Đánh giá tình hình phát triển và khảo sát năng suất chất lượng một số giống cỏ trồng trong nông hộ tại huyện EA KAR pot - Pdf 12


TRƯƠNG TẤN KHANH – Đánh giá tình hình phát triển và khảo sát năng suất chất lượng

25

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ KHẢO SÁT NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG
MỘT SỐ GIỐNG CỎ TRỒNG TRONG NÔNG HỘ TẠI HUYỆN EA KAR
Trương Tấn Khanh
Đại học Tây Nguyên
Tác giả liên hệ: Trương Tấn Khanh. Email:
ABSTRACT
Current situation and quantity, quality of some cultivated forages in small hoelder farms at Eakar
districts
The paper was collected information from two study of forage adoption surveys in 2007 and 201, and an
experiment to evaluate the yield and quality of four forage species: Panicum maximum ’Simuang’; Pennisetum
Purpureum ‘Napier’, VA06, Brachiaria ruziziensis x B. decumbens x B. brizantha artificial hybrids. The
objectives study were to evaluate the forage adoption of small livestock keepers and to evaluate the yield and
chemical combines of 4 forage species that high adoption by farmers in the area. The results of study were: 1)
The forage production was sustainable development in Ea Kar, up to 2010, there were 3180 householders planted
forages for their cattle production, 2) The forage species that farmers in Ea Kar selected for their production
were: Panicum maximum ’Simuang’; Pennisetum Purpureum ‘Napier’, VA06, Brachiaria ruziziensis x B.
decumbens x B. brizantha artificial hybrids, Paspalum atratum and Stylosanthes guianensis CIAT 184, 3). The
yield of these forage species were high in intensive production of farmers in Ea Kar (from 56,99 to 64,71 tons of
DM per ha per year, 4) The crude protein content of Panicum maximum at cutting cycle 30 days was highest
(11.02%) compared to other grass species in the experiment.
Key wouds
:
forage adoption, yield, protein
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ea Kar là một huyện nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, diện tích tự nhiên vào khoảng 103.747
ha, dân số 150.000 người, trong đó đồng bào dân tộc ít người chiếm khoảng 25%. Khoảng

artificial hybrids; Panicum maximum ’Simuang’; Pennisetum Purpureum ‘Napier’;
VARISME số 6; Paspalum atratum; Stylosanthes guianensis CIAT 184.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2007 (điều tra sự chấp nhận cỏ trồng trong nông hộ) đến
tháng 12 năm 2010 (tiến hành các thí nghiệm khảo sát năng suất và chất lượng một số giống
cỏ), trong khuôn khổ của dự án “Sự chấp nhận cỏ trồng” do IFAD tài trợ từ năm 2007 – 2010,
tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá tình hình phát triển các giống cỏ trồng trong nông hộ tại Ea Kar đến năm 2010
Khảo sát năng suất, chất lượng một số giổng đang được trồng phổ biến trong nông hộ
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung đánh giá tình hình phát triển cỏ trồng được thực hiện bằng phương pháp điều tra,
phỏng vấn nông hộ trồng cỏ bằng bảng câu hỏi, trong đợt điều tra toàn diện tất cả 255 thôn,
buôn trong huyện về sự chấp nhận cỏ trồng (forage adoption) năm 2007 và đợt điều tra cuối
dự án 2010. Đánh giá năng suất chất lượng cỏ trồng được thực hiện bằng phương pháp bố trí
thí nghiệm trên đồng ruộng của nông hộ. Bốn giống cỏ: cỏ sã, cỏ voi, VA06 và Mulato 2 được
bố trí theo phương pháp phân lô với một yếu tố biến động là giống, các yếu tố phân bón, chu
kỳ cắt… đồng đều như nhau. Thí nghiệm được tiến hành lặp lại 3 lần trên 3 nông hộ khác
nhau. Quy trình phân bón, chăm sóc và thu hoạch thực hiện trong thí nghiệm dựa trên kết quả
điều tra các nông hộ thâm canh cỏ trồng tại địa phương năm 2007.
Các chế độ chăm sóc, phân bón, tưới nước được áp dụng đồng đều như nhau ở tất cả các lô
(theo kết quả điều tra thâm canh cỏ trong nông hộ 2007) như sau:
Thiết lập đồng cỏ: Tất cả các giống đều được trồng bằng hom, bón lót 10 tấn phân chuồng, 60
kg P
2
O
5
/ha, 60kg K
2
O/ha, kích thước trồng cỏ sả: 40cm x 50 cm, cỏ VA06: trồng liên tục

tiềm năng năng suất cao, thích hợp với điều kiện thâm canh cao (Trương Tan Khanh, Nguyen
Ngoc Anh, Werner Stur, 2011).
Bảng 1. Các giống cỏ được trồng và sử dụng trong nông hộ
Các giống cỏ được chấp nhận:
Năm giới
thiệu
Tỷ lệ nông dân
trồng năm 2010
(%)
Phương thức trồng
Panicum maximum ’Simuang’; 2000 100 Thâm canh – thu cắt
Pennisetum Purpureum
‘Napier’;
2000 100 Thâm canh – thu cắt
VA06 2007 46 Thâm canh – thu cắt
Paspalum atratum 2000 22 Thâm canh – thu cắt
Mulato 2 2005 17 Thâm canh – thu cắt
Stylosanthes guianensis
CIAT184
2000 8.66 Thâm canh – thu cắt
Cỏ Mulato 2 là giống có tiềm năng phát triển trong các vùng đất đai kém màu mỡ, hạn hán
nhưng đáp ứng rất tốt với việc thâm canh và cho năng suất khá cao, vì vậy mặc dù mới giới
thiệu năm 2007, nhưng Mulato 2 đang được nhiều nông dân ở các vùng có đất không màu mỡ
chấp nhận cao. Cỏ Paspalum là giống cỏ có tiềm năng năng suất không cao (10 – 15 tấn
VCK/ha), tuy nhiên đây là giống có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện đất chua và úng
nhẹ (W.W. Stur, P. M. Horne và cộng sự, 2003) nên cũng được nông dân ở các vùng có điều
kiện tự nhiên như trên chấp nhận khá cao. Cỏ họ đậu stylo184 là giống cỏ đậu có thể sinh
trưởng trên nhiều loại đất khác nhau, kể cả đất chua phèn nhẹ, có hàm lượng protein cao, tuy
nhiên cỏ có năng suất thấp hơn các giống hòa thảo, khó thu cắt… nên vẫn chưa nhiều nông
dân trồng và sử dụng. Gần đây nhiều nông dân nuôi bò vỗ béo bắt đầu có xu thế trồng cỏ stylo

có hiệu quả kinh tế cao, được đánh giá như là điểm khởi đầu để chuyển đổi chăn nuôi theo
định hướng thị trường (Truong Tan Khanh, Werner, Nguyen Van Ha, 2008). So với năm
2007, số nông hộ trồng cỏ trong huyện tăng lên cả về số hộ và diện tích cỏ trong một nông hộ
(số hộ tăng từ 2407 lên 3180 hộ, diện tích tăng 840 m
2
/hộ lên 1309 m
2
/hộ). Điều này khẳng
định được tính bền vững của cỏ trồng trong hệ thống nông nghiệp của địa phương.
Cỏ trồng được nông hộ sử dụng với các mục đích khác nhau (Bảng 3). Phần lớn nông hộ
(66,48%) trồng cỏ chủ yếu để bổ sung thêm thức ăn xanh cho bò vào ban đêm sau khi chăn
thả, hoặc những ngày không chăn thả được, lúc bò cái mới đẻ… một số lượng không nhỏ
nông hộ (8,60%) thâm canh cỏ trồng để vỗ béo bò thịt và 24,91% hộ trồng để nuôi thâm canh
bò sinh sản (Bảng 4). Tỷ lệ cỏ trồng trong khẩu phần thức ăn xanh của các phương thức nuôi
cũng rất khác nhau: nuôi nhốt trung bình 85% (từ 70 – 100%) thức ăn xanh là cỏ trồng, nuôi
bán chăn thả khoảng 60% và trong phương thức chăn thả là 15%.
Bảng 3. Tỷ lệ trồng và sử dụng cỏ trồng trong các phương thức nuôi khác nhau
Phương thức nuôi Nuôi nhốt Bán chăn thả Chăn thả
Mục tiêu chăn nuôi
Chuyên
vỗ béo
Sinh sản thâm canh hoặc
kết hợp sinh sản và vỗ béo
Nuôi sinh sản và sinh
trưởng quảng canh
Số hộ chăn nuôi (hộ) 274 825 8945
Số hộ trồng cỏ (hộ) 274 792 2114
Tỷ lệ nông hộ trồng cỏ
trong hệ thống(%)
100 96 23,63

Giống khác (Stylo, Mulato 2,…) 25 2
Tổng diện tích 1309 100
Theo nhận xét của người chăn nuôi cỏ sả có thể thâm canh để cho năng suất cao, ngon miệng
và chất lượng cao. Tuy nhiên cỏ sả có nhược điểm là cho năng suất rất thấp vào mùa ra hoa từ
tháng 10 đến tháng 11. Cỏ voi và cỏ VA06 có đặc tính tương tự về năng suất nhưng tỷ lệ lá
thấp, ưu điểm cỏ voi là có thể cho năng suất cao quanh năm nếu được tưới nước, bón phân
đầy đủ vì vậy có thể khắc phục được tình trạng năng suất thấp của cỏ sả vào tháng 10 và tháng
11.
Kết quả điều tra về diện tích cỏ cần thiết cho một đầu gia súc trong sản xuất nông hộ (Bảng 5)
cho thấy: bò nuôi vỗ béo cần diện tích cỏ trồng là 830 m
2
/con để đảm bảo cung cấp 85% thức
ăn xanh từ cỏ trồng trong khẩu phần hàng ngày, tương tự bò sinh sản cần khoảng 540 m
2
cỏ
thâm canh cho mỗi con để đảm bảo cung cấp 60% thức ăn xanh từ cỏ trồng.
Bảng 5. Trung bình diện tích cỏ trồng để nuôi một con gia súc (m
2
/con)
Chỉ tiêu Đơn vị Nuôi sinh sản thâm canh Nuôi vỗ béo
Diện tích cỏ trung bình m
2
1110,90 3114,00
Số gia súc trung bình Con 2,05 3,75
Trung bình diện tích cỏ trên một
con bò (m
2
/con)
m
2

các giống cỏ trong điều kiện thâm canh nông hộ (sẽ trình bày trong phần sau).
Bảng 7. Một số chỉ tiêu thâm canh cỏ trồng của nông dân tại Ea Kar
Chỉ tiêu Quy trình
Vật liệu gieo trồng Hom và chồi: 5 - 8 tấn/ha
Hạt: chỉ gieo từ hạt đối với cỏ Stylo184: 3 – 8 kg/ha tùy theo cách gieo,
ương
Khoảng cách trồng
(bụi x hàng)
Cỏ sả, Mulato 2: 40cm x 50cm; 30cm x 50cm; cỏ voi trồng liên tục hàng
cách hàng 70cm
Chu kỳ cắt Trung bình 30 ngày (25 – 40 ngày)
Chiều cao cắt Trung bình 5cm (từ 3cm – 10cm)
Phân bón Phân chuồng: 5 – 10 tấn/ha/năm, phân lân: 200 – 300kg/ha/năm, Kali:
100 – 150kg/ha/năm, trung bình 120 kg urê/lứa cắt/ha (từ 100 – 150 kg)
Tưới nước Tưới đủ nước trong mùa khô
Phương thức sử
dụng
Thu cắt và cung cấp cho bò tại chuồng
Năng suất, chất lượng một số giống cỏ chủ yếu
Thí nghiệm chỉ tiến hành trên 4 giống cỏ trồng phổ biến trong nông hộ là cỏ sả, cỏ VA06, cỏ
voi và cỏ Mulato 2.
Năng suất xanh của cả 4 giống cỏ trong thí nghiệm đều rất cao khi được thâm canh (Bảng 8),
trong đó cỏ VA06 cao hơn cả (đạt 314 tấn/ha/năm) trong điều kiện bón 50 kgN/ha và tưới
nước trong mùa khô, tiếp đó là cỏ voi (332 tấn/ha/năm), cỏ sả (314 tấn/ha/năm) và thấp nhất
là cỏ Mulato 2 (172 tấn/ha/năm). Có lẽ đây là tiêu chí quan trọng nhất để nông dân tập trung
chọn lựa ba giống cỏ VA06, cỏ sả và cỏ voi để phát triển trong sản xuất trong điều kiện thâm
canh. Sự sai khác về năng suất của 4 giống cỏ này là có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Năng
suất cỏ trong thí nghiệm này của chúng tôi cao hơn so với các kết quả nghiên cứu tại Đồng

TRƯƠNG TẤN KHANH – Đánh giá tình hình phát triển và khảo sát năng suất chất lượng

Thành phần hóa học của cỏ trồng trong thí nghiệm
Bảng 9. Thành phần hóa học của một số giống cỏ
Giống
Tỷ lệ VCK
(%)
Protein thô
(%)
Lipid thô
(%)
Xơ thô
(%)
DSKNT
(%)
Kh TS
thô (%)
Cỏ sả 18,15 11,02
a
1,24 31,94 43,27

12,53
Mualato 19,23 10,64
a
2,00 32,17 43,07

12,12
VA06 16,34 8,75
b
1,80 36,01 42,19

11,25

Năng suất vật chất khô của các giống cỏ sả, Mulato 2, VA06 và cỏ voi tương ứng là 56,99;
33,08; 64,71; 58,13 tấn/ha/năm (Bảng 10).
Bảng 10. Năng suất VCK của cỏ với chu kì cắt 30 ngày
Giống cỏ NS VCK SE NS protein SE
(tấn/ha/năm) (tấn/ha/năm)
Cỏ sả 56,99
a
0,122 6,28
a
0,025
Cỏ Mulato 2 33,08
c
0,074 3,52
b
0,010
Cỏ VA06 64,71
b
0,148 5,66
c
0,022
Cỏ voi 58,13
a
0,132 5,30
c
0,021
Tiềm năng năng suất các giống cỏ sả, Mulato 2, VA06 còn có thể thâm canh cao hơn nữa để
thu năng suất cao, tiềm năng năng suất của cỏ voi có thể đạt tới 85 tấn VCK/ha/năm, cỏ sả 60
tấn VCK/ha/năm (Bruce Cook và cộng sự, 2005), tuy nhiên cỏ Mulato 2 trong thí nghiệm này
đã vượt quá năng suất của giống (28 tấn VCK/ha/năm) ghi trong Tropical factsheet (Bruce
Cook và cộng sự, 2005). Điều này cho chúng ta nhận xét mức đáp ứng của Mulato 2 với phân

Công nhận kết quả nghiên cứu nói trên, phát triển cỏ trồng trong nông hộ nhỏ tại các vùng
khác nhau. Tiếp tục nghiên cứu chọn lựa các giống cỏ thich nghi và phù hợp với các vùng đất
kém màu mỡ, đất chua phèn tại Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đông, 2007. Xác định cơ cấu thích hợp trong cơ cấu sản xuất
cây thức ăn xanh và phương pháp phát triển cây họ đậu cho chăn nuôi bò sữa tại các vùng sinh thái khác
nhau. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi 2007.
Nguyễn Thị Hồng Nhân, Nguyễn Văn Hớn, Nguyễn Thiết, Nguyễn Thị Mùi (2006). Khảo sát khả năng thich
nghi, sinh trưởng và tính năng sản xuất cỏ Paspalum atratum tại Đồng bằng sông Cửu long. Báo cáo
khoa học Viện chăn nuôi, 2006.
Hoàng Đức Trường, Nguyễn Trung Thịn, Cao Cự Cường, Đoàn Trọng Tấn, Lê Hòa Bình, 2005. Nghiên cứu
chọn lọc và nhân giống cây thức ăn chăn nuôi tại tỉnh Bình Định. Báo cáo khoa học Hội đồng Chăn
nuôi 2005.
Bruce Cook, Bruce Pengelly, Stuart Brown, John Donnelly, David Eagles, Arturo Franco, Jean Hanson
4
,
Brendan Mullen, Ian Partridge, Michael Peters, Rainer Schultze-Kraft. 2005. Tropical Forages: An
Interactive Selection Tool.

o/key/Forages/Media/Html/About_us.htm
Le Hoa Binh, Truong Tan Khanh, 1998. Forage species selection in Viet Nam. Proceeding of the third regional
meeting of the forage for smallholder project help at the Agency for livestock services of East
Kalimantan, Indonesia. 23 – 26 Mach, 2008. P.p. 138.
Truong Tan Khanh, 2008. Forage adoption report 2007. FAP project’s document 2008.
Trương Tan Khanh, Nguyen Ngoc Anh, Werner Stur (2011). Forage scalling up in Vietnam. Technical Advisory
for IFAD.
Truong Tan Khanh, Werner Stür, Nguyen Van Ha, 2008. Planted forages – Enabling improved smallholder cattle
production in Ea Kar, Daklak, Vietnam. Proceeding of the 13th Animal science congress of the Asian-
Australian Association of animal production Theme: Animal Agriculture and the role of small holder
farmers in a global economy”. Hanoi - Vietnam September 22-26, 2008.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status