,7 122,6
(Nguồn : Tài liệu thống kê của tổ chức cà phê thế giới )
Từ bảng số liệu trên ta thấy sản lượng cà phê của Vịêt Nam ngày càng
giảm. Niên vụ 2000 - 2001 đạt sản lượng là 15,3 triệu bao đến niên vụ 2002
-2003 giảm xuống còn 10,5 triệu bao. Như vậy chỉ sau 2 năm sản lượng cà
phê của Việt Nam đã giảm 4,8 triệu bao trong khi đó nước xuất khẩu cà phê
lớn nhất thế giới là Brazil lại tăng 12,8 triệu bao. Điều này chứng tỏ chính
sách của nhà nước là giảm diện tích trồng cà phê vối sang trồng cà phê chè
đang đạt hiệu quả cao, đồng thời tăng cường các biện pháp công nghệ để
giảm sản lượng nhưng về chất lượng lại tăng.
2.Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong thời gian qua
Phạm Thị Huyền Thương mại Quốc tế - 41A
25