Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Dân số và phát triển là mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam và nhiều quốc
gia trên thế giới hiện nay .Đảng và Nhà Nước ta luôn quan tâm chú ý đến việc
nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động .Để thực hiện
được mục tiêu đó Chính Phủ phải lập các kế hoạch phát triển Kinh tế –Văn hóa
– Xã hội như sử dụng lao động, giáo dục -đào tạo, chăm sóc sức khỏe, chính
sách dân số cũng như các vấn đề xã hội khác ...Và số liệu về dân số và lao động
là một trong những căn cứ khoa học. Chúng ta thường tiến hành các cuộc tổng
điều tra dân số để có số liệu .Đây là nguồn số liệu tin cậy nhất về qui mô, cơ cấu
và phân bố dân cư nhưng việc làm đó đòi hỏi nhiều công sức, thời gian và tiền
của nên không thể tiến hành hàng năm được mà phải mười năm mới có thể làm
một lần .Trong khi đó công tác kế hoạch phát triển các cấp, các ngành đòi hỏi
phải có những số liệu mới nhất .Công tác dự báo trở thành nhu cầu cấp thiết của
thực tế .Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Bằng phương pháp chuyển tuổi
(phương pháp thành phần) hãy dự báo dân số và xác định dân số trong độ tuổi
lao động Việt Nam đến năm 2010”. Nghiên cứu đề tài này mong muốn góp phần
nhỏ bé của mình vào việc đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó.Tuy nhiên để có một kết
quả dự báo tổng hợp chính xác cần có một sự hiểu biết chuyên môn sâu và
nghiên cứu trong một khoảng thời gian dài .Do thời gian và trình độ có hạn nên
đề án của em không thể tránh khỏi những thiếu sót .Em rất mong nhận được sự
tham gia đóng góp ý kiến tận tình của thầy cô và các bạn để đề án được hoàn
chỉnh .
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Tiến sĩ Lê Huy Đức người đã tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian qua.
1
Đề án môn học
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN SỐ VÀ LAO
ĐỘNG VIỆT NAM
I. Tình hình dân số và lao động Việt Nam
Đề án môn học
Quy mô dân số lớn, nguồn lao động dồi dào là sức mạnh của một quốc gia,
là yếu tố cơ bản để mở rộng sản xuất .Nhưng nó cũng là nỗi lo đối với các quốc
gia chậm phát triển vì khả năng mở rộng sản xuất của các nước này hạn chế, dân
số đông sẽ giảm chất lượng cuộc sống. Như vậy phải có chính sách phát triển
dân số hợp lý.
2.Tình hình dân số và lao động nước ta hiên nay
Dân số và lao động nước ta hiện nay có mối quan hệ theo xu hướng hai.
Nhờ thực hiện thành tốt công tác Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), tỷ lệ dân số
nước ta trong thập kỉ qua đã giảm đáng kể nhưng vẫn còn lớn so với các nước
trên thế giới. Chúng ta vẫn đứng thứ 13 thế giới về đông dân.Mức sinh Việt
Nam vào loại trung bình Đông Nam Á. Nhưng có sự chênh lệch lớn về tỉ lệ sinh
giữa các vùng, các dân tộc, sự gia tăng dân số ở các vùng miền núi, dân tộc thiểu
số vẫn còn cao. Chất lượng dân số chưa cao các chỉ tiêu về dân số của nước ta
đứng ở mức trung bình thế giới .
Do mức sinh của những năm 70-80 của nước ta cao nên lực lượng lao động
hiện nay có quy mô lớn với tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số.
Bảng 1-Tổng số dân và dân số trong độ tuổi từ 15-59 ở Việt Nam
Đơn vị: triệu người
chỉ tiêu 1979 1989 1999
Tổng số dân 52,742 64,375 76,325
Số dân trong độ tuổi tuổi từ 15-59(
P
5915−
)
26,57 34,55 45,03
Tỷ lệ gia tăng dân số (%) 2,0 1,7 1,3
Tỷ lệ gia tăng
P
5915−
)
Mật độ dân số
(người /km
2
)
C nả ư cớ 82032,3 329314,5 249
1.Đồng bằng sông Hồng 17836 14812,5 1204
2. Đông Bắc Bộ 9244,8 63629,8 145
3. Tây Bắc Bộ 2524,9 37336,9 68
4. Bắc Trung Bộ 10504,5 51510,8 204
5. Duyên hải Nam Trung Bộ 6981,7 33069 211
6. Tây Nguyên 4674,2 54473,7 86
7. Đông Nam Bộ 13190,1 34743,1 380
8. Đồng bằng sông Cửu Long 17076,1 39738,7 430
Nguồn: trang web của Tổng cục Thống kê, dân số và lao động, tháng 9-2005
www.gso.gvo.vn
Để đảm bảo cuộc sống cho mọi người theo tiêu chuẩn quốc tế mật độ bình
quân chỉ khoảng 35-40 người / km
2
.Như vậy mật độ dân số nước ta đã gấp 6-7
lần so với mật độ chuẩn, cao gấp 2 lần so với Trung Quốc và gấp 10 lần so với
các nước đng phát triển.Điều này cho thấy quy mô dân số nước ta rất lớn, với
tốc độ nhanh theo kết quả điều tra thống kê sau 85 năm dân số nước ta tăng lên
gấp 5, 3 lần trong khi đó cũng cùng thời gian đó dân số thế giới chỉ tăng gấp 3, 6
lần.
Việc tăng dân số nhanh trong khi điều kiện kinh tế –xã hội còn chưa phát
triển là một thách thức đối với quá trình công nghiệp hóa hiện đai hóa đất nước,
đặt nước ta trước nguy cơ tụt hậu.Chúng ta cần tăng cường công tác kế hoạch
hóa đảm bảo giảm sinh một cách vững chắc.
4
1954-1960 3.93
1960-1965 2.93
1965-1970 3.24
1970-1976 3
1976-1979 2.16
1979-1989 2.1
Nguồn: Dân số Việt Nam, Tổng
điều tra dân số VN-1989, NXB
Thống kê HN-1992,tr.6
tØ lÖ t¨ng d©n sè ViÖt Nam 1921-
1989
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
4.5
1921-1926
1931-1936
1939-1943
1951-1954
1960-1965
1970-1976
1979-1989
thêi k×
tØ lÖ t¨ng %
đối về giới ở nước ta do hậu quả của chiến tranh .Nhưng từ năm 1990 đến nay tỷ
lệ giới tăng dần.
Bảng 3 -Tỉ số giới tính qua các năm 1990-2004
Năm 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004
Tỷ lệ
giới(%) 95,24 95,43 95,69 96,13 96,67 96,70 96,71 96,65
Nguồn: trang web của Tổng cục Thống kê, dân số và lao động, tháng 9-2005
www.gso.gov.vn.
Tỷ lệ giới tính phụ thuộc vào ba yếu tố: Tỉ lệ giới lúc sinh , sự khác nhau
về mức độ tử vong giữa nam và nữ và sự biến động cơ học giữa nam và
6
8 6 4 2 0 0 2 4 6
8
8 6 4 2 0 0 2 4
6 8
Đề án môn học
nữ.Theo số liệu Thống kê cho thấy tỷ lệ giới tính lúc sinh ở nước ta năm 1989 là
106 (có nghĩa là cứ 100 bé gái sinh ra có 106 bé trai), năm 1999 là 105.
Điều đáng quan tâm là từ đầu năm 2005 đến nay nước ta có hiện tượng
mất cân bằng giới tính khi sinh. Số bé trai mới sinh là 289.126 em và số bé gái
là 216.585, tỷ số giới tính là 110,8 nam /100 nữ (www.vietnamnet.vnn ngày
20/9/2005).Do tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, nhờ có công nghệ ngày càng
phát triển, các cặp vợ chồng thường thăm khám trước khi sinh nhằm sinh con
theo ý muốn.
Khi tuổi càng cao thì mức tử vong của nam thường cao hơn của nữ nên tỉ lệ
giới giảm dần theo tuổi, ví dụ năm 1999 ở tuổi trên 60 tỷ lệ giới chỉ còn khoảng
75%. Và tỉ lệ giới ở thành thị cao hơn nông thôn.Năm 1979 tỷ lệ giới thành thị là
91 còn nông thôn là 86 đến năm 1989 sự chênh lệch đã giảm đáng kể ở thành thị
là 93 và nông thôn là 92.
2.2. Cơ cấu theo tuổi3
80+
8 6 4 2 0 0 2 4 6
8
Nam
Nữ
Thap dan so. Viet Nam, 1999
8 6 4 2 0 0 2 4
6 8
Nam
Nữ
Thap dan so. Viet Nam, 2004
0-4
5-9
10-14
15-19
20-24
25-29
30-34
35-39
40-44
45-49
50-54
55-59
60-64
65-69
70-74
75-79
80+
Đề án môn học
Và đỉnh tháp có sự “nở ra”, cho thấy dân số nước ta bắt đầu có hiên tượng
Trong các số đo về mức sinh thì người ta thường dùng tổng tỉ suất sinh
(TFR) và tỷ suất sinh thô (CBR) để so sánh mức sinh giữa các vùng khác nhau
hoặc qua các thời kì khác nhau.Và để xem xét về tiềm năng sinh chúng ta
thường xem xét chỉ tiêu tỉ suất sinh đặc trưng theo nhóm tuổi phụ nữ (AFSR) .
8
Đề án môn học
a- Tỷ suất sinh thô (CBR) và tổng tỷ suất sinh (TFR)
Tỷ suất sinh thô (CBR) là số trẻ em sinh bình quân năm tính trên 1000
dân.Tổng tỷ suất sinh (TFR) thì cho biết số con trung bình được sinh ra bởi một
phụ nữ trong suốt thời kì sinh đẻ trong một năm nào đó.
Biểu3-Xu hướng thay đổi tổng tỷ suất
sinh(T FR)1998-2003
2.5
2.25
2.2 8
2.1 2
2.2 3
1.9
2
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
Năm
199 8
Năm
2000
Nă m
2003
CBR
Nguồn: Số liệu từ trang web của Tổng cục Thống kê, dân số và lao động, tháng
9-2005 www.gso.gov.vn.
Trong thời gian qua, công tác dân số ở Việt Nam được tiến hành đồng bộ,
có hiệu quả, kiềm chế được mức sinh dân số. Số con trung bình của một phụ nữ
(TFR) trong tuổi sinh đã giảm rõ rệt, từ 2,5 con năm 1998 giảm xuống còn 2,25
con năm 2000 và tỷ suất sinh thô (CBR) giảm tương ứng từ 21% xuống còn
18,6%. Tuy nhiên, từ năm 2000 đến nay, Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu biến
động về mức sinh .Thời kỳ 2000-2002 tăng nhẹ, sau đó giảm mạnh, và năm
2002 chúng ta đã đạt được mức sinh thay thế 2,12 con/phụ nữ. So với các nước
trong khu vực TFR của chúng ta thấp hơn mức trung bình trong khu vực.
Tổng tỷ suất sinh (TFR) của ASEAN và Việt Nam:
- Indonesia 2002: 2,3
- Malaysia 2002: 3.1
- Myanmar 2002: 2.9
- Philippine 2002: 3.2
- Singarpore 2002: 1.6
- Thailand 2002: 1.8
- Việt Nam 2002: 2.12
- 2003: 2.23
Nguồn : Trang web của Tổng cục Thống kê(www.gso.gov.vn) ,dân số và lao
động, tháng 9-2005
9
Đề án môn học
Nhưng năm 2003, mức sinh lại tăng trở lại, tình trạng sinh con thứ 3 tăng ở
các địa phương.
Bảng 5: 10 tỉnh đứng đầu cả nước về tăng tỷ lệ sinh con thứ 3
(Năm 2004)
Tỉnh Tỉ lệ Tỉnh Tỉ lệ
1. ĐB
Sông
Hồng
2. Đông
Bắc
3. Tây
Bắc
4. Bắc
Trung
bộ
5. Nam
Trung
bộ
6. Tây
Nguyên
7. Đông
Nam b ộ
8. ĐB
sông
Cửu
Long
TFR( con/phụ nữ)
Nguồn: Số liệu trang web của Tổng cục Thống kê, dân số và lao động, tháng
9 -2005 www.gso.gov.vn.
10
Đề án môn học
b-Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi(AFSR)
Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi(AFSR)được định nghĩa là một tỷ lệ tính
bằng đơn vị phần nghìn của số trẻ em do những phụ nữ thuộc nhóm tuổi (X)
sinh ra chia cho dân số nữ trung bình của nhóm tuổi (X) đó.
45-49 1 1 2
TFR 2.23 1.87 2.38
Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của phụ nữ có sự thay đổi với xu hướng
ngày càng tăng số phụ nữ sinh con vào nhóm tuổi 25-29,giảm nhanh số phụ nữ
11
Đề án môn học
sinh con vào nhóm tuổi 40-49.Nhóm 20-24 và 25-29 có vai trò quyết định đến
độ lớn và tốc độ giảm mức sinh.
Bi ểu 4-T ỷ su ất sinh đ ặc trưng(ASFR),
Vi ệt Nam các năm 1989,1999,2004
0
50
100
150
200
250
15-
19
20-
24
25-
29
30-
34
35-
39
40-
44
45-
49
- Philippine 2001: 5,2
-Singapore 2001: 4,5
-Thailand 2001: 6,0
-Việt Nam 2001: 5,8
Nguồn : Trang web của Tổng cục Thống kê(www.gso.gov.vn) ,dân số và lao
động, tháng 9-2005
Biểu5-Tỷ suất chết thô(CDR) của
Việt Nam 1989-2003
8.4
5.6 5.6
5.8 5.8
5.4
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Năm
1989
Năm
1998
Năm
2000
Năm
2001