Thực trạng chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình tại Ba Vì 2006 - 2007 - Pdf 12

NGUYỄN QUỐC TOẢN – Thực trạng chăn nuôi bó sữa quy mô hộ
1
THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI BÒ SỮA QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH
TẠI BA VÌ 2006 - 2007
Nguyễn Quốc Toản1*, Adam Pain
2
và Vũ Chí Cương
3
1
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội
2
Swedish University of Agricultral Sciences
3
Viện Chăn nuôi - Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội
Tác giả liên hệ: Nguyễn Quốc Toản – Trung tâm NC bò và đồng cỏ Ba Vì – Hà Nội
Tel: (034) 3.881.040 / 0946.651.244; Fax: (034) 3.881.404; Email: toanhoangq@ yahoo.com
ABSTRACT
The situation of dairy production in smallholders in Bavi district, Hatay Province
in the years 2006 and 2007
Starting from the hypothesis that attributes the improvement of income and livelihood stability for small scale
farmers to dairy production, this study uses a variety of methods such as literature study, semi-structure
interview and focus group discussion to identify the conditions under which small scale farmers can get profits
and benefits for improving their living standards. Simultaneously, the study identifies major opportunities as well
as main constraints for dairy production development in Vietnam. The study was carried out in Bavi District
belonging to Hatay province next to Hanoi Capital in the west. The data and information collected from the field
work have been processed by using SPSS 12.0 softwares to provide the case study with supporting evidences in
details. The study realized a depression of dairy cattle population in Bavi in 2006 due to the main cause of low
milk price. The study also realized that 42.5 % of the total number of the stop-dairy farmers want to restart
keeping dairy cattle for their livelihood. The major opportunities for farmers to develop dairy production
comprise supporting policies from the government, the establishment of milk collection system, the acceptable
price for raw milk which covers all farmer’s input production cost, and dairy activities being operated as a

tra thực trạng chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình tại Ba vì những năm 2006-2007” nhằm đạt
được các mục tiêu sau: Tìm hiểu nguyên nhân gây ra sự suy thoái trong chăn nuôi bò sữa tại
Ba vì giai đoạn từ đầu năm 2006 đến đầu năm 2007; Xác định các nét đặc trưng của chăn nuôi
bò sữa quy mô hộ gia đình với các khía cạnh đặc điểm hộ gia đình (tuổi và trình độ văn hoá
trung bình của chủ hộ, số nhân khẩu, số lao động, và số trẻ em trong gia đình), đất đai và tình
hình sử dụng, tình hình chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng trong hộ gia đình,
tổng thu nhập tiền mặt trung bình của các hộ gia đình và vai trò của chăn nuôi bò sữa góp
phần vào tổng thu nhập đó; Thảo luận về các cơ hội và các khó khăn cần khắc phục trong
chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại huyện Ba vì là huyện có đàn bò sữa lớn nhất
tỉnh Hà tây.
Thời gian : Đề tài được thực hiện từ tháng 6/2006 đến tháng 3/2008.
Điều tra lấy mẫu
Chọn ngẫu nhiên 9 xã trong tổng số 23 xã có ngành chăn nuôi bò sữa trong toàn huyện. Mỗi
xã chọn ngẫu nhiên 10 hộ gia đình trong danh sách các hộ gia đình đã từng nuôi bò sữa và
đang nuôi bò sữa (danh sách được cán bộ khuyến nông chuyên trách về chăn nuôi của xã cung
cấp).
Thu thập thông tin
Thông tin thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết và báo cáo thống kê có liên quan tới
chăn nuôi bò sữa từ cấp độ xã tới Trung ương; Thông tin cơ bản được thu thập trực tiếp tại cơ
sở thông qua việc áp dụng phương pháp PRA (Participatory Rural Approach), xây dựng và áp
dụng bảng hỏi tại từng hộ gia đình đã được lựa chọn.
Xử lý và phân tích thông tin
Thông tin đã thu thập được xử lý và phân tích bằng các công thức và các mẫu thiết kế thích
hợp trong phần mềm SPSS 12.0.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Ba vì
Ba Vì, với điều kiện tự nhiên và khí hậu thích hợp, đã được quy hoạch thành vùng chăn nuôi
bò sữa từ thời Pháp thuộc và đã trở thành “cái nôi” của ngành chăn nuôi bò sữa ở miền Bắc

0
50
100
150
200
250
300
350
2001 2002 2003 2004 2005 2006 Mar-
07
Sep-07
Năm
So lương bo sưa (con)
Co Do
Phu Cuong
Phu Chau
Chu Minh
Tien Phong
Phu Dong
Van Thang
Tan Linh
Van Hoa
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 15-Tháng 12-2008
4
Bảng 1. Tuổi trung bình chủ hộ và số nhân khẩu trong gia đình
Hộ Gia đình
Tuổi
TB chủ hộ
Số
nhân khẩu

4,51
2,94
1,57
Tổng
(n = 90)
SD
7,08
1,38
1,02
1,01
Không có sự sai khác về trình độ học vấn của chủ hộ giữa hai nhóm hộ gia đình (P=0,584).
Điều này được thể hiện ở Bảng 2.
Bảng 2. Trình độ văn hoá của chủ hộ gia đình
Hộ GĐ
Trình độ VH
Số lượng
(%)
Tiểu học
2
4,0
Trung học cơ sở
27
54,0
Trung học phổ thong
21
42,0
Đang nuôi
bò sữa
n=50
Tổng cộng

842,40
201,80
1222,00
4545,28
Đang nuôi Bò
sữa (n=50)
SD
100,66
1462,33
1121,32
566,46
1074,80
3124,81
Mean
359,30
1629,00
536,75
7,50
54,00
2586,55
Dừng nuôi Bò
sữa (n=40)
SD
78,92
888,12
577,07
47,43
130,18
1246,64
Không có sự sai khác đáng kể về diện tích đất ở và diện tích đất trồng trọt giữa hai nhóm hộ

8,20
Đang
nuôi BS
(n=50)
SD
1,39
0,41
0,60
6,24
499,63
42,99
Mean
0,00
0,03
0,10
10,80
354,38
0,00
Dừng
nuôi BS
(n=40)
SD
0,00
0,16
0,50
9,74
1320,67
0,00
Phần lớn các hộ gia đình chăn nuôi gà thả vườn, quy mô nhỏ. Mặc dù có những hộ nuôi hàng
ngàn con gà theo phương thức công nghiệp nhưng số hộ nuôi gà với quy mô trên 100 con chỉ

1,41
,29
Minimum
9
1,0
Dừng nuôi
bò sữa
(n=40)
Maximum
17
2,5
Thu nhập tiền mặt trung bình
Bảng 6. Thu nhập tiền mặt của hai nhóm hộ gia đình
Hộ GĐ
Thu nhập 2006
Thu nhập 2007
Mean
26.760.000,00
32.400.000,00
Đang nuôi BS
(n=50)
SD
7.324.992,16
9.255.996,40
Mean
21.350.000,00
25.400.000,00
Dừng nuôi BS
(n=40)
SD

Diện tích trồng cỏ và các loại cây thức ăn gia súc còn nhỏ hẹp và manh mún, điều này được
thể hiện rõ tình hình sử dụng đất đai nêu ở Bảng 3 trên đây; Quyền sử dụng đất đai còn hạn
chế. Hầu hết các hộ gia đình được phỏng vấn đều chỉ có quyền sử dụng đất đai cho trồng trọt
và chăn nuôi trong thời hạn 10-20 năm. Điều này dẫn tới tâm lý hạn chế đầu tư của hộ gia
đình chăn nuôi bò sữa.
Nếp nghĩ và thói quen chăn nuôi truyền thống của chính hộ gia đình nông dân. Kết quả phỏng
vấn cho thấy, mặc dù 100% các hộ chăn nuôi bò sữa đã được tham gia đào tạo, tập huấn ở các
khoá học được tổ chức bởi nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau nhưng việc áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật trong chăn nuôi vẫn còn hạn chế bới vì cách chăn nuôi theo truyền thống vẫn được áp
dụng trong các hộ gia đình.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Có suy thoái trong chăn nuôi bò sữa tại Ba vì năm 2006 và đầu năm 2007, nguyên nhân chủ
yếu do giá sữa thấp. Do đó, việc phối kết hợp giữa các cơ quan, ban ngành hữu quan và các cơ
sở doanh nghiệp nhằm ổn định giá sữa hợp lý cho bà con nông dân là điều hết sức cần thiết.
NGUYỄN QUỐC TOẢN – Thực trạng chăn nuôi bó sữa quy mô hộ
7
Các hộ đang chăn nuôi bò sữa có lợi thế hơn các hộ dừng chăn nuôi bò sữa về lao động, diện
tích đất đai và thu nhập tiền mặt; các hộ đang chăn nuôi bò sữa sở hữu các con giống có khả
năng sản xuất sữa cao hơn các hộ đã ngừng nuôi.
Chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình có nhiều cơ hội để tiếp tục phát triển tại Ba vì. Chính vì
vậy, 42,5% trong tổng số 40 hộ dừng chăn nuôi bò sữa có ý định tiếp tục nuôi bò sữa trở lại.
Cần tiếp tục nghiên cứu về động thái phát triển của chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình trong
giai đoạn tích tụ đất đai hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cục Chăn nuôi, (2005; 2006). Báo cáo hàng năm.
Lê Viết Ly, Bùi Văn Chính, Cù Xuân Dần, và Đỗ Văn Minh, (2002). Điều tra khảo sát về việc sử dụng các
nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn gia súc trong điều kiện chăn nuôi quy mô hộ gia đình ở Việt
nam. Viện Chăn nuôi Quốc gia, Hà nội, Việt nam.
Luthi Nancy Bourgeois, Lucafabozzi, Patrice Gaufier, Pham Quang Trung and Dominic Smith, (2006). T ổng kết,
phân tích và phổ biến kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa Việt nam. FAO, Tháng 6/2006.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status