Luận văn
Giải pháp thúc đẩy xuất
khẩu lao động Việt Nam sau
gia nhập WTO - Từ thực tế
công ty cổ phần dịch vụ hợp
tác quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
Dưới xu thế toàn cầu hoá, lao động di chuyển từ nước này sang nước
khác đã trở thành hiện tượng khá phổ biến. Tuy không nhộn nhịp như tư bản
và công nghệ, lao động cũng là một yếu tố sản xuất ngày càng phong phú và
năng động. Tuy nhiên, khác với sự di chuyển của lao động trí thức đã có từ
trước, xuất và nhập khẩu lao động giản đơn (unskilled labor, less-skilled
labor) hay lao động chân tay (blue-collar workers) và xuất khẩu lao động tại
chỗ là hiện tượng tương đối mới và phức tạp đối với một nền kinh tế trẻ như
Việt Nam
Không kể thời kỳ quan hệ kinh tế mật thiết với các nước Đông Âu, xuất
khẩu lao động của Việt Nam tăng nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ yếu
sang các nước Đông Á, nhất là Ma-lai-xia, Đài Loan và Hàn Quốc. Gần đây,
thị trường xuất khẩu lao động mở rộng sang Trung Đông, Tây Âu, Mỹ và
Nhật Bản. Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 70.000 lao động được đưa đi
ra nước ngoài.
Thực tiễn một vài năm gần đây lĩnh vực XKLĐ đã góp phần đáng kể
trong vấn đề giải quyết việc làm cho một bộ phận không nhỏ lao động, tạo sự
ổn định cho xã hội, mặt khác mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia,
tăng thu nhập cho người lao động và gia đình họ, XKLĐ đã đứng vào hàng
"Câu lạc bộ những mũi nhọn xuất khẩu đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỉ
USD/năm trở lên".
Bên cạnh những kết quả đạt được đáng khích lệ, hoạt động XKLĐ của
nhập WTO
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động tại công ty cổ phần
dịch vụ hợp tác quốc tế trong những năm tới
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH
VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ ĐÔI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
1.1 . Giới thiệu chung về công ty CP Dịch Vụ Hợp Tác Quốc Tế
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Tên công ty: Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Hợp Tác Quốc Tế.
Tên giao dịch : International Cooperation Service Joint Stock
Company.
Tên viết tắt: CICS. JSC.,
Địa chỉ trụ sở chính: Số 13 ngõ 19 phố Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy,
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Sau 6 năm hình thành và phát triển, với đội ngũ cán bộ có trình độ cao,
tâm huyết với nghề. Công ty đã có những bước tiến mạnh mẽ trong công tác
đào tạo, tư vấn và đưa học sinh cũng như lao động ra nước ngoài học tập và
làm việc, tạo được uy tín cao đối với cả người lao động cũng như đối tác quốc
tế.
Mặc dù thành lập trong quá trình kinh tế thế giới còn khó khăn, nhưng
với kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ lâu năm trong nghề, cộng với hướng đi
đúng đắn của ban lãnh đạo công ty trong công tác đào tạo cán bộ, nghiên cứu
thị trường, tạo dựng lòng tin với đối tác…công ty hằng năm vẫn đào tạo và
đưa người lao động ra nước ngoài đều đặn theo đúng chỉ tiêu đề ra, tạo công
ăn việc làm cho một bộ phần không nhỏ người lao động, góp phần đáng kể
vào công cuộc cải tạo và nâng cao mức sống, trình độ cho người lao động và
xã hội. Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính công ty CP Dịch Vụ Hợp Tác Quốc Tế
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN
TRỊ
BAN TỔNG GIÁM
ĐỐC
PHÒNG
TỔ CHỨC
- HÀNH
CHÍNH
PHÒNG
KẾ TOÁN
– TÀI VỤ
PHÒNG KẾ
HOẠCH –
KINH
DOANH
PHÒNG
ĐÀO TẠO
– NGHIÊN
CỨU
CHI
NHÁNH
HAI BÀ
TRƯNG –
nhiên, các kênh hỗ trợ cho học sinh trong vấn đề này là chưa nhiều, chất
lượng chưa cao. Chính vì vậy mà lĩnh vực tư vấn du học và đào tạo nghề cũng
được công ty chú trọng ngay từ khi mới thành lập.
Với tiêu chí chất lượng và lòng tin được đưa lên hàng đầu, uy tín của
công ty trong lĩnh vực này ngày càng cao. Điều đó thể hiện ở số lượng ngày
càng tăng số học sinh học tập, tu nghiệp ở nước ngoài sau khi qua tư vấn từ
công ty.
Trong những năm tới, công ty đang cố gắng hơn nữa trong công tác đào
tạo và tư vấn của mình để xứng đáng với lòng tin của khách hàng dành cho
công ty.
1.1.3.3 Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là lĩnh vực gắn bó với
công ty ngay từ những ngày đầu thành lập.
Mục tiêu đề ra:
Với đối tác nước ngoài: Cung cấp cho đối tác lao động có trình độ cao,
thành thạo trong công việc, ý thức kỉ luật lao động cao.
Với người lao động: Đảm bảo an toàn, tin cậy trước, trong và sau khi
xuất khẩu lao động. Cung cấp việc làm cho người lao động, góp phần vào cải
tạo cuộc sống người lao động, nâng cao mức sống xã hội.
Với mục tiêu như trên, công ty đã tiến hành đào tạo và đưa hàng trăm
người lao động ra nước ngoài làm việc với chất lượng lao động cao, chất
lượng cuộc sống cho người lao động đảm bảo. Tạo được uy tín không nhỏ đối
với người lao động và đối tác.
1.1.3.4 Các dịch vụ khác
Ngoài công tác tư vấn du học, đào tạo và đưa người lao động ra nước
ngoài làm việc, trong những năm tới công ty sẽ mở rộng các dịch vụ của mình
sang lĩnh vực kinh doanh lữ hành, dịch vụ truyền thông, kinh doanh máy móc,
thiết bị vật tư khoa học, đo lường, kiểm nghiệm, thiết bị chiếu sáng, thi công
văn hoá, tôn giáo và cách xa nhau về mặt địa lý, song cũng cho thấy đây là
những thị trường khá dễ tính và đầy tiềm năng, rất có khả năng tiếp nhận
nhiều lao động của ta trong những năm tới.
1.2.2 Các hình thức xuất khẩu lao động của Việt nam
1.2.2.1 Tu nghiệp sinh
Đưa lao động đi bồi dưỡng, học nghề, nâng cao trình độ và làm việc
có thời gian ở nước ngoài. Đây là hình thức được áp dụng cho cả hai đối
tượng là lao động có nghề và lao động không có nghề.
1.2.2.2 Cung ứng lao động trực tiếp
Cung ứng lao động trực tiếp theo các yêu cầu của công ty nước ngoài
thông qua các hợp đồng lao động được ký kết bởi các doanh nghiệp Việt
Nam làm dịch vụ cung ứng lao động
Người lao động trực tiếp ký với cá nhân, tổ chức nước ngoài nhưng
khi làm thủ tục phải thông qua một doanh nghiệp chuyên doanh về
XKLĐ để thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm với nhà nước, với tổ chức
kinh tế đưa đi và cũng là để đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong
quá trình làm việc ở nước ngoài. Hình thức này hiện nay ở nước ta chưa phổ
biến lắm. Do người lao động vẫn chưa có nhiều cơ hội để tiếp xúc và tìm
hiểu về các công ty nước ngoài đang cần thuê lao động một cách trực tiếp và
phổ biến.
1.2.2.3 Hợp tác lao động và chuyên gia
Đây là hình thức được áp dụng đối với các nước Trung Đông và Châu
Phi trong việc cung ứng lao động và chuyên gia sang làm việc tại một số
nước. Số lao động này có thể đi theo các đoàn, đội hay các nhóm, cá nhân…
1.2.1.4 Xuất khẩu lao động tại chỗ
XKLĐ tại chỗ là hình thức các tổ chức kinh tế của ta cung ứng
lao động cho các tổ chức kinh tế nước ngoài ở Việt Nam, bao gồm: Các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu
công nghệ cao; các tổ chức, cơ quan ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam.
nghề
Tỷ lệ
(%) lao
động có
nghề
Tiền gửi
về
1980 1.570 590 1.570 0 100 0
1981 20.230 5.569 14.882 5.348 73,56 0,955
1982 25.970 8.151 12.116 13.784 46,65 8,5
1983 12.402 4.620 4.603 7.799 37,11 25,1
1984 4.489 1.566 3.297 1.192 73,44 32,1
1985 5.008 3.031 3.658 1.350 73,04 76,9
1986 9.012 3.095 1.800 7.212 19,97 433,5
1987 46.098 23.863 21.024 25.074 45,60 1.426,18
1988 71.835 25.459 25.109 46.726 34,95 23.027,9
1989 40.618 14.964 12.034 28.584 29,62 1.084,32
1990 3.069 1.047 921 2.148 30,00 8.512,8
Tổng
240.301
(*)
91.955 101.084 139.217 42,06 26.115,455Nguồn: Cục Quản lý Lao động với Nước ngoài – Bộ Lao động TB&XH Hình 1.2 Mô tả kết quả Xuất khẩu lao động Việt Nam thời kỳ (1980 -
1990).
Tiền gửi về
(USD)
1991
1.022
133
34,05
520
51,00
7.971.600
1992
810
79
33,33
423
52,22
14.289.600
1993
3.960
5.489
54.61
181.272.000
Tổng
25.072
3.387
13,51
13.452
53,65
357.910.800Nguồn: Cục Quản lý Lao động với nước ngoài – Bộ Lao động TB&XH.
Hình 1.3: Mô tả kết quả Xuất khẩu lao động và chuyên gia Việt Nam
thời kỳ (1991 - 1995).
Đơn vị tính: (Người)
0
2000
4000
6000
8000
tính:
(Người)
Năm
Số lượng
lao động
xuất
khẩu
Nữ
Tỷ lệ
(%) nữ
Lao
động có
nghề
Tỷ lệ
(%) lao
động có
nghề
Tiền gửi về
(USD)
1991
1.022
133
34,05
520
51,00
9.230
980
41,60
4.679
50,69
109.200.000
1995
10.050
1.715
46,26
5.489
54.61
181.272.000
Tổng
25.072
3.387
tăng, năm 2006 là 31,9%; năm 2007 là 34,5% lao động có tay nghề tăng từ
35% ( năm 2003) lên 50% ( năm 2008). Các hoạt động về xuất khẩu lao động
từng bước có hiệu quả và đi vào nề nếp, đã tạo cho người lao động xuất khẩu
có thu nhập gửi về gia đình, tính bình quân mỗi năm, người lao động Việt
Nam ở nước ngoài gửi về nước từ 1,6 tỷ USD đến 2 tỷ USD, riêng thị trường
Hàn Quốc với gần 50.000 lao động, mỗi năm gửi về nước trên 700 triệu USD,
Nhật Bản hơn 300 triệu USD.
1.2.4. Đánh giá về thành công và hạn chế của công tác XKLĐ Việt
Nam trong những năm qua
1.2.4.1. Thành công
Thực tiễn cho thấy công tác xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời
gian qua là một hoạt động mang tính kinh tế - xã hội, đóng một vai trò quan
trọng, thiết thực trong chương trình quốc gia về giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động. Qua đó được thể hiện và ghi nhận trong các điểm sau:
Xuất khẩu lao động góp phần giải quyết việc làm:
Thực tế cho thấy, thông qua các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, hàng
năm Việt Nam đã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trung
bình khoảng 30.630 người/năm. Trong đó, năm 1996 đưa đi được 12.660
người, năm 97 là 18.470 người bằng 145,89% so với năm 96, năm 98 là
12.240 người bằng 66,27% so với năm 97, năm 99 là 21.810 người bằng
178,18% so với năm98, năm 2000 là 31.500 người bằng 144,4% so với năm
99, năm 2001 là 37.000 người bằng 117,4% so với năm 2000, năm 2002 là
46.122 người bằng 123,65% so với năm 2001, năm 2003 dự kiến đưa đi
50.000 người bằng 108,4% so với năm 2002.
Tuy nhiên tính đến ngày 31 tháng 10 năm 2003 số lao động ta đưa đi đã
vượt quá con số lao động dự kiến xuất khẩu trong năm, bằng 143,23% so với
năm 2002, đưa tổng số lao động Việt nam đang làm việc ở nước ngoài lên
khoảng 40 vạn tại 40 nước và vùng lãnh thổ với 30 nhóm ngành nghề thuộc
các lĩnh vực: Xây dựng, Cơ khí, Điện tử, Dệt may, Chế biến hải sản, Vận tải
biển, Đánh bắt hải sản, Dịch vụ, Chuyên gia y tế, Giáo dục, Nông nghiệp…
ra hàng chục nghìn tỷ đồng kinh phí cho đào tạo nghề nghiệp và nâng cao tay
nghề cho người lao động.
Hàng loạt các trung tâm, các trường trung học dạy nghề được mở ra
xong vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế nên ta chưa có điều kiện để
đào tạo cho hầu hết mọi đối tượng lao động trong nước.
Trong khi đó, hoạt động xuất khẩu lao động ngoài mục đích giải quyết
công ăn việc làm, tạo thu nhập cho người lao động còn có một số nhiệm vụ
quan trọng khác là: qua lao động ở nước ngoài, người lao động tiếp thu kinh
nghiệm quản lý, sản xuất tiên tiến, nâng cao, trình độ tay nghề, nghiệp vụ của
mình cũng như rèn luyện tác phong và kỷ luật công nghiệp, kể cả trình độ
ngoại ngữ, góp phần cải thiện và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong
thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước. Sau khi về nước chính họ sẽ
trở thành một nguồn lao động có kỹ năng, trình độ nghề nghiệp cao… bổ sung
vào lực lượng lao động có trình độ cho các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp trong
nước…
Xuất khẩu lao động góp phần củng cố các mối quan hệ và hội nhập
Quốc tế:
Ngoài những giá trị thiết thực mang lại cho đất nước, xuất khẩu lao
động còn góp phần tích cực, quan trọng trong việc củng cố các mối quan hệ
tại những nơi lao động ta đến làm việc. Thông qua người lao động, công nhân
các nước cùng làm việc và người dân bản xứ có thể tìm hiểu về đất nước, con
người cũng như truyền thống văn hoá Việt Nam. Từ đó làm cho các mối quan
hệ ngày càng trở nên gắn bó mật thiết hơn. Ngoài các mối quan hệ của người
lao động ra thì các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa
nhà nước với nhà nước cũng không ngừng được cải thiện.
Do vậy xuất khẩu lao động một mặt đem lại những lợi ích kinh tế, xã
hội to lớn, nhưng mặt khác lại góp phần củng cố các mối quan hệ hợp tác
cũng như hội nhập quốc tế.
1.2.4.2 Hạn chế
Ngoài những kết quả tích cực đã đạt được trong thời gian qua, công tác
Công tác thông tin tuyên truyền về xuất khẩu lao động còn hạn chế dẫn
đến tình trạng phần đông người lao động bị thiếu thông tin nên khả năng
người lao động tự liên hệ trực tiếp với doanh nghiệp xuất khẩu lao động là
khó khăn, dẫn tới tình trạng là doanh nghiệp cần tuyển người thì không có
trong khi đó người cần đi xuất khẩu lao động thì không biết đâu có nhu cầu để
mà đến tuyển nên không ít trường hợp đáng tiếc người lao động bị kẻ xấu lừa
đảo đã xảy ra gây tâm lý hoang mang cho người lao động và xã hội.
Về các doanh nghiệp xuất khẩu lao động :
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động vẫn còn thụ động, trông chờ
vào đối tác, thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực và kinh nghiệm về
quản lý lao động, thị trường. Chưa chấp hành nghiêm túc các quy định hiện
hành về chế độ tuyển chọn, đào tạo, giáo dục định hướng, công khai tài chính,
quản lý và bảo vệ người lao động ở nước ngoài. Việc tuyển chọn lao động tại
một số doanh nghiệp còn quá vòng vèo, phải qua nhiều khâu trung gian, thậm
chí cả “cò mồi” làm cho người lao động phải chịu nhiều chi phí trái với quy
định.
Về chất lượng nguồn lao động và công tác đào tạo :
Phần lớn chất lượng đội ngũ LĐXK của ta còn thấp so với yêu cầu của
chủ sử dụng lao động, nhất là ngoại ngữ, tay nghề chưa đáp ứng được nhu cầu
của sản xuất hiện đại. Một số loại lao động kỹ thuật nước ngoài có nhu cầu
tuyển dụng nhưng ta vẫn chưa có đủ để đáp ứng. Một bộ phận người lao động
của ta còn chưa ý thức rõ được mối quan hệ chủ – thợ, ý thức kỷ luật lao động
và chấp hành hợp đồng đã ký kết kém, nhiều trường hợp đã tự bỏ hợp đồng
lao động trốn ra ngoài sống và lao động bất hợp pháp gây ảnh hưởng xấu đến
uy tín lao động và thị trường lao động của Việt Nam.
Về trách nhiệm của các Bộ, Ngành và Địa phương :
Thực tế đã chứng minh, trong một thời gian dài, các Bộ, Ngành và Địa
phương chưa liên kết một cách chặt chẽ trong việc phối kết hợp cùng với Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội quản lý, kiểm tra, thanh tra cũng như chấn
chỉnh lại các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trực thộc trong việc chấp hành
triển hơn. Ngày càng có nhiều người lao động đi xuất XKLĐ ra nước ngoài,
vì vậy, công ty Cổ Phần Dịch Vụ Hợp Tác Quốc Tế đã có được một kết quả
đáng kể. Điều này được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng số 2.1 : Kết quả hoạt động xuất XKLĐ của công ty Cổ phần Dịch
Vụ Hợp Tác Quốc Tế
Đơn vị : (Triệu đồng, Người)
Năm
Chỉ Tiêu
2005
2006
2007 2008 2009 QI/ 2010
Doanh Thu
1293 1474 1852 708 2548 1054
Chi phí
653 780 953 350 1286 553
Lợi nhuận
640 694 899 358 1262 501
Nộp NSNN
223 242 314 125 441
Số LĐXK 199 220 247 109 349 127
Nguồn: Phòng kế toán tài vụ công ty CP Dịch Vụ Hợp Tác Quốc Tế