NGUYỄN ĐỨC TRỌNG – Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của con lai giữa vịt cỏ
1
ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA CON LAI
GIỮA VỊT CỎ VÀ VỊT TRIẾT GIANG
Nguyễn Đức Trọng
1
, Nguyễn Văn Duy
1
, Hoàng Văn Tiệu
1
, Vương Thị Lan Anh
1
, Đặng Thị Vui
1
,
Nguyễn Thị Thúy Nghĩa
1
, Đồng Thị Quyên
1
, Vũ Hoàng Trung
3
và Hoàng Văn Trường
1
1
Viện Chăn nuôi,
2
Trạm khuyến nông Phú Xuyên
Tác giả liên hệ: Nguyễn Đức Trọng - Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên - Phú Xuyên - Hà Nội.
Con lai giữa vịt Cỏ và vịt Triết Giang.
♂ Triết Giang (T) x ♀ Cỏ (C) ♂ Cỏ (C) x ♀Triết Giang (T)
♂ Triết Giang x ♀ TC ♂ Triết Giang x ♀ CT
TTC TCT
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 33. Tháng 12/2011 2
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2007 - 9/2010
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên - Phú Xuyên - Hà Nội, Trại An
Nhơn Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền Trung.
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu về một số đặc điềm ngoại hình và khả năng sản xuất của con lai giữa vịt Cỏ và vịt
Triết Giang.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp bố trí thí nghiệm
Mỗi thí nghiệm gồm 190 con 1 ngày tuổi (160 mái + 30 đực), hậu bị gồm 148 con (130 mái +
18 đực), sinh sản gồm 130 con (115 mái + 15 đực), mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần (lần 1:
53 mái + 10 đực, lần 2: 53 mái + 10 đực, lần 3: 54 mái + 10 đực).
Chỉ tiêu theo dõi
Đặc điểm ngoại hình của con lai, tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi, một số chỉ
tiêu về sinh sản, chất lượng trứng, ấp nở
Phương pháp xác định các chỉ tiêu.
Xác định đặc điểm ngoại hình : bằng cách quan sát màu lông, màu mỏ và màu chân của vịt
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn thị Minh (2007), màu lông của vịt Triết Giang và con lai của
chúng (TG x Cỏ cánh sẻ) là ổn định cả giai đoạn vịt con và giai đoạn trưởng thành.
Đối với vịt Cỏ thuần có màu cánh sẻ còn gọi là màu con cà cuống, cổ ngắn, vịt Triết Giang thì
có màu cánh sẻ rất nhạt, mình thon, đầu nhỏ, cổ rất dài. Còn đối với con lai có màu lông trung
gian giữa vịt Cỏ và vịt Triết Giang. vịt mái khi trưởng thành có con màu trắng tuyền với số
lượng rất ít (1-2%).
Bảng 2. Đặc điểm ngoại hình của vịt lai
Vịt mới nở Vịt trưởng thành
Màu lông Vàng nhạt, có
ph
ớt đen ở đầu,
đuôi
Con mái có màu cánh sẻ nhạt hơn vịt Cỏ và đậm hơn vịt
Triết Giang, có 1- 2% trắng truyền. Con trống có lông ở đầu
xám hoặc xanh đen, cổ có khoang trắng, phần thân có màu
nâu đỏ xen lẫn lông trắng, phần đuôi có lông màu xanh đen
có 2 - 3 lông móc rất cong.
Đầu, cổ - Đầu nhỏ, cổ thon nhỏ và dài
Thân hình - Rất thon nhỏ, dáng đứng lớn hơn góc 45
0
so với mặt đất
Mỏ và
chân
Màu vàng nhạt;
có con hơi
xám; xám đen
Vàng và vàng nhạt có con hơi xám
Tỷ lệ nuôi sống của vịt ở các tuần tuổi
Qua theo dõi trên đàn vịt lai, vịt đối chứng từ một ngày tuổi đến 20 tuần tuổi, kết quả tỷ lệ
nuôi sống được trình bày ở Bảng 3 và Đồ thị 1.
TTC có khối lượng là 844,35g và thấp nhất là khối lượng cơ thể của vịt Triết Giang đạt
821,58g, sự sai khác về khối lượng giữa các lô thí nghiệm với P < 0,05. Khối lượng vào đẻ
của vịt thí nghiệm cao nhất ở vịt Cỏ đạt 1263,38g; vịt CT có khối lượng là 1195,28g; vịt TCT
là 1189,32g; vịt TC là 1169,37g; vịt TTC đạt 1096,75g và thấp nhất ở vịt Triết Giang là
1084,74g có sự sai khác về khối lượng cơ thể vào đẻ với P < 0,05.
Bảng 4. Khối lượng của vịt lai qua các tuần tuổi (n = 30)
Tuần tuổi
TSTK TC CT TTC TCT TG Cỏ
Mean 42,90
a
40,06
b
42,03
a
42,70
a
27,11
c
42,61
a
1 NT
SD 2,62 2,36 1,60 2,09 1,02 2,98
Mean 519,32
b
527,09
b
504,37
c
511,59
c
1085,62
a
12
SD 36,79 28,93 33,62 30,15 35,50 52,67
Mean 1157,55
b
1190,31
ab
1081,33
c
1184,67
b
997,92
d
1205,85
a
16
SD 47,46 46,42 40,01 50,94 42,01 55,62
Mean 1169,37
b
1195,28
b
1096,75
c
1189,32
b
1084,74
c
1263,38
tuần (Nguyễn Thị Minh và Lê Thị Phiên, 2006), con lai F1 (đực Cỏ x mái Khaki Campbell)
có tuổi đẻ là 20 tuần tuổi (Trần Thanh Vân, 1999).
Bảng 5. Một số chỉ tiêu sinh sản của vịt thí nghiệm
Chỉ tiêu ĐVT TC CT TTC TCT TG Cỏ
Tuổi đẻ tuần 18 19 18 18 17 21
Tỷ lệ đẻ % 77,46 71,47 77,66 72,09 73,11 69,99
NST/mái/năm quả 280,65 260,62 282,68 262,40 266,54 254,97
TTTA/con/ng g 134,75 135,08 134,52 136,7 122,98 137,46
TTTA/10 trứng kg 2,04 2,16 2,10 2,15 2,11 2,19
Từ kết quả bảng trên cho thấy tỷ lệ đẻ của con lai là cao, cao nhất của con lai TTC (đực Triết
Giang x TC), đạt tỷ lệ đẻ trung bình 77,66% năng suất trứng tương ứng là 282,68 quả/mái/52
tuần đẻ, tiếp đến là tỷ lệ đẻ của vịt lai TC (đực Triết Giang x mái Cỏ) 77,46% năng suất trứng
tương ứng là 280,65 quả/mái/52 tuần đẻ. Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng tương ứng của vịt lai
TCT là 72,09% và 262,40 quả/mái/52 tuần đẻ, ở vịt lai CT là 71,47% và 260,62 quả/mái/52
tuần đẻ. Tỷ lệ đẻ của vịt Triết Giang đạt 73,11% với năng suất trứng là 266,54 quả/mái/52
tuần đẻ và thấp nhất ở vịt Cỏ tỷ lệ đẻ là 69,99% năng suất trứng là 254,97 quả/mái/52 tuần đẻ.
Tỷ lệ đẻ bình quân của vịt CV 2000 Layer ở thế hệ thứ 3 đạt từ 69,93 - 72,95% tương ứng với
năng suất trứng là 257,05 - 264,84 quả/mái/năm. Vịt Cỏ cánh sẻ nuôi tại Trung tâm có năng
suất trứng đạt là 258quả/mái/năm (Nguyễn Thị Minh, 2006), vịt Khaki Campbell tỷ lệ đẻ
bình quân 72,39 - 73,69% tương ứng với năng suất trứng là 264,2 - 268,4 quả/mái/năm (Lê
Thị Phiên, 2004).
Như vậy con lai giữa vịt Cỏ và vịt Triết Giang đã phát huy ưu thế lai của bố mẹ về năng suất
trứng, năng suất trứng đã hơn hẳn bố và mẹ. Năng suất trứng của con lai giữa Triết Giang với
vịt Cỏ cánh sẻ, vượt xa cặp lai giữa Khaki Campbell với Cỏ màu trắng, năng suất trứng mới
đạt 216,74 - 220,28 quả/mái/năm (Lê Xuân Thọ, 1998). Vịt lai F1 đực Cỏ x mái Khaki
Campbell là 256,46 quả/mái/năm, đực là Khaki Campbell x mái Cỏ là 253,56 quả/mái/năm
(Trần Thanh Vân, 1998). Con lai giữa vịt Cỏ và vịt Triết Giang có năng suất thấp hơn con lai
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 33. Tháng 12/2011
giữa vịt Cỏ và vịt Triết Giang đã thực hiện được với khối lượng đạt được từ 67,83 - 69,59g,
chỉ số hình thái của trứng vịt lai là 1,38 - 1,40 ở trong khoảng đặc trưng của trứng giống gia
cầm (1,36 - 1,43). Tỷ lệ lòng đỏ từ 35,03 - 36,45%, tỷ lệ lòng trắng 52,15 - 53,29%, và tỷ lệ
vỏ 11,27 - 11,68%. Đơn vị Haugh của trứng đạt tiêu chuẩn trứng giống 86,23 - 92,56.
Khối lượng trứng và chỉ tiêu ấp nở
Qua khảo sát khối lượng trứng và theo dõi ấp nở của vịt lai kết quả được trình bày ở Bảng 7.
Một số tác giả cho rằng mối liên hệ giữa khối lượng cơ thể và khối lượng trứng trong phạm vi
một giống thường những cá thể có khối lượng cơ thể lớn, sẽ đẻ trứng to hơn và ngược lại, vịt
có khối lượng cơ thể lớn thì khối lượng trứng cũng lớn. Theo Sochokacs (1971) tương quan
khối lượng cơ thể và khối lượng trứng được xác nhận r = 0,40. Husky và cs (1986) cho rằng
có tương quan rõ rệt với khối lượng cơ thể r = 0,87 (theo trích dẫn của Hoàng Thị Lan, 1997).
NGUYỄN ĐỨC TRỌNG – Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của con lai giữa vịt cỏ
7
Kết quả tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ phôi của con lai cao, đạt từ 93,04 - 97,78%, tỷ lệ phôi và tỷ lệ ấp nở
của con lai TTC là cao nhất (tỷ lệ phôi đạt 97,78%; tỷ lệ nở/phôi 88,86% và tỷ lệ nở/phôi
86,88%) và con lai TC đạt tỷ lệ nở/tổng số là 82,79%.
Bảng 7. Một số chỉ tiêu ấp nở của con lai
Chỉ tiêu TC CT TTC TCT TG Cỏ
Số trứng vào ấp (quả) 5867 5400 6000 5300 5968 4414
Số trứng có phôi (quả) 5587 5130 5867 5118 5662 4107
Tỷ lệ phôi (%) 95,23 95,00 97,78 96,57 94,87 93,04
Số con nở ra (con) 4857 4361 5213 4382 4837 3499
Tỷ lệ nở/ phôi (%) 86,93 85,01 88,86 85,62 85,43 85,20
Tỷ lệ nở/ tổng (%) 82,79 80,76 86,88 82,68 81,05 79,27
Kết quả nuôi con lai giữa vịt Cỏ và vịt Triết Giang tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát
triển Chăn nuôi miền Trung
Con lai giữa vịt Cỏ và vịt Triết Giang bao gồm 3 loại TC, CT và TTC được nuôi tại Trung
nở/phôi của vịt TC là 88,76% và vịt TTC tỷ lệ đạt cao nhất 91,20%. Kết quả một số chỉ tiêu
năng suất của con lai nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền Trung đạt
cao.
KẾT LUẬN
Màu lông của vịt lai giữa vịt Triết Giang với vịt Cỏ màu cánh sẻ là đồng nhất (màu cánh sẻ
nhạt), màu trung gian giữa màu của vịt Cỏ màu và vịt Triết Giang : có màu lông nhạt hơn vịt
Cỏ, đậm hơn vịt Triết Giang.
Con lai giữa vịt Triết Giang với vịt Cỏ màu cánh sẻ tỷ lệ nuôi sống giai đoạn vịt con và hậu bị
đạt cao 94,74 - 98,95%, khối lượng cơ thể của vịt lai ở các tuần tuổi nằm trung gian giữa vịt
Cỏ và vịt Triết Giang và vịt có độ đồng đều cao.
Tuổi đẻ của con lai TC, TTC và TCT ở tuần tuổi 18, còn CT là 19 tuần tuổi. Tỷ lệ đẻ bình
quân của cặp lai TTC đạt cao nhất 77,66% với năng suất tương ứng là 283 quả/mái/52 tuần
đẻ. Khối lượng trứng của các con lai là cao, đạt từ 68 - 70g/quả, đã cải thiện được khối lượng
trứng của vịt Triết Giang, tỷ lệ phôi và ấp nở đạt cao nhất ở vịt lai TTC và TC.
Con lai TTC và TC cho năng suất cao nhất và ổn định.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lê Xuân Đồng (1994 ). Nghiên cứu mục đích đặc điểm về giống vịt cỏ và khả năng nhân thuần 2 giống vịt cỏ
trắng và cỏ cánh sẻ. Luận án phó tiến sỹ KHNN, Hà Nội.
Lê Xuân Đồng, Đặng Thị Dung, Nguyễn Thị Minh và cs (1997). Kết quả nghiên cứu chọn lọc nhân thuần 2
giống vịt cỏ Việt Nam có màu lông trắng, cánh sẻ đạt năng suất cao. Tuyển tập các công trình nghiên
cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt (1981-1996). NXBNN Hà Nội
Lê Viết Ly, Nguyễn Thị Minh, Phạm Văn Trượng, Hoàng Văn Tiệu (1997). Chọn lọc nhân thuần và bảo tồn vịt
màu cánh sẻ tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt (1981-1996). NXBNN Hà Nội.
Nguyễn Thị Minh (1996). Nghiên cứu chọn lọc nhân thuần và bảo tồn giữ gien dòng vịt cỏ cánh sẻ. Luận án thạc
sỹ KHNN. Viện KHKTNN Việt Nam.
Nguyễn Văn Thiện (1995). Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi. NXBNN Hà Nội.
Nguyễn Đức Trọng (1998). Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở của trứng vịt CV Super M
dòng ông và dòng bà ở Việt Nam. Luận án tiến sỹ KHNN. Viện KHKTNN Việt Nam.
Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Thị Lan, Phạm Văn Trượng, Doãn Văn Xuân, Nguyễn Thị Ngọc Liên (2001). Kết