giải pháp tăng cường nguồn vốn huy động tại NHNN&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội - Pdf 27

Phần mở đầu
*****
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Vốn là cơ sở,
nền tảng để tổ chức mọi hoạt động trong nền kinh tế. Một đất nớc có tiềm lực vốn
mạnh sẽ tạo đà phát triển kinh tế bền vững. Hệ thống NHTM ra đời là nơi cung cấp
vốn cho nền kinh tế. Vì vậy, để đẩy nhanh sự nghiệp CNH HĐH ở nớc ta, đòi hỏi
hệ thống NHTM phải tận dụng, khai thác triệt để mọi nguồn vốn nhàn rỗi ở cả trong
nớc và ngoài nớc. Ngợc lại, vốn lại là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động
kinh doanh. Những ngân hàng trờng vốn sẽ có nhiều thế mạnh trong kinh doanh. Do
đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, ngân hàng phải thờng xuyên chăm lo tới việc tăng
trởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình. Việc làm thế nào để tăng quy
mô và chất lợng vốn huy động luôn là vấn đề đợc quan tâm hàng đầu của các
NHTM Việt Nam.
Tiềm lực về vốn trong nền kinh tế là rất lớn nhng để thu hút đợc là điều
không đơn giản, vì trên thị trờng ngày càng có nhiều các NHTM, các tổ chức tài
chính (quỹ tiết kiệm bu điện, quỹ tín dụng, công ty bảo hiểm...) cạnh tranh nhau
cùng phát triển, gây khó khăn cho công tác huy động vốn của NHNo&PTNT VN
nói chung và của chi nhánh Bắc Hà Nội nói riêng. Mới thành lập năm 2001, còn gặp
phải rất nhiều khó khăn, trở ngại đặc biệt là sự cạnh tranh gay gắt của các NHTM
khác trên cùng địa bàn, nhng chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội luôn chú trọng
đến công tác huy động vốn và đã gặt hái đợc những kết quả rất khả quan. Tuy nhiên,
vẫn còn một số tồn tại trong công tác huy động vốn mà Chi nhánh cần khắc phục.
Do đó, việc đa ra các giải pháp thiết thực khắc phục những tồn tại trên, góp phần
hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh Bắc Hà Nội,
tạo đà để Chi nhánh phát triển bền vững là một yêu cầu cấp thiết.
Xuất phát từ thực trạng trên, em đã quyết định chọn đề tài: Giải pháp tăng
cờng nguồn vốn huy động tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội làm đề tài
bảo vệ khoá luận của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Các tổ chức trung gian tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống tài chính
trong nền kinh tế thị trờng, có chức năng dẫn vốn từ những ngời có khả năng dẫn
vốn tới những ngời có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện vốn cho đầu t phát triển
kinh tế xã hội. Ngân hàng thơng mại là một bộ phận lớn nhất trong hệ thống trung
gian tài chính. Tại điều I khoản 1 pháp lệnh số 38 ngày 25/05/1990 quy định về
ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính quy định: NHTM là tổ chức
kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của
khách hàng, với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh toán .
Tại điều 20 Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/10/1998 có quy định: NHTM là loại hình TCTD đợc thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
1.1.2 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế
Hoạt động của NHTM đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi
các tổ chức tài chính khác thờng hoạt động trên một vài lĩnh vực hẹp và theo hớng
chuyên sâu. Với đặc điểm kinh doanh cơ bản là đi vay để cho vay, NHTM giữ vai
trò nhất đối với sự phát triển của nền kinh tế:
1.1.2.1 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Vốn đợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp
và nhà nớc trong nền kinh tế. NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản
xuất kinh doanh. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn
rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế và thông qua hoạt động tín dụng,
NHTM sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vốn một
cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất giúp các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng
sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả
kinh tế.

1.1.2.2 NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trờng.
Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trờng, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có một khối lợng lớn vốn đầu t, nhiều khi vợt quá khả năng vốn tự có

Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm
đảm bảo an toàn cũng nh tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM. Nội dung của nghiệp
vụ này bao gồm:
- Nghiệp vụ ngân quỹ: phản ánh các khoản vốn của ngân hàng đợc dùng vào với mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ
bắt buộc do Ngân hàng Trung ơng đề ra.
- Nghiệp vụ cho vay: là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh
doanh của các NHTM. Bao gồm các khoản đầu t sinh lời thông qua cho vay ngắn
hạn và trung, dài hạn đối với nền kinh tế.
- Nghiệp vụ đầu t tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu t bằng vốn của mình
qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trờng.
- Nghiệp vụ khác: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các
dịch vụ t vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; và các dịch vụ khác:
dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két...mà ngân hàng đã thu đ-
ợc những khoản lợi nhuận đáng kể.
1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn tự có của NHTM:
- Nghiệp vụ tiền gửi: phản ánh các khoản tiền từ các doanh nghiệp vào ngân
hàng để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó ngân hàng có thể
huy động đợc vốn và sử dụng vốn đã huy động đợc vào kinh doanh. Ngoài ra, ngân
hàng còn huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay hộ gia đình đợc gửi
vào ngân hàng với mục đích hởng lãi.

Tài Sản Nguồn Vốn
1. Ngân Quỹ
2. Cho Vay
3. Đầu T
4. Tài Sản Có Khác
1. Vốn Huy Động
2. Vốn Đi Vay
3. Vốn Tự Có

nào, các NHTM luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu. Để đạt đợc điều đó, công cụ duy
nhất mà các NH phải có là vốn.
1.2.1 Khái niệm về vốn

Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc đợc huy
động, dùng để cho vay, đầu t và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Thực chất, vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, mà ngời chủ sở hữu của
chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Hay nói cách khác,
họ chuyển nhợng quyền sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng, để rồi ngân hàng phải
trả lại cho họ một khoản thu nhập. Và nh vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập
trung và phân phối lại vốn dới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân
chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời,
chính các hoạt động đó lại quyết định đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Nhìn chung, vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết
định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM.
1.2.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, vốn có các vai trò sau đây:
1.2.2.1 Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh đợc thì phải có
vốn, bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh.
Riêng đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
của mình. Nói cách khác, ngân hàng không có vốn thì không thể thực hiện đợc các
nghiệp vụ kinh doanh. Bởi lẽ, với đặc trng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ
là phơng tiện kinh doanh chính mà còn là đối tợng kinh doanh chủ yếu của NHTM.
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trờng tiền tệ (thị tr-
ờng vốn ngắn hạn) và thị trờng chứng khoán ( thị trờng vốn dài hạn). Những ngân
hàng trờng vốn là những ngân hàng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh. Do đó,
ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều lệ theo luật định, thì ngân hàng phải
thờng xuyên chăm lo tới việc tăng trởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của

đại của ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn
lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với
các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lợng tín dụng, chủ động về thời gian,
thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều
đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ
tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây
cũng là điều kiện để bổ sung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cờng cơ sở vật chất
kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.

Hơn nữa, vốn lớn sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh
đa năng trên thị trờng, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng các hình
thức liên doanh liên kết, dịch vụ thuê mua (leasing), mua bán nợ (factoring), kinh
doanh trên thị trờng chứng khoán, góp phần phân tán rủi ro và tạo thêm vốn cho
ngân hàng đồng thời tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thơng trờng...
1.2.3 Nội dung và tính chất vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Vốn của NHTM bao gồm:
- Vốn tự có
- Vốn huy động
- Vốn đi vay
- Vốn khác
Mỗi loại vốn đều có một tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động
của NHTM.
1.2.3.1 Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng tự tạo lập
nên bằng vốn góp của chủ sở hữu và đợc bổ xung từ kết quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
Vốn tự có chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (th-
ờng chiếm từ 7 đến 12%), song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập ngân
hàng. Vốn tự có của ngân hàng thuộc sở hữu của ngân hàng, bởi vậy vốn tự có của
ngân hàng có tính chất thờng xuyên và ổn định giúp cho ngân hàng có thể chủ động

ngân hàng vì mức độ đầu t phụ thuộc vào vốn tự có. Hơn nữa, quy mô vốn tự có
quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng (cho vay, đầu t...) và là cơ sở tổi thiểu
đảm bảo an toàn cho ngời gửi tiền (tấm nệm an toàn cuối cùng). Do vậy vốn tự có
đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hoạt động của các NHTM.
1.2.3.2 Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động đợc từ các tổ
chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín
dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và đợc dùng làm vốn để kinh doanh.
Bản chất vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng
chỉ có quyền sử dụng không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và
lãi khi đến hạn (tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (tiền gửi không
kỳ hạn). Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh
doanh của NHTM.

Vốn huy động luôn biến động, nên ngân hàng không đợc phép sử dụng hết số
vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng
thanh toán.
Vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi: Tiền gửi không kỳ hạn, Tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
- Các nguồn huy động khác: phát hành các công cụ nợ: chứng chỉ tiền gửi, kỳ
phiếu, trái phiếu. Với hình thức huy động này các NHTM phải trả lãi suất cao hơn
so với lãi suất tiền gửi. Nghiệp vụ này chỉ đợc tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà
vốn tự có và vốn huy động tiền gửi không đủ. Nh vậy, khi thực hiện huy động vốn d-
ới các hình thức này, các NHTM phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lợng,
mức lãi suất và thời hạn huy động, cũng nh phơng pháp huy động. Vốn này chỉ đợc
huy động trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lợng vốn theo dự
kiến các NHTM sẽ ngừng việc huy động (bán) giấy tờ có giá.
Tóm lại: Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của
các NHTM. Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của
ngân hàng (thờng trên 80%), giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân

các hoạt động kinh doanh của mình tiến hành huy động các nguồn vốn nhàn rỗi
từ các thành phần kinh tế trong xã hội, tạo ra nguồn vốn kinh doanh cho mình,
góp phần ổn định lu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát...
1.3.2 Sự cần thiết phải tăng cờng nguồn vốn huy động
Các NHTM cần thiết phải tăng cờng nguồn vốn huy động do nghiệp vụ huy
động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế cũng nh với bản thân NHTM.
- Đối với nền kinh tế:
Hoạt động huy động vốn của NHTM đã góp phần thực hiện chính sách tiền
tệ, kiềm chế lạm phát. Kinh nghiệm ở các nớc phát triển cho thấy: để ổn định tiền tệ,
kiềm chế lạm phát, Nhà nớc phải sử dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài
chính, tiền tệ và một trong những bịên pháp khá hữu hiệu là không ngừng tăng cờng
vốn trong nền kinh tế nhất là nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM. Thông qua
các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, đi vay ngân hàng đã huy
động đợc một lợng vốn khá lớn trong nền kinh tế, giúp giảm dần lợng tiền mặt lu
thông qua đó góp phần giảm áp lực tăng giá cả từ đó giúp ổn định giá trị đồng nội
tệ.
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn sẽ giúp huy động các nguồn vốn nhỏ lẻ
trong xã hội phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế quốc dân,

đóng góp tích cực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc. Bởi lẽ, nó khuyến khích dân c,
tổ chức kinh tế tăng cờng tiết kiệm, tích luỹ tiêu dùng từ đó tăng nguồn nội lực cho
quốc gia, tạo đà tăng trởng kinh tế. Đồng thời mang lại cho họ một khoản thu nhập
từ lãi, qua đó góp phần ổn định, nâng cao đời sống cho ngời gửi tiền, kích thích tiêu
dùng làm tăng sức mua của xã hội.
Hơn nữa, nguồn vốn huy động là cơ sở cho các khoản vay mà từ đó các dự án
khả thi đợc thực hiện khiến cho các ngành nghề mới đợc ra đời, các doanh nghiệp
mở rộng sản xuất kinh doanh tạo thêm công ăn việc làm giúp tăng thu nhập, cải
thiện đời sống cho ngời lao động.
Ngoài ra, qua nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá NHTM đã tạo thêm hàng
hoá cho thị trờng vốn, thúc đẩy thị trờng tài chính, tiền tệ phát triển.

a) Tiền gửi không kỳ hạn:
Là loại tiền gửi mà khách hàng_ngời gửi tiền có thể gửi vào và rút ra bất kỳ
lúc nào. Và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng. Chính vì tính
không ổn định của tiền gửi không kỳ hạn nên với loại tiền gửi này, khách hàng
không đợc trả lãi hoặc lãi suất rất thấp. Tiền gửi không kỳ hạn gồm 2 loại:
- Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): là các khoản tiền gửi không kỳ hạn
trớc hết đợc sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá,
dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh của ngời gửi tiền một các thờng xuyên, an
toàn và thuận tiện.
Đây là loại tiền gửi chủ yếu của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế. Với
loại tiền gửi này khách hàng đợc sử dụng các phơng tiện thanh toán không dùng tiền
mặt nh: séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán...
Tiền gửi thanh toán thờng đợc bảo quản tại ngân hàng trên hai loại tài khoản:
tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai. Đối với tài khoản tiền gửi thanh
toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thờng đợc thực hiện bằng séc hay
chuyển khoản. Khách hàng mở tài khoản này nhằm mục đích đảm bảo thế năng
và sử dụng dễ dàng thuận tiện đồng vốn khi cần. Tài khoản vãng lai là tài khoản có
lúc d nợ, có lúc d có. Với tài khoản này, chủ tài khoản còn có thể đợc ngân hàng đáp
ứng nhu cầu vay vốn trong một khoảng thời gian nhất định.
Đứng trên góc độ NHTM tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân
hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, trong
mỗi ngân hàng do có sự không khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản hay

giữa các tài khoản làm cho xuất lớn hơn nhập (số tiền gửi vào lớn hơn số tiền rút ra)
tạo nên tồn khoản mà NHTM đợc phép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh.
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý (tiền gửi không kỳ phi giao dịch): là khoản
tiền đợc ký gửi với mục đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh
toán. Khi cần khách hàng có thể đến ngân hàng rút tiền để chi tiêu. Cũng nh trờng
hợp trên, ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu rút tiền của khách hàng bất cứ khi nào và
chỉ đợc sử dụng tồn khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả.

Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và TGTK.
Đây là nguồn tiền tơng đối ổn định,ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản
vào kinh doanh. Vì vậy, các NHTM luôn tìm mọi cách đa dạng hoá loại tiền gửi này
bằng việc áp dụng nhiều kỳ hạn với các mức lãi suất khác nhau...
ở các nớc phát triển, tiền gửi có kỳ hạn khá phổ biến và thờng đợc thể hiện
chủ yếu bằng chứng chỉ tiền gửi_CDs và đợc ghi rõ hạn định và giá trị thanh toán.
Việc rút tiền trớc hạn sẽ bị phạt và có thể vợt quá tiền lãi mà khách hàng đợc hởng.
ở Đức, để khắc phục việc rút vốn trớc hạn, NHTM thờng cấp cho khách hàng một
khoản tín dụng mà coi khoản tiền gửi có kỳ hạn là tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Tại VN, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (mà ta th-
ờng gọi là kỳ phiếu ngân hàng có mục đích) đã xuất hiện với các kỳ hạn 3 tháng, 6
tháng...Tuy mới đợc sử dụng trong vài năm gần đây, song trên thực tế tỷ trọng huy
động vốn bằng hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng cao hơn so với các loại hình
huy động khác.
c) Tiền gửi tiết kiệm (tiền gửi chủ yếu của dân c)
Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân ngời lao động cha sử
dụng cho tiêu dùng. TGTK là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ trong lĩnh vực
tiêu dùng cá nhân.
Từ lâu, TGTK đã đợc coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các
NHTM. Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm thờng chiếm một tỷ trọng đáng kể
trong tiền gửi ngân hàng (ở Mỹ chiếm khoảng 25% tổng tiền gửi ngân hàng). Trên
thực tế, trong nền kinh tế thị trờng, TGTK đợc phát triển dới hai loại hình tiết kiệm
sau:
- TGTK không kỳ hạn: là khoản tiền gửi khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc
nào song không đợc sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho ngời khác.
Thực chất đây là khoản TGTK thông thờng. Đối với khoản tiền gửi này, chủ
tài khoản có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không phải báo trớc. Tuy nhiên, số d tài
khoản này thờng không lớn, nhng có u điểm hơn so với các tài khoản tiền gửi giao
dịch ở chỗ: số d này ít biến động. Chính vì vậy, đối với loại tiền gửi này, các NHTM


cũng nh sự tăng trởng tiền gửi không đủ đáp ứng tất cả các yêu cầu xin vay hay đầu
t mà ngân hàng muốn thực hiện? Đòi hỏi các NHTM phải tìm kiếm và sử dụng các

công cụ mới để huy động vốn một cách dễ dàng, đáp ứng nhu cầu vốn của mình.
Đây chính là lý do ra đời kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi.
a) Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
CDs là công cụ vay nợ do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trên thị
trờng với bản chất tơng tự nh một khoản tiền gửi có kỳ hạn. Ngời sở hữu CDs đợc h-
ởng lãi định kỳ và đợc hoàn trả mệnh giá khi đến hạn.
Thời hạn của CDs thờng là ngắn hạn từ 1-3 tháng, hoặc 6 tháng
Sự khác biệt chủ yếu của CDs với các khoản tiền gửi có kỳ hạn là chúng có thể
chuyển nhợng và mệnh giá đợc thống nhất theo một mức giá chuẩn. Vì vậy nó trở
nên hấp dẫn hơn. CDs giúp ngân hàng có thể huy động vốn một cách chủ động mà
không phải phụ thuộc vào tiền gửi của khách hàng.
b) Kỳ phiếu ngân hàng: là giấy nhận nợ của ngân hàng với cam kết trả gốc và lãi sau
một thời gian nhất định.
Kỳ phiếu ngân hàng đợc phát hành thờng xuyên, có thời hạn khá linh hoạt và
phong phú: ba tháng, sáu tháng do vậy, kỳ phiếu có tính ổn định rất cao, tính tập
trung cao và có lãi suất cao hơn so với tiền gửi cùng kỳ hạn, lại có thể chuyển nhợng
nên thu hút đợc khối lợng vốn tơng đối lớn. Kỳ phiếu ngân hàng đợc sử dụng nhằm
mục đích sinh lời và nhằm sử dụng các tài sản tài chính có tính lỏng cao.
c) Trái phiếu ngân hàng: là một công cụ nợ của dài hạn của ngân hàng, với cam kết
thanh toán gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán lãi vào những thời gian xác định.
Trái phiếu dùng để huy động vốn trung và dài hạn phục vụ cho những kế
hoạch phát triển kinh doanh có quy mô lớn và dài hạn với sự ổn định cao về thời hạn
và lãi suất. Trong khi kỳ phiếu đợc phát hành ở từng chi nhánh với khung lãi suất,
thời gian phát hành riêng biệt thì trái phiếu đợc phát hành với quy mô lớn, đồng loạt
trong hệ thống mỗi ngân hàng.
Trái phiếu gồm nhiều loại: có ghi tên, không ghi tên, trả lãi trớc, trả lãi sau,
có thể chuyển nhợng các loại trái phiếu có đặc tr ng là mệnh giá đợc xác định trớc

làm đảm bảo, NHTW sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo sự quản lý của Nhà n-
ớc.
Trong số đó, hình thức thờng gặp là vay tái chiết khấu. Với vai trò là ngời cho
vay cuối cùng, NHTW luôn cho các NHTM vay với một mức giá nhất định: đó là lãi
suất tái chiết khấu. Lãi suất tái chiết khấu đợc NHTW sử dụng nh một công cụ điều
tiết vĩ mô, tuỳ vào yêu cầu điều tiết của nền kinh tế mà lãi suất này có thể đợc nâng
cao hoặc hạ thấp. Để hạn chế tình trạng các NHTM ồ ạt vay vốn, NHTW đã sử dụng
các công cụ nh hạn mức tái chiết khấu hay lãi suất tái chiết khấu. Song dù sao, đây

cũng là sân sau đối với hoạt động huy động vốn nhằm làm gia tăng vốn khả dụng
trong kinh doanh của các NHTM.
b) Vay từ các tổ chức tín dụng khác:
Đó là các khoản vay thông thờng mà các NHTM vay lẫn nhau trên thị trờng
liên ngân hàng hay thị trờng tiền tệ.
Các NHTM thờng sử dụng giải pháp đi vay trong các trờng hợp sau:
+ Thứ nhất: các NHTM thờng chỉ vay NHTW khi không còn giải pháp nào
khác nhằm tránh việc sử dụng tối đa hạn mức tái chiết khấu, mà qua đấy có thể gây
sự chú ý của NHTW.
+ Thứ hai: để tránh việc bị mất đi một khách hàng tốt trong khi ngân hàng
đang có khó khăn về vốn.
1.3.3.4 Các hình thức huy động vốn khác
- Các NHTM có thể thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ các hoạt động uỷ thác
về các dịch vụ xã hội nh: câu lạc bộ giáng sinh, nghỉ hè và các kế hoạch khác đợc
mệnh danh là câu lạc bộ tiết kiệm. Các kế hoạch này đợc tạo ra để khuyến khích
những ngời gửi tiền tiết kiệm ký thác mỗi tuần một số tiền nhất định tại ngân hàng.
Số tiền này sau một thời gian sẽ là một số tiền đủ lớn để ngời giữ tiền trang trải các
chi phí cho các dịch vụ trên. Để mở rộng nguồn vốn này, các NHTM phải không ng-
ờng nâng cao uy tín, phát triển các dịch vụ ngân hàng
- Vốn trong thanh toán: là nguồn vốn phát sinh trong quá trình thanh toán của
NHTM do có sự chênh lệch về thời điểm hạch toán trên tài khoản của khách hàng.

NHTM đến xin vay, và ngợc lại.
+ Dự trữ bắt buộc: tăng cao sẽ làm giảm vốn khả dụng của NHTM, thắt chặt
khả năng tạo tiền của NHTM và ngợc lại.
- Chính sách đầu t của Nhà nớc: hợp lý hay không hợp lý sẽ ảnh hởng trực
tiếp tới môi trờng kinh doanh không chỉ đối với khách hàng mà ngay cả với ngân
hàng, qua đó ảnh hởng đến chính sách huy động vốn của ngân hàng.
b) Tình hình kinh tế xã hội trong và ngoài n ớc
Khi nền kinh tế ở vào thời kỳ tăng trởng, sản xuất phát triển, từ đó tạo điều
kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trờng thuận lợi cho việc thu hút vốn của ngân
hàng. Mặt khác, nó cũng tạo ra môi trờng đầu t cho ngân hàng, từ đó ngân hàng phải
tìm ra biện pháp để huy động vốn sao cho có hiệu quả thiết thực. Khi môi trờng đầu
t đợc mở rộng thì thu nhập của ngân hàng sẽ không ngừng tăng lên, tạo tiền đề cho
việc mở rộng vốn tự có của ngân hàng. Ngợc lại, nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái
sẽ cản trở hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
c) Tâm lý, thói quen tiêu dùng của ngời gửi tiền

Nếu ở những vùng dân c ngời ta quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dới hình thức
cất trữ (vàng, hàng hoá...) là chính thì việc huy động vốn của ngân hàng sẽ gặp khó
khăn. Còn nếu ngời dân có nhu cầu hởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì học gửi tiền
vào ngân hàng nhiều hơn, do đó cơ hội huy động vốn của NHTM sẽ tăng lên...
Mức thu nhập của ngời dân là một trong những yếu tố trực tiếp quyết định
đến lợng tiền gửi vào ngân hàng. Nhìn chung, thu nhập của ngời dân tăng càng cao,
nhu cầu đầu t và giao dịch của họ tăng lên tơng đối so với nhu cầu tiêu dùng, lúc này
nhu cầu mở tài khoản cũng nh gửi tiền vào ngân hàng sẽ ngày một tăng lên.
d) Bảo hiểm tiền gửi
Để lấy đợc niềm tin từ ngời gửi tiền đồng thời bảo vệ lợi ích cho họ tránh đợc
những tổn thất, họ có thể đợc chi trả bảo hiểm tổn thất khi ngân hàng phá sản. Đối
với những ngời gửi tiền nhỏ, họ sẽ đợc công ty bảo hiểm hoàn trả hết số tiền mà họ
gửi tiền vào ngân hàng. Còn đối với những ngời gửi tiền với số lợng lớn thì phần tiền
vợt quá giới hạn bảo hiểm không thuộc trách nhiệm của công ty bảo hiểm mà phụ

d) Các dịch vụ do ngân hàng cung cấp
Nếu một ngân hàng đa ra các dịch vụ tốt và đa dạng thờng có lợi thế hơn các
ngân hàng có dịch vụ giới hạn. Trong điều kiện địa bàn thiếu bãi đậu xe, nếu ngân
hàng có bãi đậu xe, tiện nghi rộng rãi cũng là một lợi thế. Hay nh ngân hàng có
quầy thu cạnh đờng, dịch vụ ngân hàng qua th, các hệ thống chi trả tự động, làm
việc suất ngày đêm, và các dịch vụ nhận tiền gửi đợc cải tiến và tốn ít thời gian...sẽ
là một lợi thế cho ngân hàng trong việc thu hút khách hàng.
e) Công nghệ trong thanh toán và tin học
Ngày nay, công nghệ thanh toán hiện đại, thanh toán không dùng tiền mặt
càng chiếm u thế, thay vì thanh toán bằng tiền mặt, khách hàng chuyển sang thanh
toán bằng thẻ, séc Để thực hiện đ ợc, khách hàng phải mở tài khoản tiền tại ngân
hàng nên ngân hàng thực hiện đợc việc huy động vốn trên các tài khoản này.
Nhờ có hệ thống tin học hiện đại ngân hàng có thể thu thập các thông tin tốt
về khách hàng, về thị trờng, qua đó xác định đợc thị trờng đầu t vốn có hiệu quả,
phát triển nghiệp vụ và các dịch vụ của mình, giúp hạn chế rủi ro, tăng lợi nhuận,
tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng vốn tự có.
f) Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng
- Về phơng diện quản lý: nếu ngân hàng quản lý tốt ngân hàng sẽ đảm bảo đợc an
toàn vốn, tăng uy tín, từ đó sẽ thu hút khách hàng gửi tiền cũng nh vay tiền...

- Về trình độ nghiệp vụ: trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cao, mọi nghiệp
vụ đều đợc thực hiện nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả, từ đó ngân hàng có
điều kiện mở rộng kinh doanh, giảm chi phí hoạt động và thu hút đợc khách hàng.
g) Thái độ phục vụ
Đây là yếu tố mang tính chất chủ quan tác động đến quy mô tiền gửi. Nếu
ngân hàng hoạt động tốt, có danh tiếng lâu đời, các nhân viên luôn cởi mở, nhiệt
tình sẽ tạo đợc uy tín tốt với khách hàng, sẽ ngày càng có nhiều khách hàng đến
giao dịch, gửi tiền và ngợc lại.
Thêm vào đó, một ngân hàng có cơ sở vật chất vững mạnh, một trụ sở làm
việc khang trang, sạch đẹp, phơng tiện làm việc hiện đại sẽ tạo cho ngời gửi cảm

gửi. Với tài khoản này, khách hàng đợc phát hành sổ séc, số d tài khoản đợc tính lãi
hợp lý và số d càng lớn thì lãi suất càng cao. Đi kèm với loại tài khoản này các
NHTM còn cung cấp cho khách hàng một dịch vụ trọn gói gọi là dịch vụ đa năng
bao gồm các loại thẻ đa năng: thẻ ghi nợ, thẻ séc, thẻ ATM...tạo thuận lợi cho khách
hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng từ đó giúp ngân hàng mở rộng diện tiếp xúc
khách hàng, tăng quy mô vốn...
- Tại Pháp: các NHTM lớn thờng đa ra các hình thức mở tài khoản tiền gửi
cá nhân để huy động vốn và thực hiện các dịch vụ ngân hàng nh mở tài khoản cá
nhân chuyên dùng cho những ai có khả năng và muốn giành tiền để tiêu dùng trong
tơng lai. Mức ký gửi lần đầu là 750 Franc, sau đó mỗi lần gửi thêm 150 Franc. Đặc
biệt là sau một thời gian quy định chủ tài khoản có thể đợc ngân hàng cho vay đủ số
tiền chi trả cho việc mua sắm nhà, ô tô...Nếu ký gửi nhiều tiền hơn mỗi lần thì ngân
hàng sẽ trả lãi suất cao hơn tuỳ theo lợng ký gửi. Ký gửi càng nhiều, lãi suất càng
cao...
ở hầu hết các nớc phát triển, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong
lĩnh vực ngân hàng đã hình thành nhiều dịch vụ ngân hàng tiện ích nh tại Anh, Mỹ,
Nhật, Canada...đặt các máy thanh toán (EFTPOS) tại những điểm bán hàng lớn nh:
trạm xăng dầu, siêu thị...cho phép khách hàng có thể thanh toán nhanh chóng, thuận
tiện hàng hoá, dịch vụ thông qua hệ thống điện tử. Ngời mua đợc cấp một tấm thẻ
nhựa, ngời bán kiểm tra thẻ thông qua máy đọc thẻ. Mọi thông tin đợc gửi đến trung
tâm xử lý sau đó đợc gửi đến ngân hàng. Ngân hàng kiểm tra sau đó thông báo đến
cửa hàng xác nhận thanh toán. Tài khoản của ngời mua sẽ tự động bị ghi nợ và ghi
có vào tài khoản của ngời bán. Dịch vụ này giảm tối thiểu tiền mặt trong lu thông từ
đó khắc phục đợc những hạn chế của giao dịch tiền mặt trong nền kinh tế. Nh vậy,
sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhất là các dịch vụ ngân hàng tại

Trích đoạn Mở rộng mạng lới và thời gian giao dịch ổn định môi trờng kinh tế vĩ mô, môi trờng chính trị xã hội –
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status