ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------***---------
NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN -CHI
NHÁNH BẮC HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2015
i
MỤC LỤC
Nội Dung
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
i
Danh mục các bảng
ii
vốn của ngân hàng thƣơng mại
4
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
4
1.2. Khái quát nguồn vốn của ngân hàng thương mại
8
1.2.1 Khái niệm nguồn vốn
8
1.2.2 Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
8
1.3. Huy động vốn của ngân hàng thương mại
11
1.3.1. Mục tiêu huy động vốn của ngân hàng thương mại
11
1.3.2. Vai trò của hoạt động huy động vốn
26
Chƣơng 2: Phƣơng pháp luận và thiết kế luận văn
28
2.1. Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
28
2.2. Phương pháp thống kê và phân tích số liệu thống kê
29
2.3. Phương pháp so sánh
30
2.4. Mô hình Swot
31
2.5. Phương pháp điều tra chọn mẫu
32
2.6. Phương pháp tham vấn chuyên gia
33
3.3.1. Kết quả huy động vốn
61
3.3.2. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn; nguồn vốn huy động/ lao động
65
iii
3.3.3. Đánh giá từ phía khách hàng về chất lượng huy động vốn
67
3.3.4. Thành công của các biện pháp huy động vốn, những hạn chế và nguyên
nhân
71
Chƣơng 4: Giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tại Agribank chi
nhánh Bắc Hà Nội
77
4.1. Định hướng phát triển của Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội
77
4.1.1. Định hướng phát triển
91
4.2.6. Các giải pháp khác
93
4.3. Một số kiến nghị
92
4.3.1. Một số kiến nghị đối với Chính phủ
92
4.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
93
4.3.3. Kiến nghị đối với Agribank Việt Nam
95
KẾT LUẬN
97
Tài liệu tham khảo
99
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh hiện nay khi các chi nhánh ngân
hàng xuất hiện ngày càng nhiều, lạm phát gia tăng, nhiều yếu tố về kinh tế-xã
1
hội tác động bất lợi cho hoạt động của ngân hàng, nguồn vốn nhàn rỗi của dân
chúng, của các tổ chức ngày càng bị phân tán qua nhiều kênh huy động khác
nhau như đầu tư vào chứng khoán, bất động sản, dự trữ vàng và ngoại tệ…khiến
cho công tác huy động vốn của Chi nhánh trong những năm tới sẽ gặp rất nhiều
khó khăn, thách thức. Do đó, phát triển các hình thức mới và hoàn thiện các hình
thức huy động vốn hiện có để đảm bảo và tăng được nguồn vốn huy động trong
những năm tới của Chi nhánh là hết sức cần thiết, để đảm bảo đầu ra, tăng lợi
nhuận, đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho ngân hàng. Đó cũng chính là lý do học
viên lựa chọn tên đề tài: “Phát triển hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Bắc Hà Nội” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình tại trường Đại học Kinh tếĐại học Quốc gia Hà Nội.
Nằm trong chuỗi kiến thức mà khoa Tài chính ngân hàng đang đào tạo về
chuyên ngành Ngân hàng nên đề tài được tác giả đưa ra là rất phù hợp với
chuyên ngành được học và thực sự rất cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế nói
chung và ngành ngân hàng nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn.
2. Câu hỏi nghiên cứu:
- Yếu tố nào tác động đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng?
- Hoạt động huy động vốn của Agribank Chi nhánh Bắc Hà Nội hiện nay
như thế nào? Hạn chế và nguyên nhân?
- Khách hàng đánh giá công tác huy động vốn của Ngân hàng như thế nào?
- Muốn tăng cường huy động vốn cho Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội thì
cần những giải pháp nào?
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và
hoàn thiện hoạt động huy động vốn tại Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội
của ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế luận văn
- Chương 3: Thực trạng huy động vốn tại Agribank Chi nhánh Bắc Hà Nội
- Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tại Agribank Chi
nhánh Bắc Hà Nội.
CHƢƠNG 1
3
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Trong hoạt động ngân hàng, vốn là điều kiện tiên quyết, là cơ sở để
ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Thực tế tại các NHTM hiện
nay, thì vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn, còn lại chủ yếu là
vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác. Do vậy, huy động vốn là điều kiện
đầu tiên, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng
và thực tiễn cho thấy cạnh tranh trên lĩnh vực huy động vốn chính là cuộc
cạnh tranh nóng bỏng và gay gắt nhất của các NHTM. Xuất phát từ thực tiễn
trên, trong thời gian qua vấn đề về vốn và huy động vốn tại các NHTM đã
được rất nhiều các tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu trong một số
vấn đề khoa học, trong các công trình nghiên cứu sinh và một số bài bình
luận trên các tạp chí khoa học như:
Một số các công trình nghiên cứu khoa học:
- Nguyễn Thị Mai, 2009. Giải pháp tăng cường huy động vốn của Ngân
hàng Công thương Ba Đình. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế quốc dân.
- Nguyễn Thị Thanh Hương, 2010. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư phát triển chi nhánh Hoàn Kiếm. Luận
văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc gia Hà Nội.
- Tác giả Nguyễn Minh Kiều, năm 2011 với giáo trình Nghiệp vụ ngân
hàng thương mại của Nhà xuất bản Lao động Xã hội Hà Nội.
Bàn về vấn đề các nguồn huy động vốn của NHTM, các tác giả có khá
nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Nhóm tác giả Nguyễn Minh Kiều, tác
giả Lê Vinh Danh, tác giả Võ Thị Thuý Anh và Lê Phương Dung, tác giả
Nguyễn Thị Hường, tác giả Nguyễn Thị Thủy cho rằng NHTM có thể huy động
vốn dưới các hình thức: nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín
dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại
tiền gửi khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác
để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước; vay vốn của
các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và vay của các tổ chức tín
5
dụng nước ngoài; vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng nhà nước và các hình thức
huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trái ngược với
quan điểm này, các tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Thị Nhung, tác giả Lê
Thị Mận và tác giả Phan Thị Cúc lại cho rằng: nguồn vốn huy động (NVHĐ)
của NHTM không bao gồm nguồn vốn vay. Tác giả Nguyễn Đăng Dờn phân
loại vốn huy động theo tính chất gồm 2 nhóm: vốn huy động định kỳ gồm tiền
gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế (TCKT) cá nhân và tổ chức tín dụng
(TCTD) khác; vốn huy động định kỳ gồm: tiền gửi định kỳ, TGTK (tiền gửi tiết
kiệm) của cá nhân và tổ chức, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Tác giả Vũ
Thu Giang, Vũ Thị Kim Oanh phân chia NVHĐ theo thành phần, gồm: các
NHTM có thể huy động vốn từ dân cư từ TGTK, tài khoản tiền gửi cá nhân,
phát hành chứng từ có giá; huy động từ doanh nghiệp; huy động từ các tổ chức
tín dụng qua vay từ NHTM và các TCTD khác, vay Ngân hàng nhà nước, nguồn
vốn tài trợ ủy thác. Tác giả Vũ Thị Kim Oanh cũng phân loại NVHĐ theo hình
thức và cho rằng: phát hành giấy tờ có giá về bản chất là đi vay nên NHTM huy
qua các chỉ tiêu: chi phí lãi, chi phí phi lãi, cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng
vốn. Tác giả Nguyễn Thị Mai đưa thêm chỉ tiêu chênh lệch lãi suất bình quân
giữa huy động vốn và sử dụng vốn. Tác giả Đỗ Văn Trường sử dụng thêm một
vài chỉ tiêu: sự đa dạng của các hình thức huy động vốn như đa dạng của các
công cụ huy động vốn, đa dạng về kỳ hạn và lãi suất, đa dạng về các loại tiền tệ;
tính thanh khoản của NVHĐ. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương sử dụng thêm
các chỉ tiêu: chi phí huy động biên, xác định lãi suất huy động theo phương pháp
định giá cá biệt, xác định chi phí lãi suất dựa trên tỷ lệ lạm phát và thu nhập kỳ
vọng của người gửi tiền để đánh giá tính hợp lý của chi phí huy động vốn.
Ngoài ra, tác giả cho rằng bên cạnh các tiêu chí định lượng thì các tiêu chí định
tính để đánh giá hoạt động huy động vốn cũng rất quan trọng, đó là độ hài lòng
khách hàng, đảm bảo an toàn vốn huy động, khả năng mở rộng và phát triển
hoạt động, mức độ thuận tiện và lợi ích của khách hàng gửi tiền.
Bàn về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn, nhiều tác giả
đồng quan điểm khi đưa ra các nhân tố chủ quan là chính sách lãi suất; cơ sở vật
chất, trang thiết bị của ngân hàng; mạng lưới hoạt động uy tín, thương hiệu; sự
đa dạng các dịch vụ, sản phẩm huy động, chiến lược kinh doanh; quy mô vốn
7
chủ sở hữu; trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng và các nhân tố khách quan
là pháp luật, chính sách Nhà nước; tình trạng nền kinh tế; môi trường cạnh tranh.
Tác giả Nguyễn Hằng Nga và tác giả Nguyễn Thị Mai cho rằng các yếu tố: hiệu
quả hoạt động cho vay, đầu tư, hoạt động marketing cũng có ảnh hưởng đến
hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời
căn cứ vào tình hình biến động của hoạt động kinh doanh ngân hàng trong
thời gian gần đây, tác giả lựa chọn đề tài “ Phát triển hoạt động huy động
vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Bắc Hà
nhà cửa cho ngân hàng, hoặc cho vay, đặc biệt là có thể đầu tư góp vốn liên
doanh. Nguồn vốn này như một tài sản đảm bảo tạo niềm tin cho khách hàng, là
một nguồn có thể thanh toán cho khách hàng khi ngân hàng hoạt động thua lỗ.
Thông thường, vốn chủ sở hữu chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng thương mại. Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu bao gồm:
nguồn vốn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động,
các quỹ, nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
a) Nguồn vốn hình thành ban đầu
Nguồn vốn hình thành ban đầu là lượng vốn tối thiểu mà doanh nghiệp
cần phải có để bắt đầu hoạt động kinh doanh và đáp ứng điều kiện thành lập
doanh nghiệp. Với mỗi loại hình ngân hàng khác nhau thì có nguồn gốc hình
thành vốn ban đầu khác nhau. Đối với ngân hàng cổ phần thì nguồn ban đầu là
do các cổ đông đóng góp thông qua việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu của ngân
hàng. Ngân hàng quốc doanh thì nguồn ban đầu là do ngân sách cấp. Ngân hàng
tư nhân thì đó là vốn thuộc sở hữu tư nhân. Nếu là ngân hàng liên doanh thì do
các bên liên doanh đóng góp.
b) Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động bao gồm: cổ phần, góp
thêm, cấp thêm, lợi nhuận tích lũy, thặng dư vốn…
Nguồn vốn bổ sung từ cổ phần phát hành, ngân sách cấp thêm: Ngân hàng
có thể phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu…để
bổ sung vốn. Đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh hay liên doanh thì
9
có thể tăng thêm vốn tự có thông qua sự cấp thêm vốn của Chính phủ hay đóng
góp vốn của các bên liên doanh.
c) Các quỹ
Mỗi ngân hàng có nhiều quỹ: quỹ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tổn
thất, quỹ dự phòng rủi ro,..nguồn hình thành các quỹ này từ thu nhập của ngân
thủ tục thanh toán được cải thiện đáng kể, do đó vốn của ngân hàng có được
trong mỗi khoản thanh toán cũng giảm đáng kể.
b.Nguồn vốn ủy thác đầu tư: Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu là
do các tổ chức tài chính ủy thác cho ngân hàng một khoản tiền để ngân hàng
thực hiện cho vay đối với các dự án của mình, cũng có thể là các khoản vay của
chính phủ được ủy thác. NHTM thực hiện các dịch vụ ủy thác như: ủy thác cho
vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân thu hộ…
1.3. Huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại
1.3.1 Mục tiêu huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.3.1.1 Khái niệm
Huy động vốn là toàn bộ chính sách, quy trình, công cụ, sản phẩm qua đó
ngân hàng hoạt động huy động vốn của xã hội. Hoạt động này mang lại nguồn
vốn cho ngân hàng là cơ sở giúp cho các ngân hàng thực hiện các hoạt động
khác như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
1.3.1.2 Mục tiêu huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân
hàng nhưng lại là nghiệp vụ quan trọng góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân
hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Mục tiêu của huy động vốn
không nằm ngoài mục tiêu hoạt động và phát triển của ngân hàng. Huy động vốn
thực chất là khai thác lượng tiền nhàn rỗi huy động được của các tổ chức, cá
nhân để thực hiện các hoạt động của NHTM:
Huy động vốn để cho vay
Huy động vốn để cung cấp các dịch vụ
Huy động vốn để đáp ứng dự trữ bắt buộc
Huy động vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản
Huy động vốn để cải thiện kết quả kinh doanh.
11
12
Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi là hình thức huy động vốn truyền
thống của các NHTM. Ngân hàng muốn phát triển, nâng cao hoạt động kinh
doanh cần phải có nguồn vốn mạnh, vậy ngoài vốn chủ sở hữu, ngân hàng cần
phải huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài gọi là nguồn vốn huy động. Nguồn
vốn huy động của các ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng tới hơn 90% trong
tổng nguồn vốn, là nguồn cơ bản để tài trợ cho các danh mục tài sản của NHTM.
Tùy theo mục đích, tiêu chí huy động khác nhau có các hình thức huy động vốn
khác nhau.
Nguồn tiền gửi là nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ các cá
nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế…trong xã hội thông qua việc nhận
tiền gửi, thanh toán hộ và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Ngân hàng có thể
sử dụng nó để cho vay, chiết khấu, thanh toán…mà không có quyền sở hữu,
đồng thời phải thanh toán cả gốc lẫn lãi khi khách hàng yêu cầu ngay khi
chưa đến hạn. Vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn, thông thường
khoảng hơn 50% tổng nguồn vốn, là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của
ngân hàng.
a) Tiền gửi thanh toán
Tiền gửi thanh toán là tiền do các cá nhân hoặc tổ chức gửi vào ngân hàng
với mục đích gửi, giữ tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân
hàng bằng các phương tiện thanh toán. Thông thường tiền gửi thanh toán hưởng
lãi suất thấp: Lãi suất không kỳ hạn (mức lãi suất thấp nhất), hoặc theo lãi suất
thỏa thuận với khách hàng theo quy định từng ngân hàng. Với hình thức tiền gửi
này, khách hàng có thể thực hiện gửi tiền nhiều lần vào tài khoản, được rút,
thanh toán, chuyển tiền nhiều lần trong phạm vi số dư trên tài khoản bằng các
phương tiện thanh toán (phát hành séc, ủy nhiệm chi). Ngoài ra, khách hàng có
tiền gửi thanh toán còn có thể sử dụng tài khoản này để dùng các sản phẩm tiện
ích của ngân hàng như: thấu chi, thanh toán mua hàng hóa dịch vụ, thông tin tài
dụng các hình thức thanh toán đối với tài khoản thanh toán để áp dụng đối với
loại tiền gửi này. Do đó tính tiện lợi tuy không bằng tài khoản thanh toán nhưng
nó lại đem đến cho người gửi lãi suất cao hơn. Ngân hàng đưa ra các kỳ hạn
khác nhau cho khách hàng lựa chọn như 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12
tháng,…với mức lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, nếu kỳ hạn càng dài thì mức lãi
14
suất càng cao.
c) Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Các tầng lớp dân cư có các khoản thu nhập tạm thời nhàn rỗi chưa sử
dụng đến có thể gửi vào ngân hàng với mục đích đảm bảo an toàn và sinh lời. Ở
các nước phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi tiết kiệm
đứng ở vị trí thứ hai về mặt số lượng.
Tiền gửi tiết kiệm có: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiết
kiệm bằng vàng.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có
thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào
của ngân hàng. Khi sử dụng sản phẩm này, cá nhân có tiền tạm thời nhàn rỗi
muốn gửi tiền vào ngân hàng với mục đích để đảm bảo an toàn và sinh lời
nhưng không có kế hoạch cho tương lai.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền
chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định theo thỏa thuận với ngân hàng nhận
tiền gửi tiết kiệm, có mức lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Khác
với tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được dành cho khách
hàng có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời và thiết lập
được kế hoạch sử dụng đồng tiền trong tương lai. Đa số khách hàng thích lựa
chọn hình thức này là cán bộ, công nhân, viên chức hưu trí. Lãi suất đóng vai trò
quan trọng trong việc thu hút được đối tượng này.
người nắm giữ giấy tờ có giá.
Việc huy động vốn dưới hình thức này, các NHTM thường phải trả lãi
suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động. Do vậy, khi thực hiện huy động
vốn theo hình thức này các ngân hàng phải căn cứ đầu vào, đầu ra để đưa ra
được quy mô huy động, mệnh giá, mức lãi suất, thời hạn và phương pháp huy
động hợp lý.
1.3.3.3 Huy động vốn qua các khoản đi vay
Tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, tuy
nhiên do nguồn vốn này ngân hàng có được một cách thụ động, phụ thuộc vào
người gửi tiền, nên không phải lúc nào ngân hàng cũng dự tính trước được và
đầy đủ nguồn vốn để hoạt động kinh doanh. Khi thiếu nguồn vốn, ngân hàng
16
thường phải chủ động tìm kiếm vốn như vay mượn thêm hình thành nên vốn
vay.
a) Vay các tổ chức tín dụng khác
Thực tế cho thấy hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn không đồng đều
giữa các ngân hàng, ở những thời điểm này có ngân hàng thiếu vốn nhưng lại có
những ngân hàng đang tạm thời thừa vốn, do đó các ngân hàng có thể vay mượn
lẫn nhau. Các ngân hàng có thể mở tiền gửi tài khoản lẫn nhau và trong trường
hợp ngân hàng nào đó thiếu vốn để chi trả cho khách hàng có thể vay tạm ngân
hàng kia để đảm bảo khả năng thanh toán hoặc việc vay mượn này có thể thông
qua ngân hàng đại lý hoặc ngân hàng nhà nước. Sau khi quá trình vay mượn
thành công dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay sẽ
tăng lên.
b) Vay ngân hàng nhà nước
Trong trường hợp cấp bách mà ngân hàng không thể vay được ở các ngân
hàng khác thì có thể vay ở ngân hàng nhà nước, ngân hàng nhà nước đóng vai
trò là người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng thương mại. Hình thức cho
công tác huy động vốn của ngân hàng.
* Chính sách lãi suất
Việc xây dựng một chính sách lãi suất linh hoạt hợp lý là điều kiện giúp
ngân hàng có được nguồn vốn hợp lý về qui mô và cơ cấu. Trong giai đoạn hiện
nay, các ngân hàng thương mại không chỉ cạnh tranh vốn với nhau, mà còn cạnh
tranh với các tổ chức tiết kiệm, các đơn vị phát hành, các công cụ huy động vốn.
Thực tế, chỉ cần một chính sách lãi suất không nhạy bén, một sự khác biệt nhỏ
về lãi suất cũng có thể khiến nhà đầu tư chuyển hướng gửi tiền sang các đơn vị
khác hoặc sang các loại hình đầu tư khác làm giảm nguồn vốn huy động của
ngân hàng.
Chính sách lãi suất huy động tại mỗi ngân hàng được xây dựng theo các
tiêu thức khác nhau, tuy nhiên đa phần các ngân hàng:
Xây dựng chính sách lãi suất phù hợp với từng nguồn tiền huy động: nội
tệ, ngoại tệ;
Theo nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao;
Tuy nhiên, một số ngân hàng lại xây dựng chính sách lãi suất cao hơn
18
hoặc thu phí dịch vụ thấp hơn các NHTM khác. Chính sách lãi suất này thường
được áp dụng đối với những ngân hàng mới thành lập, nguồn vốn còn thiếu. Họ
đưa ra các chính sách này nhằm tăng vốn lưu động để có thể cạnh tranh trên thị
trường. Hoặc đối với những ngân hàng muốn tăng nhu cầu vốn, mở rộng thị
trường, hoặc đáp ứng nhu cầu thanh khoản, cần tiền cho một dự án lớn thì họ
cũng có thể áp dụng các hình thức này. Tuy nhiên, hình thức này thường không
được các ngân hàng áp dụng thường xuyên, chỉ áp dụng trong từng thời kỳ vì sẽ
làm tăng chi phí, giảm thu nhập.
Hiện nay, nhiều ngân hàng xây dựng chính sách lãi suất dựa trên mối
quan hệ tổng thể với khách hàng. Ngân hàng quy định mức phí thấp hơn và mức
* Chính sách về cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại
Ngày nay, với công nghệ ngày càng hiện đại, việc phát triển các dịch vụ
mới tại các ngân hàng ngày càng thu hút khối lượng khách hàng cá nhân đến
giao dịch, mở tài khoản.
Với các dịch vụ ngân hàng tự động qua điện thoại hoặc qua internet khách
hàng có thể kiểm tra số dư trên tài khoản, kiểm tra các giao dịch gần nhất, thông
tin về tỷ giá hoặc lãi suất.
Dịch vụ ngân hàng tại gia (homebanking): với dịch vụ này khách hàng có
thể thực hiện được hầu hết các giao dịch ngân hàng tại nhà hoặc tại văn phòng
làm việc của mình mà không cần đến ngân hàng.
Ngoài ra việc cung cấp các hệ thống máy POS, máy rút tiền tự động cũng
giúp cho ngân hàng có được một khoản tiền gửi (chủ yếu tiền gửi không kỳ hạn)
tương đối.
* Chính sách quảng cáo, tiếp thị
Một chính sách giá tốt, tiện ích của sản phẩm tốt cũng sẽ trở nên vô ích
nếu không được khách hàng biết đến. Tiếp thị, quảng cáo sẽ giúp khách hàng
hiểu biết rõ hơn về bản thân ngân hàng, các loại dịch vụ của ngân hàng để đưa ra
quyết định cuối cùng về việc gửi, vay tiền tại ngân hàng, đặc biệt là đối với
những sản phẩm mới. Đồng thời, quảng cáo tiếp thị sẽ giúp tăng doanh số của
ngân hàng, thu hút những khách hàng mà đội ngũ cán bộ nhân viên của ngân
hàng chưa tiếp cận được.
20
1.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả huy động vốn
Vốn chủ của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn,
vốn nợ là nguồn chủ yếu của ngân hàng. Để đánh giá được kết quả huy động
vốn có nhiều chỉ tiêu khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu. Trong phạm vi
của đề tài nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá kết quả nguồn vốn huy động dựa trên
các yếu tố: quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, lãi suất huy động