Luận văn: Giải pháp tăng cường nguồn cung lao động Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 - Pdf 11

1Luận văn
Giải pháp tăng cường
nguồn cung lao động Việt
Nam giai đoạn 2010 - 2020
2
Lời nói đầu
Lao động, bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu
được trong quá trình sản xuất. Các đề tài về lao động luôn là những đề tài được nghiên
cứu chi tiết trong kinh tế phát triển. Lao động chính là bộ mặt của sự phát triển cho một
quốc gia, lực lượng lao động nói lên khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế của quốc
gia đó. Lao động là một trong bốn yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và nó là yếu tố
quyết định nhất, và là yếu tố đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển,và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội thì vai trò của lao động là hết sức to lớn, đóng vai trò quyết định đến kết quả của sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhận biệt được
sự quan trọng của lực lượng lao động đối với nước ta, cùng với kiến thức có được của
chuyên ngành kinh tế phát triển em đã quyết định chọn đề tài: “ Giải pháp tăng cường
nguồn cung lao động Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020”. Lao động là bộ mặt của một
quốc gia, và lực lượng lao động là yếu tố quan trọng nhất trong lao động, lực lượng lao
động là lực lượng chính, quyết định sự thành bại trong các mục tiêu quốc gia. Đối với
Việt Nam, lực lượng lao động là một thành phần rất giàu tiềm năng, nguồn lao động dồi
dào, giá cả nhân công thấp song bên cạnh đó vẫn tồn tại những khuyết điểm cần khắc
phục như sức khỏe còn chưa đảm bảo, thái độ làm việc chưa cao, trình độ tay nghề thấp.
Vì vậy, việc đưa ra các giải pháp để phát triển và khắc phục những khó khăn của lực
lượng lao động Việt Nam hiện nay là rất cần thiết. Nội dung đề tài sẽ nghiên cứu về thực
trạng khó khăn của nguồn cung lao động nước ta hiện nay và những giải pháp cho những
khó khăn này trong giai đoạn 2010 - 2020.
Đây là một đề tài có tính thực tế rất cao, bởi trong bối cảnh của đất nước ta hiện nay thì

về loại hàng hoá này, thì bên mua ở vào địa vị có lợi hơn trên thị trường lao động (thị
trường của bên mua). Ngược lại, nếu cầu về sức lao động trên thị trường lớn hơn cung thì
người bán sẽ có lợi thế hơn, có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn công việc, giá cả sức lao
động vì thế có thể được nâng cao (thị trường của bên bán). Bên cạnh đó, cũng như bất kỳ
mọi dạng thị trường khác, thị trường lao động còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác,
trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới động thái phát triển của thị trường này.
Tuy nhiên trên thực tế, do các thông tin thống kê về cung và cầu trên thị trường
lao động ở nước ta cho đến nay chưa được thu thập, xử lý và lưu giữ đầy đủ, nên việc
theo dõi phân tích thực trạng và động thái phát triển của loại thị trường này sẽ là việc làm
không đơn giản.
4
Về cơ bản TTLĐ cũng chịu sự tác động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh,
quy luật độc quyền…
1.3 Khái niệm về nguồn cung lao động
Cung lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật
nhà nước có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động, những người ngoài
độ tuổi lao động(trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Nguồn cung lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trường đại học,
cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác. Nguồn cung này có thể từ những người
đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức … và, nó được bổ sung thường
xuyên từ đội ngũ những người đến độ tuổi lao động. Ở Việt Nam tổng cục thống kê quy
định nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15-60 tuổi nữ từ 15-
55 tuổi) và người trên tuổi lao động đang làm việc. Cung về lao động phụ thuộc vào qui
mô,cơ cấu dân số của một nước, chất lượng của nguồn lao động (Trình độ văn hóa, cơ
cấu ngành nghề, sức khỏe… phong tục, tập quán xã hội của một nước và chính sách phát
triển nguồn nhân lực của nước đó.)
Cũng giống như các yếu tố khác của xã hội, nguồn cung lao động cũng có tính hai
mặt đó là số lượng và chất lượng của cung lao đông.
Cung lao động về giác độ số lượng bao gồm : Dân số đủ 15 tuổi trở lên và có việc
làm, những người ngoài độ tuổi lao động(trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các

Đối với Việt Nam thì nguồn cung lao động là lực lượng không thể thiếu trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong hoàn cảnh hiện nay
khi mà công nghệ chưa phát triển đến mức cao nhất, tài nguyên khoáng sản nhiều song
không được khai thác một cách hợp lý thì yếu tố con người đóng vai trò then chốt trong
mọi lĩnh vực hoạt động phát triển đất nước. Từ sau đồi mới nguồn lao động chính là nhân
tố chính đưa đất nước lên một tầm cao mới, sự sáng tạo và sử dụng các tư liệu sản xuất
một cách hợp lý của con người đã đưa Việt Nam vươn tới trường quốc tế chỉ trong vòng
hơn 20 năm.

2. Đặc điểm của nguồn cung lao động ở Viêt Nam hiện nay.
2.1 Số lượng tăng nhanh nhưng chất lượng chưa đảm bảo.
6
Có sự khác biệt chủ yếu giữa sự thách thức phát triển mà các nước đang phát
triển gặp phải so với các nước phát triển là sự gia tăng chưa từng thấy của lực lượng lao
động. Ở hầu hết các nước, trung bình mỗi năm số người tìm việc làm tăng từ 2% trở lên.
Sự gia tăng nguồn lao động liên quan chặt chẽ với việc tăng dân số. Theo số liệu điều tra
dân số 1-4-1999 dân sô Việt Nam là 76,32 triệu người, trong đó khoảng 39 triệu người
là lực lượng lao đông chiếm 51% dân sô. Dự báo ở nước ta mỗi năm trung bình tăng
thêm hơn một triệu lao động, đến năm 2010 thì số người lao động sẽ là khoảng 52 triệu
người, và con số này sẽ là 64.2 triệu người vào năm 2020, vì vậy sức ép về vấn đề giải
quyết bài toán lao động sẽ gây nên một áp lực không nhỏ.

Bảng 1 dân số trung bình Việt Nam qua một số mốc thời gian. (Theo số liệu tổng
cục thống kê)

Tuy nhiên, không chỉ giải quyết bài toán về việc làm, mà hiện nay Việt Nam cũng đang
phải đối mặt với một thực trang đó là nguồn lao động thì dồi dao, song trình độ lao động
và tay nghề chuyên môn của người lao động lại rất thấp.
Đã một thời Việt Nam "tự hào" có nguồn nhân lực đông, giá rẻ. Quả thực cho đến nay, so
với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam vẫn là nơi có giá rẻ về sử dụng lao động. Lợi thế

sẵn có các
cán bộ
hành chính
chất lượng
cao
Mức độ
sẵn có cán
bộ quản lý
chất lượng
cao
Sự thành
thạo tiếng
Anh
Sự thành
thạo công
nghệ cao
1 Hàn Quốc 7,00 8,00 7,50 4,00 7,00
2 Xingapo 6,83 5,67 6,33 8,33 7,83
3 Nhật Bản 8,00 7,50 7,00 3,50 7,50
4 Đài Loan 5,37 5,62 5,00 3,86 7,62
5 Ấn Độ 5,25 5,50 5,62 6,62 6,50
6 Trung Quốc 7,12 6,19 4,12 3,62 4,37
7 Malaixia 4,50 7,00 4,50 4,00 5,50
8
8 Hồng Công 4,23 5,24 4,24 4,50 5,43
9 Philippin 5,80 6,20 5,60 5,40 5,00
10 Thái Lan 4,00 3,37 2,36 2,82 3,27
11 Việt Nam 3,25 3,50 2,75 2,62 2,50
12 Inđônêxia 2,00 3,00 1,50 3,00 2,50
.số liệu theo tổng cục thống kê

trung chủ yếu trong ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng suất lao động thấp nhất và cũng
là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần do quá trình đô thị hóa và
công nghiệp hóa. Kết quả là nhiều lao động mất đất, hoặc thiếu đất dẫn đến dư thừa lao
động và thiếu việc làm. Thu nhập của lao động ở khu vực nông thôn vì thế mà thấp và
thất thường bởi tính thời vụ và rủi ro cao. Đây chính là lý do khiến tỷ lệ nghèo tập trung
chủ yếu ở khu vực nông thôn.
Có thể nói, hầu như toàn bộ lao động nông nghiệp tập trung ở khu vực nông thôn,
nếu so sánh với tổng lao động có việc làm của cả nước thì lao động nông nghiệp nông
thôn vẫn chiếm quá bán, khoảng 50.5%. Nhìn từ góc độ chuyển dịch cơ cấu lao động ta
thấy, tỷ lệ lao động nông nghiệp nông thôn đã có chuyển biến, giảm từ 82.3% năm 1996
xuống còn 74.2% năm 2009, mức giảm tuy nhỏ so với một số nước cùng khu vực nhưng,
nó đã thể hiện được sự nỗ lực của cả một nền kinh tế
2.3 Còn một bộ phận lớn lao động chưa được sử dụng.
Việc đánh giá tình trạng chưa sử dụng hết lao động phải xem xét qua các hình thức
biểu hiện của thất nghiệp – thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình.
Bảng 2: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động
trong độ tuổi năm 2009 phân theo vùng
(*)

Đơn vị %
10

Tỷ lệ thất nghiệp

Tỷ lệ thiếu việc làm
Chung

Thành
thị
Nông


2.13 1.03 3.69
Đồng bằng sông Cửu
Long 2.71 4.12 2.35

6.39 3.59 7.11
Số liệu theo tổng cục thống kê
Do sức ép về dân số và những khó khăn về kinh tế ở các nước đang phát triển đã tác
động lớn đến vấn đề công ăn việc làm ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn, tình trạng
thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng gia tăng đặc biệt ở khu vực thành thị.
Dân số đông tạo nên thị trường nội địa rộng lớn, một yếu tố hết sức quan trọng đối
với việc phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên, do tình trạng kém phát triển và có nhiều chế
độ đối với nguồn lực khác, việc dân số phát triển nhanh chóng lại là một gánh nặng cho
việc cải thiện cơ hội tìm việc làm và điều kiện sống. Vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta
được xem là vấn đề kinh tế – xã hội rất tổng hợp và phức tạp. Chiến lược ổn định và phát
triển xã hội đến năm 2009 của Việt Nam đã khẳng đinh, “ Giải quyết việc làm, sử dụng
tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược, là một
tiêu chuẩn để định hướng cơ cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ”. Trên phạm vi rộng, giải
quyết việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có
hiệu quả nguồn nhân lực. Còn theo phạm vi hẹp, giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào
đối tượng và mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu việc làm, nâng
cao hiệu quả việc làm và tăng thu nhập.
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn cung lao động ở Việt Nam.
11
3.1 Dân số: Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Sự biến động dân số là kết
quả của quá trình nhân khẩu học và có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ
cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động.
3.2 Tỷ lệ tham gia lao động: Theo khái niệm lực lượng lao động nêu ở trên thì chỉ tiêu "
tỉ lệ tham gia lưc lượng lao động " nói chung được hiểu là tỉ số phần trăm giữa số người
đủ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trên dân số đủ 15 tuổi trở lên. Tỷ lệ này được

cấp nào hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu của các nước cho thấy tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào cấp tiểu học
là cao hơn các cấp khác. Chẳng hạn, tỷ suất lợi nhuận chung của thế giới ( đầu thập niên
90) ở cấp tiểu học là 18.4%, ở cấp trung học là 13.2%, đại học là 10.9%. Các số liệu
tương ứng của Việt Nam là 10.8%, 3.8%, 3.0%. Như vậy có thể thấy rằng giáo dục tiểu
học và giáo dục cơ bản có hiệu quả hơn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Do
vây chính sách giáo dục của các nước đang phát triển cũng tập trung nhiều và ưu tiên
nhiên hơn cho giáo dục tiểu học.
Thứ ba, giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để người dân, đặc
biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cường sức khỏe, dinh dưỡng.
Chẳng hạn tỷ lệ tử vong trẻ em giảm xuống, tỷ lệ dinh dưỡng trẻ em tăng lên, cùng với
học vấn của cha mẹ, đặc biệt là của người mẹ vì biết sin hoạt vệ sinh hơn, hay biết cách
sử dụng những thức ăn giầu chât dinh dưỡng hơn Với ý nghĩa trên giáo dục còn góp
phần vào việc bổ sung cho các dịch vụ y tế( giảm nhu cầu về những dịch vụ y tế)
b, Sức khỏe người lao động
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và
không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật.
Sức khỏe có tác động tới chất lượng của lao động cả hiện tài và tương lai. Người lao
động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp bằng việc
nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao trong khi làm việc.
Sức khoẻ là một vấn đề rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số nói
chung và chất lượng lao động nói riêng, nó là một trong chiến lược phát triển con người
ở mỗi quốc gia trên Thế giới. Khi nói tới sức khoẻ bao gồm 2 khía cạnh : sức khoẻ tinh
thần và thể lực con người, chúng ta thường nói “ Có sức khoẻ là có tất cả”, Bởi sức khoẻ
giúp con người làm việc tốt và chủ động tham gia vào các hoạt động đời sống kinh tế xã
hội, cộng đồng. Vì vậy, muốn phát triển đất nước, trước hết phải quan tâm tới yếu tố này,
13
lấy con người làm trung tâm .Do tầm quan trong của sức khỏe là rất lớn do đó phải tập
trung về vấn đề này ngay từ đầu. Nhà nước cần có các chính sách đặc biệt dành cho trẻ
nhỏ và bà mẹ để có thể đảm bảo được một nguồn lao động dồi dào và chất lượng ngay từ

Bảng 4: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn 2000-2008
Nông,
lâm
nghiệp,
thuỷ sản
73,0 71,3 65,1 63,5 61,9 60,2 58,7 57,2 55,7 53,9 52,5
Công
nghiệp -
xây dựng
11,2 11,4 13,1 14,4 15,4 16,4 17,4 18,3 19,1 20,0 20,8
Dịch vụ 15,8 17,3 21,8 22,2 23,3 23,3 23,9 24,5 25,3 26,1 26,7
Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100
15
65.1
13.1
21.8
63.5
14.4
22.2
61.9
15.4


Tính đến năm 2008 tỷ trọng lao động trong nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới 52,5%,
trong ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ là 20,8% và 26.7% trong tổng số
lao động có việc làm của cả nước. Tỷ trọng lao động trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp
cao phản ảnh mức đột thu hút lao động vào các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa thực
sự đủ mạnh để có thể làm thay đổi một cách căn bản cơ cấu lao động xã hội.
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực giảm tỷ lệ
lao động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệp; năm 2000: tỷ lệ lao động có việc làm trong
khu vực nông-lâm-ngư nghiệp 65,1%, công nghiệp-xây dựng 13,1% và dịch vụ là 21,8%
tỷ lệ này tương ứng năm 2008 là 52,5%; 20,8% ; 26,7%.
Trong tổng số lao động tăng thêm từ năm 1990 đến 2008 (15.624,9 nghìn người )
Nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản đã thu hút thêm 2.148,7 nghìn người, chiếm
13,8 % tổng số tăng
Nhóm nghành công nghiệp – xây dựng đã thu hút thêm được 6.079,8 nghìn người, chiếm
38,9% tổng số tăng
Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm 7.396,4 nghìn người, chiếm 47,3% tổng số tăng
Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm được nhiều nhất, tiếp đến là công nghiệp xây dựng
và cuối cùng là nông, lâm nghiệp và thủy sản. Do năng suất lao động của nhóm nghành
công nghiệp – xây dựng (62.924 nghìn đồng/người) và của nhóm nghành dịch vụ (
46.849 nghìn đồng/ người) cao hơn nhóm nghành nông, lâm nghiệp và thủy sản (13.764
nghìn đồng / người).
16
Trong 3 khu vực kinh tế lớn (nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ) thì khu
vực công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao hơn 2 khu vực kia và cao hơn tốc
độ tăng trưởng chung của nền kinh tế nên tỷ trọng đã tăng nhanh. Tỷ trọng khu vực công
nghiệp - xây dựng trong GDP vượt mục tiêu 39-40% cho năm 2005. Trong khi đó tốc độ
tăng trưởng của khu vực dịch vụ nhìn chung còn rất chậm, đặc biệt một số ngành dịch vụ
quan trọng (ngân hàng - tài chính, khoa học công nghệ) đang chiếm tỷ trọng thấp và lại
có xu hướng giảm. Khối công nghiệp - xây dựng tuy có tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn
khu vực nông - lâm - ngư nghiệp song sức hút lao động lại không tăng tương ứng. Đó là

ngoài chiếm tỷ lệ nhỏ nhất, là 3,49%. Chứng tỏ khu vực ngoài nhà nước trở thành khu
vực chủ yếu thu hút lao động của cả nước, đồng thời là khu vực chủ yếu giải quyết việc
làm cho số lao động tăng thêm. Bên cạnh đó tỷ lệ lao động trong khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài đang có xu hướng tăng lên mạnh mẽ.
Tuy số lượng việc làm mới được tạo ra nhiều hơn và có xu hướng tăng hơn những
năm trước nhưng nhìn tổng thể vẫn còn nhiều bất cập. Tính ổn định về việc làm chưa cao,
thu nhập bình quân của người lao động ở nhiều ngành nghề còn thấp, chưa đảm bảo mức
sống tối thiểu.
3. Cơ cấu lao động theo các loại hình doanh nghiệp
BẢNG 6 : Cơ cấu lao động làm việc trong các doanh nghiệp
Đơn vị %
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
1.DNNN 59,05 53,75 48,53 43,77 39,00 32,67 28,29
- Trung ương 36,79 34,36 31,01 28,29 26,3 22,97 20,45
- Địa phương 22,26 19,39 17,52 15,48 12,69 9,70 7,84
2. DN ngoài NN 29,43 33,81 36,64 39,61, 42,90 47,76 50,18
- Tập thể 5,15 3,87 3,43 3,11 2,72 2,57 2,22
- Tư nhân 6,68 7,06 7,29 7,31 7,48 7,72 7,43
- Công ty hợp danh 0,00 0,00 0,00 0,01 0,01 0,01 0,01
- Công ty TNHH 14,61 17,74 19,81 22,09 24,15 25,75 25,91
- Công ty cổ phần 2,98 5,13 6,10 7,09 8,52 11,90 14,61
3.DN có vốn ĐTNN 11,52 12,44 14,84 16,62 18,11 19,57 21,52
- 100% vốn nước ngoài 8,09 9,26 11,51, 13,29 14,99 16,49 18,42
- Liên doanh 3,44 3,18 ,3,32 3,33 3,11 3,08 3,10
Nguồn:Niên giám thống kê 2007- Tổng cục thống kê
18
Trong các loại hình doanh nghiệp, tổng số lao động tính đến năm 2007 la 6.715,2
nghìn người tăng 89,9% so với năm 2000, bình quân 1 năm tăng 11,9% - cao gấp nhiều
lần tốc độ tăng 2,3% / năm của toàn nền kinh tế quốc dân trong khoảng thời gian tương

Số lượng Tăng/giảm Tỷ lệ
19
lượng
(nghìn
người)
TB năm (%) (nghìn
người)
TB năm (%)
1979 5.113 - 19,24 21.459 - 80,76
1989 7.620 +5,16 21,74 27.431 +2,93 78,26
1999 11.614 +5,24 26,06 32.952 +2,01 73,94
2009* 11.071* - 24,94 33.313,8* - 75,06
Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1-10-197, H.1983; Tổng điều tra dân số toàn diện
1/4/1989, H.1992; Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999. Kết quả điều tra mẫu.
H.2000; Kết quả điều tra lao động – việc làm năm 2009.
Theo bảng trên, lao động ở khu vực thành thị, trong vòng 9,5 năm (1979 – 1989)
tăng thêm 2,507 triệu, tốc độ tăng trung bình năm là 5,16%. Trong 10 năm tiếp theo
(1989 – 1999) tăng gần 4 triệu, tốc độ tăng bình quân là 5,24%, cao hơn thời kỳ trước.
Ngược lại, ở khu vực nông thôn, lượng lao động dịch chuyển theo xu hướng giảm nhẹ,
bình quân năm 2,93% (1979 – 1989) và 2,01% (1989 – 1999). Vì thế, tỷ lệ lao động ở
khu vực thành thị tăng lên. Năm 2009, quy mô lực lượng lao động nước ta là 44,385 triệu
người, trong đó ở thành thị là 11,071 triệu, chiếm 24,94% và ở nông thôn chiếm 75,06%.
Tác động đến xu hướng đó là do yếu tố dân số học, trong đó có di dân do công nghiệp
hóa, đô thị hóa. Sự chuyển dịch đó tạo ra áp lực cung lao động tăng lên ở khu vực thành
thị trong khi cầu lao động còn hẹp mà lại yêu cầu chất lượng cao hơn.
5. Cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ :
Sự phân bố lao động chủ yếu tập trung ở 3 vùng: Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng
sông Cửu Long và Đông Nam Bộ - 2 vùng Tây Bắc và Tây Nguyên chưa thu hút được
lao động.
Sự phân bổ lực lượng lao động giữa các vùng chưa tương xứng với tiềm năng của các

14.77% lực lượng lao động cả nước năm 2008) và giảm lực lượng lao động ở các vùng
Bắc Trung Bộ (từ 12,06% năm 2004 xuống còn 11.8% năm 2005) và vùng đồng bằng
sông Hồng trong tổng số lực lượng lao động cả nước ( từ 23.47% năm 2004 xuống còn
22,75% năm 2008).
** Thực trạng chung về nguồn lao động Việt Nam
1. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giảm.
a- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm.
BẢNG 9: Tỷ lệ tham gia LLLĐ
Đơn vị tính %
21
Năm
Cả nước Thành thị Nông thôn
Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ
1996 75.8 79.4 72.6 65.7 71.8 60.3 78.8 81.6 76.3
1997 74.3 78.2 70.8 64.9 71.1 59.4 77.4 80.5 74.6
1998 73.7 77.5 70.3 64.4 70.4 59.1 76.9 79.9 74.1
1999 73.5 76.9 70.4 64.3 70.2 59.1 76.6 79.1 74.4
2000 72.3 76.1 68.8 64.1 70.5 58.5 75.1 78.0 72.4
2001 73.2 76.8 69.6 64.8 70.6 59.7 76.0 79.0 73.1
2002 72.5 76.2 69.0 64.4 69.8 59.6 75.4 78.5 72.5
2003 72 75.8 68.5 64.3 69.8 59.2 74.9 78.0 71.9
2004 71.4 75.5 67.6 63.2 69.0 58.0 74.5 77.9 71.3
2005 69.6 74.0 65.5 60.5 66.8 54.7 73.1 76.8 69.7

Từ năm 1996 đến năm 2005, tỷ lệ tham gia LLLĐ nói chung của cả nữ và nam ở
nước ta đều giảm. Mặc dù số lượng LLLĐ của cả nước tăng lên từ 36,1 triệu người năm
1996 lên 43,5 triệu người năm 2005, song tỷ lệ tham gia LLLĐ có xu hướng giảm: Từ
75,8% năm 1996 xuống 73,5% năm 1999 và 69,6% năm 2005.
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam là 79,4% năm 1996, cao hơn tỷ lệ này của nữ 7,0%.
Sự chênh lệch giữa tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam và nữ tăng cao hơn vào năm 2005

1998 36018,3 7222,4 28795,9
1999 35731,1 7923,8 27807,2
2000 36205,5 8185,9 28019,6
2001 37677,4 8718,9 28958,5
2002 39289,6 9195,5 30094,1
2003 39585,0 9533,6 30051,4
2004 40792,6 10140,7 30651,9
Nguồn: Thực trạng lao động - việc làm 1996 đến 2004
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của cả nam và nữ ở nhóm tuổi 15-19, 20-24 và tỷ lệ tham gia
LLLĐ của nhóm tuổi 55-59, 60-64 giảm dần từ năm 1996 đến 2005 làm cho đường cung
lao động trong những năm gần đây có chiều hướng đi xuống. Khả năng có nhiều cơ hội
học tập, sự gia tăng của lao động làm công ăn lương, và độ tuổi về hưu được quy định
chặt chẽ hơn là những nhân tố tạo ra xu hướng giảm xuống của tỷ lệ tham gia LLLĐ
trong nhóm tuổi này.
23
Từ năm 1996 đến 2005, tỷ lệ tham gia LLLĐ của cả nam và nữ trong cả nước tăng
từ nhóm tuổi 15-19 đến 30-34, và sau đó có xu hướng giảm đi ở các nhóm tuổi tiếp theo.
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam đạt mức cao nhất là 97-98% và của nữ là 90% ở nhóm
tuổi 30-34.
Do nhóm tuổi từ 15-19 phần lớn đang ở thời kỳ học tập nên tỷ lệ tham gia LLLĐ ở
nhóm tuổi này thấp hơn nhiều so với nhóm tuổi 20-24. Tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam và
nữ ở nhóm tuổi 15-19 giảm từ 52,7% và 58,4% năm 1996 xuống 35,8% và 35,1% năm
2005 do sự gia tăng cơ hội học hành của những người trong độ tuổi này. Sự gia tăng cơ
hội học hành cũng làm giảm khoảng 11% tỷ lệ tham gia LLLĐ của cả nam và nữ trong
nhóm tuổi 20-24 trên cả nước từ năm 1996 đến năm 2005.
Trong nhóm tuổi lao động chính là 25-54, tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam duy trì ở
mức độ cao, từ 87% đến 97%, trong khi đó tỷ lệ này của nữ chỉ vào khoảng từ 75% đến
90%. Với tỷ lệ tham gia LLLĐ cao như vậy sẽ khó có cơ hội gia tăng thêm tỷ lệ tham gia
LLLĐ trong nhóm tuổi này.
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của nhóm tuổi trên 60 giảm đáng kể. Năm 2005, tỷ lệ của

thấp cũng chính là những vùng có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chuyên môn thấp, vùng
Tây Bắc chỉ có 2,3%, Tây Nguyên là 3,41%.
NSLĐ nông nghiệp thấp còn vì lao động ở đây chủ yếu vẫn là lao động thủ công.
Khâu làm đất là khâu nặng nhọc nhất thì quá trình cơ giới hoá (CGH) diễn ra chậm, nếu
năm 1990 tỷ lệ cơ giới hoá là 21%, năm 1995 là 26% và năm 2007 là khoảng 30%. Một
số khâu khác như vận chuyển, ra hạt, bơm tát nước tỷ lệ CGH có sự cải thiện, như khâu
ra hạt hiện đã được CGH 80%. Tuy nhiên, việc CGH trong nông nghiệp gặp những khó
khăn nhất định, thứ nhất, quy mô ruộng đất vốn nhỏ lẻ, với bình quân ruộng đất ở đồng
bằng sông Hồng chỉ có 544m
2
, và miền Trung là 611m
2
, lại manh mún tạo việc sử dụng
máy móc cơ khí khó khăn và chi phí cao. Thứ hai, do chăn nuôi gia súc như trâu bò nhiều
lên làm cho nhu cầu sức kéo giảm. Thứ ba, yêu cầu hiện đại hoá mâu thuẫn với tình trạng
lao động dư thừa, nếu 1 ha đất làm thủ công cần 300 ngày công lao động sống, khi là máy
chỉ còn sử dụng 50 ngày công.
Phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chủ
trương lớn của nước ta, nhằm nhấn mạnh đến việc sử dụng các nguồn nhân lực một cách
hiệu quả để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển . Do vậy, các chính sách phát triển nông
25
thôn cần được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kết hợp hài hoà và hợp lý giữa phát triển
kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường một cách hài hoà.
Giải pháp cấp bách và là ưu tiên số một hiện nay là đào tạo nghề cho lao đông nông
thôn, họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiên thức để đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế của đất nước. Bên cạnh đó, lao động trẻ nông thôn hiện nay không chỉ thiếu kiến
thức chuyên môn mà kiến thức xã hội, giao tiếp cộng đồng, phát triển bản thân còn nhiều
khiếm khuyết. Ở họ dạy nghề thôi chưa đủ mà cần đưa cả kỹ năng sống vào giảng dạy.
Những năm gần đây công tác dạy nghề đã có nhiều tiến triển, nhiều lao động đã ý
thức được việc học nghề và số người tham gia các khoá đào tạo tăng rõ rệt. Số lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status